TIN TỨC
  • Truyện
  • Một đời thương nhớ | Thùy Như

Một đời thương nhớ | Thùy Như

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-11 08:08:44
mail facebook google pos stwis
1456 lượt xem

 CUỘC THI TRUYỆN NGẮN HAY 2022

THÙY NHƯ

Cứ chiều chiều ba lại đi ra cái ao sau nhà, mùa này mặt ao nở đầy bông súng tím. Nhớ bữa nào đó ông gọi “Bà nó ơi, bà dỡ mắm kho, để tôi nhổ mớ bông súng với bẻ bông lục bình chấm ăn nhen bà”. Vừa dứt câu, ông thẫn người ra, còn phía nhà, tự dưng im thin thít tiếng người, cả ngọn gió cuối ngày đương lao xao mái lá cũng dừng trêu nhau, nghe lẫn trong sự yên ắng có cả tiếng sụt sùi cố giấu. Chị Hai lấy tay quẹt đôi mắt rưng rức đỏ, gỡ que tre đè lên hũ mắm cá sặc tát đìa mùa rồi, nhóm lá dừa dưới mấy thanh củi gác qua gác lại trong cái lò đất, nồi mắm liu riu thoang thoảng tỏa hương quyện với mùi khói trầm ấm bịn rịn bay lên thổn thức. Anh Hai bật dậy từ võng, mắt trân trân vào vách, như thể anh nhìn xuyên qua nó và thấy được hàng bạch đàn bao quanh chỗ ba mình đang đứng.


Tranh: Internet

Cái ao vẫn yên vị từ thuở nào, vơi rồi đầy theo mùa mưa mùa khô của quê xứ. Có hôm ngó ra ao xanh gờn gợn, có hôm thì tím miên man. Má thường ngồi nơi cầu ao sau buổi làm đồng rửa tay rửa chân, vò vội cái áo cái quần qua nước ao cho đỡ sình. Hôm rảnh, má nấu cơm nguội với cám thả vào ao cho cá ăn, má cứ như chị Tấm từ câu chuyện cổ tích xa xôi. Mỗi lần bơi xuồng giăng lưới thấy bầy lòng ròng, ba đều vớt thả vào ao, nhờ cám má nuôi lớn, để hôm giỗ quảy bên nội bên ngoại có cái đem sang thêm món cúng. Con má, từng đứa một bì bõm với cái bẹ chuối trong ao trước khi được ba cho ra kênh vùng vẫy, cũng ngồi đây để rửa sạch bùn đất mà trưởng thành, còn má ngồi đây in bóng lưng mình dần còng xuống. Đám bạch đàn cao lêu khêu, trưa trưa ríu ran tiếng chim chóc, ba mắc võng ngoài đó, ba má ngủ trưa, nghe radio phát bài ca cổ. Hồi tóc trắng như mây, sàn là nơi má gỡ búi tóc cuộn tròn mượn từ tóc đứa con gái út, mắt ngó thằng cháu nội rượt bầy vịt xiêm lạch bạch xuống ao. Bọn trẻ đi đâu xa nhà, về tới là chạy ù ra ao, lăn qua lộn lại trên cái võng, ngó tổ chim má kể, nhìn ngôi nhà thân yêu từ phía sau, và hơn cả là thấy má ngồi nhổ tóc sâu cho ba, rồi bị má vỗ vào vai mắng “Cha bây, về mà không cho má biết!”.

