TIN TỨC
  • Truyện
  • Chùm truyện ngắn của nhà văn Cao Chiến

Chùm truyện ngắn của nhà văn Cao Chiến

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-02-20 14:11:59
mail facebook google pos stwis
1427 lượt xem

1. Người yêu tớ đẹp nhất trung đoàn

Khương quê ở Vĩnh Phúc. Sau khi xuất ngũ, anh đi học rồi vào Thành phố Hồ Chí Minh làm báo. Tôi biết Khương năm tám chín, lúc anh ba mươi mốt tuổi. Người đàn ông cao lớn, trắng trẻo, râu quai nón xanh, trông rất hào hoa, nam tính. Một buổi chiều, Khương gọi cho tôi hẹn đi uống chút gì. Sau khi làm vài ve, Khương đột ngột hỏi tôi:

- Tuần tới ông kẹt gì không?

- Không!

- Không kẹt gì thì đi với tớ!

- OK! - Tôi đáp chẳng cần suy nghĩ.

Ở những năm tám chín, chín mươi, giao thông đi lại chưa thuận tiện như bây giờ. Cuộc hành trình của hai chúng tôi khá vất vả. Nhưng, khi người ta trẻ thì chẳng có gì là không thể. Tôi với Khương đi tàu ra Bắc. Tới Hà Nội lại bắt xe đi tiếp. 

Tôi chỉ có vài bộ quần áo, đi tàu, xe, quăng dưới chân là xong. Nhưng Khương thì không thế, hắn đem theo một ba-lô. Suốt cuộc đi không lúc nào hắn rời tay. Lúc ngủ cũng ôm. Tôi cảm thấy ngạc nhiên nhưng không hỏi. Một người anh tôi từng đi lấy hài cốt, gói ghém vào trong ba-lô, cũng như Khương, ôm hàng ngàn cây số.

Nhà hắn ở Lập Thạch. Phía trước là rừng cọ bát ngát, phía sau là sông Lô mênh mang. Trên đầu bầu trời xanh thẳm. Miền trung du không có nhiều thứ để mô tả nhưng chẳng hiểu sao tâm trạng xốn xang lắm. Vừa chân ướt chân ráo về nhà, mọi người chưa kịp mừng rỡ thì Khương đã nhấp nhổm đi tiếp.

- Mày đi đâu? - Bố Khương thảng thốt.

- Con qua bên nhà Vân một lát! - Khương đáp, rồi ôm ba-lô vọt đi luôn.

Tôi ở chơi nhà Khương sau đó xuống Hà Nội ít ngày rồi lại lên tàu xuôi Nam. 

- Anh khuyên nó lấy vợ giúp tôi! - Bố Khương bảo tôi, giọng buồn buồn khi mọi người chia tay nhau.

- Khương còn trẻ mà! - Tôi trấn an ông già.

- Trẻ cái gì mà trẻ, một đống tuổi rồi đấy! - Ông bố thở hắt ra.

Sau chuyến đi Bắc, Khương lấy vợ. Tôi gặp lại ông già trong đám cưới của Khương tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh. Bố Khương tỏ ra vô cùng mãn nguyện, không ngớt lời cảm ơn các bạn của con. Ông đâu biết không chỉ tôi mà rất nhiều bạn của Khương lúc ấy đều chưa gì.

Vợ chồng hắn không có con. Thể trạng hai người đều bình thường. Tôi biết có vài trường hợp như vậy. Một người em của bạn tôi ở Hà Nội, vợ chồng lấy nhau chục năm chẳng con cái gì, ly hôn đường ai nấy đi năm trước năm sau hai bên đều đề huề. “Phụ nữ có thì..!” - Khương bảo tôi sau khi vợ chồng họ chia tay, giọng buồn buồn.

Do đặc trưng của nghề báo nên Khương lúc ở Nam, lúc ở Bắc, ra vô như đi chợ. Có bài viết nào hay hắn đều đem khoe với tôi. Ở đâu chứ ở trong miền Nam làm báo nói chung kiếm được. Hắn mua căn hộ để bạn bè thỉnh thoảng tụ tập. Nhưng thường thì chúng tôi rủ nhau ra ngoài quán. Ngắc ngư từ chiều đến tối rồi lại từ tối đến đêm. Có vài quán quen, gọi nhau cứ bảo chỗ ấy là biết.