Má mang bầu 6 lần, nhưng chỉ 5 đứa được bao bọc trong vòng tay má. Anh Hai 3 tuổi thì má sinh anh kế, duyên phận má con với anh chỉ ngắn ngủi vỏn vẹn 9 tháng trời. Má không sinh tại nhà như lúc sinh anh Hai mà được chuyển ra trạm xá vì sinh khó, rồi má được chở ra huyện. Lần đó tưởng như anh Hai phải mồ côi má, bởi má đứng ở lằn ranh sinh tử, tính không qua khỏi. Cả bệnh viện không quen biết vậy mà vẫn tiếp từng chút máu để cứu lấy một bà mẹ vừa chịu mất con. Ba nói ba mang ơn những người đã giữ má lại cho ba, nên ông dành cuộc đời mình để đền đáp, dẫu chẳng giàu có hơn ai, chỉ cần nghe có người cần giúp đỡ, ông sẵn sàng sẻ chia không tính phần hơn thiệt. Má trở về từ bệnh viện, sau cuộc giành giật với tử thần, nỗi đau của người mẹ đi sinh về không có con ai thấu, đứa con đó không xuất hiện trong thứ bậc gia đình, không ai nhớ mặt gọi tên, nhưng vĩnh viễn là con má, là đứa con như những đứa má đã ôm vào lòng. Má ray rứt mãi vì 2 má con chỉ giữ được 1, dù bác sĩ nói anh đã chết trước khi ra đời, má vẫn nghĩ là lỗi do mình, để cứu mình mà bác sĩ phải lựa chọn như thế. Hàng bạch đàn mọc nơi bờ ao vốn dĩ ba trồng lấy gỗ, song sau ngày má cột dây vải trắng lên thân cây gần sàn nước nhất, cây theo thời gian vươn nhánh, không một dao búa nào chạm vào, ba không giữ một cây, ba giữ tất cả để kiên vững cho người. Hồi cây còn nhỏ, gặp đợt bão to, ba cắm cọc kiềng cố sợ cây ngã, cũng như thể sợ vết thương của bà vợ nứt toạc. Bởi ba cùng má trải qua ngày tháng bi ai nhất, một tay ba chăm má, chăm anh Hai, ba đau mà vờ như không, tại nỗi đau của má lớn hơn.

Cứ ngỡ giữ cây để buổi chiều buông má thắp nhang bàn thờ ông Thiên rồi vòng ra sau nhà cắm nơi gốc bạch đàn một nén nhang, ký ức buồn nhất theo đó ngủ yên nơi tim người, không quên cũng không còn nhói. Nghiệt ngã thay, 16 năm sau, chị Tư 10 tuổi, chị vuột khỏi vòng tay má. Má chạy mà đôi chân như không chạm đất băng qua cánh đồng, nơi mà đứa nào vừa thở dốc vừa báo chị Tư bị rắn cắn nằm ngoài ấy. Ba vứt chiếc xe đạp ngay bờ rào, hộp hớt tóc dạo miễn phí đổ tung, gấp rãi hướng hai má con, không kịp nữa, chị Tư trên tay má tím bầm. Ba dìu má bước thấp bước cao về nhà, rối rắm làm cái đám cho con, mắt lâu lâu trông chừng người vợ đang vô hồn bên quan tài con. Nhớ lại, tôi và con Út cũng khóc nheo nhóc sau lưng má. Sau này có con rồi tôi mới thấm thía một phần bi kịch má trải qua, làm sao má có thể tròn trách nhiệm với anh em tôi khi má ôm vết thương quá lớn, nó đủ làm suy sụp một con người, đủ đẩy người ta vào cùng quẫn. Chúng tôi may mắn có ba có má trên chặng đường trưởng thành dẫu má từng trải qua khoảng thời gian bất định về tinh thần. Má là ưu tiên lớn nhất của ba, sự bao dung của ba vô bờ bến, từng chút một bên má an ủi, xoa dịu con sóng dữ dội cào xé tâm tư má. Ba dạy chúng tôi yêu má, yêu cả vết thương mà má đang mang. Nhờ đó, má bình tâm trở lại, cùng ba đi thêm chặng đường dài, lấy niềm vui bên con cháu khỏa lấp nỗi buồn.

Cạnh gốc bạch đàn cầu ao là mộ chị Tư, theo năm tháng cây lớn rợp bóng mát che chỗ chị nằm, sớm thoảng hương hoa, trưa chim cất giọng, chiều gió hát vỗ về. Cái ao được đào lại không biết bao nhiêu lần vì lòng ao cứ đầy lên, cái sàn cũng làm lại mỗi lúc cái cũ lung lay, chỉ để cho má ngồi gỡ tóc nghe cá quẫy. Một ngày mưa như trút, má theo mưa về đất, nước ao ngập tràn qua bờ, con cá rô lóc vào tận vách nhà xèn xẹt. Ông trời chắc cũng xót xa cho một kiếp người dẫu sống vui với chồng con vẫn âm ỉ đau mà không còn sức thốt thành lời nên ổng mưa hoài không tạnh. Người thân trùm áo mưa đưa má đi chuyến cuối cùng. Má yên giấc bên cạnh chị Tư, dưới tán bạch đàn má thương như con che chở, khép lại bao nhiêu trăn trở nhọc nhằn. Những nỗi đau đã cùng người vào hư vô, xoa dịu bằng cuộc hội ngộ mà không ai biết được. Mấy ngày nước rút, ba đi quanh bờ, nhặt mớ bông súng nằm rạp trên đất đem trả về ao để nó tiếp tục nở bông hoa tím biếc.

Chị Hai nhắc lúc chị mới về làm dâu, lần đầu tiên chuẩn bị giỗ chị Tư, chị chở má đi chợ, thấy má mua hai bộ đồ nam nữ, chị thắc mắc thì má bảo má mua cho anh kế (tôi gọi như thế vì anh không có thứ). Từ đó nhà tôi gìn giữ lời má dặn như một thói quen. Má yếu dần đi, chị Hai thay má quán xuyến chuyện nhà, chưa bao giờ chị quên mình có một người em chồng không có tên, chị vẫn dạy sắp nhỏ thắp thêm cây nhang cho chú. Chị nói chị sẽ nhớ dùm má để nhắc nhở con cháu, người khuất chỉ sống trong tâm trí người còn sống, huống chi người nằm đó có máu mũ với mình. Trời ơi, không nói chắc người ta tính chị là con ruột của má, sao mà giống má quá chừng. Càng ở với má lâu, tôi càng thấy dáng dấp má nơi chị, y chang hồi má còn trẻ, hồi còn ngồi cầu ao chà đôi chân lội ruộng, còn bắt chí cho tôi. Phải thôi, chị làm dâu má 20 năm còn gì. Chị chỉ khác má chổ không mặc áo bà ba, cũng không ra sàn chùi rửa gì nữa, giờ nước bơm từ giếng lên tiện hơn nhiều. Chị nhỏ nhẹ với anh Hai, không cầm roi đánh con đầu làng cuối xóm, chị thương nhà chồng như nhà ruột, em chồng sinh thì đi nuôi, cháu chồng về nghỉ hè chị chăm từng bữa ăn giấc ngủ. Chị chân thành với mọi người như cách má đã sống.

Nhà không còn má, tự dưng chỗ nào cũng vắng, vắng nơi bộ bàn trà sớm cùng ba, vắng trên con đường đi tập thể dục buổi tinh mơ. Vắng chỗ chái bếp má đặt 2 cái lò 3 ông Táo để nấu nồi cơm có nước cơm ăn kho quẹt, chị Hai quen rồi nên vẫn bỏ bê nồi cơm điện trong góc tủ. Mà buồn nhất có lẽ là bờ ao kia, đâu còn má ngủ trưa, đâu còn má vấn mái tóc lơ thơ, hơn cả không ai gọi đến má như dạo ba nhìn bông súng mà nhắc má kho mắm, con cháu không ới vọng về phía ao tìm má tìm bà nữa. Không má, tụi nhỏ ít ra đó, tụi nó đâu có rửa chân, đâu có biết mặt cô Tư dì Tư, đâu biết nhìn cây nhớ người, chỉ gắn kết vì có bà mà thôi. Cái sàn đã sập, anh Hai không bắt lại, còn ai ngồi đâu mà bắt, mặc kệ mớ cây mục rã vào ao, nhổ lên buồn lắm, mà cắm lại buồn ác thêm, nên thôi. Như má giữ nỗi nhớ anh kế, chúng tôi không giữ nơi má ngồi trong mắt, chúng tôi dành một phần tim mình để khắc lại. Chỗ má và chị Tư nằm, bình yên dưới một mái nhỏ đủ che nắng che mưa, con cháu tụ tập nơi đó lau dọn, trồng hoa, thủ thỉ chuyện vui buồn với má. Mùa nóng ba vẫn ra võng đong đưa, mở bài vọng cổ người xưa cho má nghe cùng. Hai cái võng mắc chỗ cũ như má chưa từng rời đi.