Mười năm sau cuộc chia tay với người vợ đầu, Khương làm tập hai. Không ai có bất cứ manh mối nào về người đàn bà này. “Tớ cũng bất ngờ..!” - Khương bảo tôi. Trước đó một tuần tổng biên tập cử Khương đi Hà Nội tác nghiệp. Hắn gặp người đàn bà, sau vài câu chuyện họ quyết định hôn nhân luôn. Khương báo tin cho mọi người rồi bảo: “Tớ đã làm giấy cho cô ấy căn hộ..!”. Người đàn bà thua Khương hai chục tuổi, trẻ trung và rất xinh đẹp. Ai cũng mừng, thậm chí ghen tỵ với hắn.

Ít ngày sau khi người đàn ông U50 báo tin vợ đã được nhập hộ khẩu thành phố thì họ ly hôn. Tôi chưa thấy người đàn ông nào tốt tính như Khương. Chưa một lần tôi nghe Khương trách vợ. Nhưng tôi biết trong thâm tâm hắn buồn ghê gớm.    

- Ông còn nhớ lần bọn mình về Bắc không? - Một buổi chiều, chẳng biết lúc ấy nghĩ gì, Khương bỗng hỏi tôi.

- Nhớ! - Tôi trả lời, trong đầu vụt hiện lên chuyến đi năm xưa, Khương ôm cái ba-lô như ôm báu vật, lúc ngủ vẫn ôm.

Mãi tới lúc này, sau hai chục năm chơi với nhau tôi mới biết Khương còn một mối tình. Khi làm lính trung đoàn hắn yêu một người cùng đơn vị. Cô gái tên Vân. Nhà chỉ có hai chị em gái. Vân đã đưa hắn về nhà ra mắt bố mẹ. “Vợ chồng tôi chỉ có hai mụn con gái là con Vân với chị nó. Chị của con Vân thì đã lấy chồng và ra ở riêng, tôi nói trước để anh khỏi mất lòng, nếu anh chịu ở rể thì tôi gả con Vân cho, bằng không thì thôi!” - Cha cô gái nói giọng dứt khoát. “Con đồng ý!” - Khương trả lời bố vợ mà mắt lại nhìn người yêu đang cười rạng rỡ.

Sau lần ra mắt cha mẹ Vân, cuối năm 78 Thủ trưởng đơn vị cử Khương đi công tác Hà Nội. Mấy tháng xa nhau Vân viết cho người yêu hàng trăm lá thư.  

- Có ngày Vân gửi hai ba lá, đọc xong là tớ lập tức viết thư hồi âm, thư của Vân thì cất vào trong ba lô treo ở đầu giường ngủ.  

- Ông còn giữ lá nào không? - Tôi hỏi Khương.

- Lần bọn mình đi Bắc tớ đã đưa lại toàn bộ số thư ấy cho chị gái của Vân! - Khương bảo tôi rồi bấm điện thoại gọi đi đâu đó. Tôi đoán là hắn gọi cho chị gái của Vân. 

- Sao? - Tôi hỏi bâng quơ.

- Chị gái của Vân bảo cái ba-lô thư cậu đưa cho chị bị nước lũ cuốn trôi. Bữa ấy mưa lớn, chị với mấy cháu chạy không kịp thì cũng bị lũ cuốn đi rồi! - Khương thở hắt ra.  

Trên đường từ Hà Nội trở lại đơn vị, hắn được tin chốt của trung đoàn bị mất. Hôm ấy Vân ở tuyến sau làm chị nuôi, cơm canh chuẩn bị xong xuôi thì đưa lên chốt. Người nữ chiến sĩ đi băng băng. Anh em mình hẳn đói lắm rồi. “Cơm canh đến rồi các đồng chí ơi!” – Vân gọi to. Nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng.

Vân đã đến gần chốt lắm. “Các đồng chí ơi!” – Cô gọi. Chim rừng dáo dác bay lên, rồi nhô ra mấy cái đầu cua. Cơm canh đổ tung tóe. Trong giây phút hiểm nguy người nữ chiến sĩ giật lựu đạn nhưng không nổ. Khi đồng đội giành lại chốt, chỉ còn xác người đàn bà trần truồng trên vũng máu.

Người nữ chiến sĩ được chôn cất tại nghĩa trang Vị Xuyên. Một lần Khương đã cho tôi coi tấm hình chụp mộ chí của cô. “Lúc nào tớ cũng nhớ Vân, nhắm mắt lại thấy Vân, mở mắt ra thấy Vân, ngồi ăn thấy Vân, ngủ thấy Vân, yêu nhau là thế nhưng tớ và Vân chưa từng hôn nhau mà mới cầm tay, hôm chia tay Vân đi Hà Nội hai đứa không nói được gì mà chỉ nhìn nhau cười!” - Khương thầm thì bảo tôi.   

Cuối 2013, khi đang viết bài cho số báo xuân Khương bị đột quỵ. Mấy người ở tòa soạn gọi cho tôi. Thấy bạn, tự nhiên Khương chảy nước mắt. “Năm ấy Vân mười chín tuổi, người yêu tớ đẹp nhất trung đoàn..!” - Tôi nghe tiếng Khương lao xao như tiếng gió.

 

Nhà văn Cao Chiến

 

2. Cây duối ở mảnh vườn cũ

Cây duối mọc dưới bụi tre um tùm ở cuối mảnh vườn sát bờ sông. Mặc dù cớm nắng nhưng cây duối vẫn xanh mướt, những cái lá răng cưa căng nhựa đâm ra tua tủa. Trưa hè nắng gắt cháy da cháy thịt, tôi ôm manh chiếu cói ra đấy, bữa nào không đem chiếu thì nhặt một cái mo tre lót xuống đất, thế là có buổi trưa mát mẻ, thanh bình. 

Một bữa đi học về tôi thấy ông Hanh nhà ở trong khu Bãi Bay ghé chơi. Thầy tôi và ông Hanh đang uống trà, nói chuyện khá vui vẻ. Thầy tôi hỏi ông cái vó bè có cất được nhiều cá không, ông Hanh cười, bảo cũng tàm tạm. Sông Cầu, ở khúc chảy qua Đồng Bẩm, có mấy chỗ nước lặng dân bản địa gọi là “hờm”, rất tiện để đặt vó bè. Nhiều đêm ông Hanh ngủ lại bè không về nhà. Ngần ngừ giây lát, ông cất tiếng hỏi thầy tôi:

- Mấy bữa nay vợ chồng chú có chuyện gì không? 

- Vợ chồng nhà em bình thường, chẳng có chuyện gì cả! - Thầy tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, nhưng vẫn đáp.

- Vậy là con cái nhà ai nhỉ - ông Hanh lầm bầm như tự lục vấn mình - rõ ràng tôi nghe có tiếng đàn bà khóc, ba hôm nay rồi.

- Ở đâu? – Thầy tôi hỏi, giọng thảng thốt.

- Ở chỗ cái cây duối ấy. Tôi hỏi thì tiếng khóc im bặt, lát sau lại khóc nên tưởng vợ chồng nhà chú có chuyện gì!

Mấy hôm sau đến lượt bà Cá xông nhà. Cũng lại là chuyện nghe tiếng người khóc ở chỗ cây duối. Bà Cá thêm chi tiết người khóc là đàn bà mặc áo trắng nên nghi là mẹ tôi. Đúng là mẹ tôi có sở thích mặc áo cánh trắng. Có vẻ bà hợp với tông màu này.  

- Mày làm gì phật ý con vợ phải không, thôi mau mau tìm cách làm lành đi đừng để nó đêm hôm ra cây duối khóc lóc nữa phải tội! – Bà Cá bảo thầy tôi.

- Vợ chồng em có gì đâu, em nói sai em chết! – Thầy tôi bảo bà Cá.

- Tao đánh mày bây giờ, chết chóc cái gì! – Bà Cá mắng át đi.