Ba đi trong bóng chiều, lọn khói thuốc quẩn quanh làm nỗi cô đơn dài đăng đẳng. Tôi về trước ngày giỗ má ít hôm phụ anh chị Hai chuẩn bị, mỗi lần nhìn ba là một lần thảng thốt, ông già đi nhanh quá, nhanh đến độ gieo thành nỗi sợ cho chúng tôi. Dường như hết thảy mọi thứ ông cố gánh gồng thay má, cố kìm nén để cho má nương tựa vì sự ra đi của má mà thành giọt nước tràn ly, chúng làm ông bị quật ngã. Mới hồi nào còn dìu má, dắt má qua cầu, giờ những bước chân ông liu xiu, cơn đau khớp hoành hành. Vậy chứ chỉ những ngày mưa mới ngăn ông ra thăm má. Tôi cũng đi qua nửa đời người, tự hỏi liệu mai này mình già nua, ông chồng có còn thương như ba thương má? Rồi nghĩ lại mình đâu được giống má, bỏ hết vinh hoa của tiểu thư nhà giàu theo ba sống đời cơ cực, hết mực dịu dàng với chồng con; mình mắng con, giận chồng như cơm bữa, thôi thì nửa đời còn lại gáng học má, để còn thương nhau đến bạc đầu.

Chị Hai đưa tôi xem qua cái danh mục đồ đạc, toàn món má thích lúc sinh thời, còn cả hai bộ nữ một bộ nam quần áo giấy. Chị hỏi tôi coi có thiếu gì thì thêm giúp chị. Chị chu đáo vậy đó, đã thay má làm chủ gia đình nhiều năm, còn tôi là đứa đã gả đi, chị vẫn tôn trọng từng đứa em, lắng nghe từng ý kiến. Nên dẫu sống dưới mái nhà khác từ lâu, chúng tôi không thấy xa lạ khi đặt chân về nhà; mấy món má hay làm cho tụi con cháu chị nhớ hết, chính tay chị nấu cho chúng tôi, bằng cách đó chị làm cho sợi dây kết nối tình thâm không đứt quãng khi má mất rồi. Hôm qua tôi mở tủ thấy mấy hộp bánh bông lan, bánh kẹp cuốn, chị làm cho tôi và con Út đem theo sau ngày giỗ má. Chị nói chị học má cách yêu thương những người cùng mình góp nên hai tiếng gia đình.

 Tiếng ba ho khụ khụ phía sau nhà cắt ngang cuộc trò chuyện của hai chị em, trời đã nhuộm tối và bắt đầu trở lạnh. Người già như ngọn đèn treo trước gió, đã vậy còn là người âm thầm gánh nhiều nỗi niềm, con cháu chỉ dám mong mùa gió nhẹ nhàng hơn. Chúng tôi ngó ra hàng bạch đàn đang reo, bóng lưng ba còng xuống buồn thiu. Anh Hai khoác áo ấm lên vai ba, khẽ dìu ba đứng dậy. Tôi chợt nhận ra anh Hai cũng gần chạm mốc 50, tóc đã ngả màu. Anh ở cạnh ba má lâu hơn, hiểu sâu sắc chuyện buồn của gia đình hơn tụi em, nên anh cũng mạnh mẽ hơn để cho bọn trẻ chỗ dựa. Thời gian khắc nghiệt làm sao, chớp mắt chúng tôi đều đã không còn là những đứa trẻ ngụp lặn trong ao, người ngồi trông chúng tôi tắm cũng không còn ở đó. Nước mắt tôi chảy thành dòng, lòng đầy ắp nỗi sợ, còn bao lần được nhìn thấy những người trước mắt mình.

Tôi đỡ tay ba, gân guốc dưới làn da nhăn nheo, đôi tay một đời nắm lấy tay má, chống đỡ bầu trời cho má. Ba ở với anh chị Hai, ba còn chúng tôi, nhưng tôi cảm như ba đơn độc lắm. Ba một mình nằm võng, ba một mình nhổ cỏ, ba một mình uống trà, một mình ra vô. Con cái dẫu gì cũng có việc của nó, không thể suốt ngày cạnh ba như má. Thương ba nhiều nhưng không biết làm sao chia sẻ tâm tư cho ba bớt nặng. Nên những chiều như chiều nay, con cái chỉ lặng dõi theo bước chân ba chầm chậm ra bờ ao, lặng lẽ chờ ba tạm dừng cuộc trò chuyện âm thầm với má rồi chờ ba vào nhà. Ba lặp lại chuỗi ngày như má trên đoạn đường quen thuộc, đoạn đường đó in vào lòng con cháu. Giống cách ba và chúng tôi giữ má bên mình, chúng tôi giữ ba những năm tháng ít ỏi còn lại, nhưng chúng tôi biết, dẫu ba ở đây với chúng tôi, nhưng tâm tư ba đã đi cùng với má lâu rồi.