Cặp mắt to, rất lanh lợi của người đàn bà chớp chớp, giờ thì bao nhiêu sự ngạc nhiên đã chuyển hết từ thầy tôi qua cho bà. Bất giác bà Cá rùng mình, cảm thấy tay chân ớn lạnh. Tiếng khóc ấy chẳng phải của người thì chỉ có thể là ma. Đêm ấy và những đêm sau bà Cá không giăng câu ở khúc sông mé sau nhà tôi nữa mà bơi thuyền xuống Ba-Đa-Tắc-Kun, cách đó chừng mười mấy hai chục cây số. Ông Hanh thì vẫn thả vó bè ở chỗ cũ, chỉ có một chút thay đổi là tối ông không ngủ bè mà về với vợ con. 

Để tôi nói thêm một tí về bà Cá. Người đàn bà này tên gì tôi không biết nhưng ở Đồng Bẩm mọi người đều gọi là bà Cá. Bà sát cá kinh khủng. Tôi đã từng chứng kiến bà câu cá bống cát, là loài cá tinh khôn bậc nhất sông Cầu. Chả mồi mốc gì cả, bà thả cái dây câu xuống nước và giật. Cứ thế, cá bay lên và rơi vào lòng thuyền của bà. Mẹ tôi bảo tài câu của bà Cá ở Đồng Bẩm chẳng có người thứ hai. Sau này tôi nghe người lớn nói bà ấy chết trong một tai nạn sông nước. Người làm nghề sông nước chết vì sông nước, chẳng biết có phải là sinh nghề tử nghiệp hay không.

Hình như thầy tôi cũng nghe thấy tiếng khóc ở gốc cây duối!

- Mình nghe thấy không? - Người đàn ông hỏi vợ. Nghe chồng hỏi, người đàn bà hơi nghiêng đầu, nhưng rốt cuộc chỉ nghe thấy tiếng cọt kẹt đều đều của mọt đang gặm chân giường.

- Ông hoang đường vừa thôi! – Người đàn bà bảo chồng, giọng hơi gắt.

Một ngày, thầy tôi xách dao ra chặt cây duối. Chặt xong, bỗng dưng không đi lại được. Quanh cổ chân có một vệt thâm như sợi dây thít lại. Thầy đã chỉ cho tôi coi cái vệt thâm ấy.

- Mình đau nhiều không? – Người đàn bà hỏi chồng, giọng vô cùng lo lắng. Mà không lo lắng cũng không được. Thầy tôi là lao động chính trong nhà. Ông đau, không đi làm được, thì lập tức nồi cơm gia đình bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

- Chỉ là không đi lại được thôi! – Thầy tôi nói, tự nhiên mắt ngân ngấn như muốn khóc. Ông bảo từ bữa chặt cây duối, đêm nào ngủ cũng thấy một người đàn bà tầm tuổi trung niên đến đòi nhà. Ông hỏi nhà nào thì bà ta bảo là cái cây duối ông mới chặt đi ấy, rồi khóc.

- Ông chặt cái cây chứ nhà cửa gì, hơn nữa đất của nhà mình chứ có phải của ai mà bảo đòi, để tôi mắng cho bà ta một trận! – Mẹ tôi nói cứng.

Chẳng biết mẹ có mắng người đàn bà ấy không. Đêm ấy, khi tất cả đã chìm vào yên lặng, tôi giật mình thức giấc vì bị lạnh đột ngột. Thầy tôi đã tuột khỏi giường, mở cửa đi lần ra sau vườn. Trong ánh sáng le te của những hạt sao trời, tôi thấy một con đom đóm rất to, tựa hồ như có bóng người, từ bờ sông bay về phía thầy. Thật sự là lúc ấy tôi đã rất sợ. Nhưng thầy tôi vẫn thể hiện sự bình tĩnh.

- Nếu ông muốn tôi chết thì cho chết luôn chứ đừng bắt tội thế này, tôi còn phải đi làm nuôi vợ con!” - Tiếng thầy tôi nghe vẳng trong gió. Con đom đóm bay đi. Cái bóng cũng biến mất. 

Hôm sau thầy bảo tôi con đom đóm tối hôm qua là ông thần đất. Thầy đã xin với ông bảo người đàn bà đi tìm cho mình chỗ khác thay vì cây duối thầy tôi đã chặt rồi.