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TPHCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hận thù và Yêu thương – Truyện ngắn Đông Sơn Lữ Khách
Có những vết thương chiến tranh tưởng chừng đã ngủ yên trong ký ức, nhưng chỉ cần một ký hiệu, một hình xăm, một cái tên… tất cả lại ùa về như ngày hôm qua. Thế nhưng, giữa bóng tối ấy, tình yêu của một chàng trai Việt và một cô gái Hàn đã thắp sáng hi vọng – hi vọng rằng hận thù rồi cũng sẽ nhường chỗ cho yêu thương.”
Xem thêm
Kịch hay – Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân
Vài tấm hình được quăng trên chiếc bàn kính, bên trong hiện rõ hình hai người dường như có cảm giác đang tựa vào nhau nhưng vẫn còn do dự vì bị sự ràng buộc bởi miệng lưỡi của người đời. Bóng chiều tà từ từ đổ xuống khung cửa sổ bằng kính của ngôi nhà sang trọng. Thứ ánh sáng cuối ngày có màu hồng đậm vẫn kịp hắt vào khiến đôi mắt người phụ nữ đột nhiên cũng ửng hồng và bắt đầu đong đầy hoàng hôn trong đó.
Xem thêm
Lời thề sinh tử - Truyện ngắn của Phạm Thanh Thúy
Thuôn không muốn lão Nhạc vào nhà. Lão Nhạc già lụ khụ, ăn mặc lôi thôi, dù con cái lão cũng chẳng đến nỗi nào.
Xem thêm
Người đến từ nghìn trùng – Truyện ngắn Chu Phương Thảo
Tôi sinh ra ở một làng chài nhỏ, nơi những triền cát trắng kéo dài đến tận chân trời, nơi gió và sóng chạm nhau cùng thì thầm những bản tình ca êm dịu. Tuổi thơ tôi trôi qua như một giấc mơ dịu ngọt, vắt qua những buổi chiều vàng nắng, theo tiếng cười hồn nhiên vang vọng bên những mái nhà thấp thoáng khói lam chiều. Cuộc sống tuy chật vật, nhưng lòng người nơi ấy rộng như biển cả, ấm như nắng sớm.
Xem thêm
Trôi trên sông trăng – Truyện ngắn Vừ Thị Mai Hương
Mưa sầm sập. Mưa ào ào. Ánh trăng loang loáng trong làn mưa, vỡ tan trong ánh chớp. Trong màn đêm tối đen mịt mùng, xung quanh chỉ vọng lại tiếng nước đổ ào ào từ trên núi xuống. Tiếng bước chân chạy uỳnh uỵch trong đêm.
Xem thêm
Phán chấu. Truyện ngắn của Nông Quốc Lập
Tiếng gọi cầu cứu của thằng Bun như xé toang khoảng không gian ra thành nhiều mảnh. “Cứu cái gì, cứu ai, cháy nhà à, giết người à, rắn cắn à…?” Tiếng những người làng hỏi nhau, những cặp mắt tròn xoe, ngơ ngác. Dù không biết chuyện gì xảy ra với nhà Bun, nhưng khi nghe tiếng gọi cứu thì ai cũng ra khỏi nhà hướng về nơi có tiếng gọi.
Xem thêm
Bông bí vàng trên giàn mướp hương - Truyện ngắn Phan Thành Đạt
Hưng rón rén bước lên thềm, gõ cửa. Không ai đáp. Chỉ có tiếng chim trên giàn, tiếng cá quẫy nhẹ dưới ao. Giữa khung cảnh ấy, hình ảnh một cậu trai thành phố đứng giữa sân quê bỗng trở nên bé nhỏ, lạc lõng – nhưng cũng là khởi đầu cho một mùa hè không giống bất cứ mùa hè nào trước đó.
Xem thêm
Người đàn bà vẽ tranh kiếng – Truyện ngắn Lưu Kiều Nhi
Tôi về đến nhà đúng lúc ba và chị Hai đang hì hục đem mớ tranh kiếng của má ra cất ở nhà kho phía sau. Tôi biết ngay là má có việc đi đâu đó nên hai người họ mới cả gan đến thế. Chị Hai nói má không chịu ở nhà nghỉ dưỡng bệnh, lại lén đi lặt cuống ớt với mấy người đàn bà trong xóm. Ba cười hiền lành bảo: Kệ bả. Bắt bả ở nhà hơn bắt cóc bỏ dĩa. Lại phụ ba một tay, dọn cho xong đống nợ này đi bây!
Xem thêm
Án ma ni thiên ý - Truyện ngắn Ny An
Ở gần cuối xã Xay Xát, đi qua khỏi con dốc sỏi đá bụi bay xám mặt sẽ tới Quán Phật. Hai lùm thiết mộc lan um tùm đứng trước ngõ hút tài lộc, nở bông ngào ngạt mỗi tối. Quán Phật nằm giữa khu vườn thuốc nam, lắp camera từ ngõ vào tới cửa và phòng khách. Bờ tường gắn lưới thép B40 ngăn khu vườn với dải cát trắng trải dài đầy dứa dại, cây bụi và xương rồng gai nhọn tua tủa.
Xem thêm
Một ngày không xảy ra chuyện gì. Truyện ngắn của Wayne Karlin
Dịp kỷ niệm 50 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam, năm 2025, nhà văn Wayne Karlin ở tuổi tám mươi đã viết truyện rất ngắn “Một ngày không xảy ra chuyện gì”, đăng trên báo Washington Spectator với lời giãi bày: “Quãng thời gian tồi tệ nhất mà tôi phục vụ trong lực lượng lính thủy đánh bộ là thời tham chiến ở Việt Nam. Và thời gian đẹp đẽ nhất cũng chính là khi tôi tiếp tục kết nối với đất nước Việt Nam (kể từ sau chiến tranh)”.
Xem thêm
Hoàn lương - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Khải ôm cái túi vải trên tay, bước ra khỏi cổng trại giam, Khải ngước mặt nhìn lên trời, khoảng trời bao la, trong xanh với những tia nắng đầu ngày tỏa dịu ấm áp, bầu trời bên ngoài cổng trại giam rộng lớn hơn nhiều so với khoảng trời bên trong khuôn viên của khám, dù có những lúc phạm nhân ra ngoài lao động thì cũng không thấy mênh mông đến vậy.
Xem thêm
Miếu thiêng – Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Đà Lạt! Chiều xám đặc, ánh sáng dường như không len nổi qua ngôi miếu bỏ hoang, nhiều năm âm u với những mảng cỏ dại phủ đầy dưới chân, xung quanh là những tầng cây rậm rịt. Bóng tối như trở thành điểm đặc biệt ở nơi này, và một điều nữa là, chẳng ai bén mảng đến đây, bởi không gian lạnh toát và ám mị.
Xem thêm
Công chúa Ngọc Anh – Truyện lịch sử của Nguyễn Thị Việt Nga
Công chúa Ngọc Anh bước ra khỏi cổng chùa Thiên Mụ thì dừng bước. Gót hài hoa di nhẹ lên bậc đá dẫn xuống đường. Nàng thẫn thờ nhìn dòng Hương xanh ngăn ngắt phía dưới đang lững lờ trôi. Giây lát, đôi mắt trong veo lại hướng lên phía dãy núi điệp trùng.
Xem thêm
Thư gửi nhà văn - Truyện ngắn của Đặng Chương Ngạn
Truyện ngắn đăng trên “Viết & Đọc” chuyên đề Mùa Hè 2025
Xem thêm
Luân hồi - Truyện ngắn Nguyễn Đức Hạnh
Truyện ngắn Luân hồi của Nguyễn Đức Hạnh là một bản giao hưởng đầy ám ảnh về sự trả giá của phản bội và sức mạnh vĩnh cửu của lòng trung thành.
Xem thêm
Biển Hồ mênh mông - Truyện ngắn của Đặng Chương Ngạn
Hành trình tìm nhau giữa nghịch cảnh và nỗi đau không biên giới
Xem thêm
Màu áo xanh - Truyện ngắn của Trần Hà Yên
Truyện đăng Văn nghệ Công an & Công an Nhân dân điện tử
Xem thêm
Hương trầm - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
Nguồn: Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam số 35 tháng 4 năm 2025, trang 26.
Xem thêm