Một thời gian sau, từ cái cây bị chặt những chồi mới lại đâm lên. Bụi duối bây giờ vẫn còn, thầy mẹ tôi thì đã đi xa. Mỗi khi trở lại mảnh vườn cũ, nhìn thấy bụi duối là tôi lại thấy hình ảnh thầy mẹ mình năm xưa, lại nghe đâu đây giọng nói, tiếng cười ấm áp của họ.

3. Thọ Mùi

Ở Đồng Bẩm có mấy người tên Thọ. Thọ trong câu chuyện này là Thọ Mùi, học cùng lớp với tôi. Gọi Thọ Mùi vì nó là em của anh Mùi, đơn giản vậy thôi. Nhiều người khác cũng vậy. Ví dụ như gọi anh Phúc là Phúc cò, bởi người Phúc gầy nhẳng, khi nói cái cổ cứ vươn như cổ cò. Túm lại gọi như thế chỉ là để phân biệt người này với người kia và giữa những người trùng tên nhau cho khỏi lẫn. Nếu như có người không thích thì thôi, nhưng như tôi thấy thì chẳng ai bày tỏ thái độ gì. 

Thọ lớn hơn tôi mấy tuổi, người cao ráo, trắng trẻo, hát rất hay. Ngày ấy, học trò hơn thua nhau vài tuổi là bình thường. Lớp học vào ban đêm. Mỗi trò có một đèn dầu được nhốt trong hộp gỗ do phụ huynh làm, có cửa kéo lên kéo xuống, ánh sáng lọt ra chỉ vừa đủ rọi trang sách. Khi còi báo động hú lên là phải lập tức thổi tắt. Có đêm tắt mấy lần.

Giờ giải lao hoặc trước khi kết thúc buổi học, cô giáo thường bảo Thọ và tôi hát. Chúng tôi thường hát bài Diệt phát xít của Nguyễn Đình Thi. Bao giờ cũng vậy, cứ đến đoạn “Việt Nam Việt Nam Việt Nam ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm” là cả lớp vỗ tay theo nhịp hát hòa theo. Có lúc lại hát Kim Đồng, sáng tác của Phong Nhã, “Hờn căm bao lũ tham tàn phát xít dấn bước ra đi Kim Đồng lên chiến khu”. Tận bây giờ, khi nhiều thứ đã lùi vào dĩ vãng, viết đến đây, tôi vẫn cảm thấy xúc động, trước mắt chợt hiện lên hình ảnh lúc Thọ vừa hát xong. Nó nhìn cô, nhìn các bạn cười bỡ ngỡ.

Vì anh Mùi không làm tài công xe trâu bánh lốp mà làm nghề cắt tóc, nhà có gương soi lớn và lược thưa nên mặc nhiên Thọ được liệt vào hạng con cái gia đình trí thức, bởi chỉ gia đình trí thức mới có gương lớn và lược thưa. Những nhà khác chỉ có lược bí chải chấy. Chải đầu thì dùng lược năm răng. Đưa tay vuốt một phát là xong!

Một buổi tối, lúc giải lao, Thọ lấy đèn ra đốt cái xơ áo. Sợi vải lâu ngày mủn như bông bắt lửa phụt cháy. Nó cuống, hất đổ cái đèn dầu thế là thành cháy lớn, như cây đuốc sống. 

- Cô ơi cứu em! - Thọ kêu cứu. Trong mọi tình huống cô giáo luôn là người thông minh nhất.

- Lăn xuống đất! - Cô Quý ra lệnh, rồi giật phăng cái áo khoác cô đang mặc chụp xuống đám cháy. Cái áo khoác rất đẹp cô phải nhịn ăn mấy tháng mới đủ tiền mua. Lần đầu thấy cô Quý mặc cái áo ấy, mấy cô như cô Loan, cô Lan, đã xúm xít lại, có người đưa tay sờ, có người xin mặc thử.     

Ngọn đuốc sống được khống chế. Ngay trong đêm Thọ được đưa đi viện. Cũng may vết bỏng không quá sâu nên ít ngày sau Thọ bình phục và đi học trở lại. Nó kéo cái ống quần rộng thùng thình lên rồi lật cả áo cho tôi xem đống sẹo trên đùi trên bụng. Rồi hai chúng tôi lại tiếp tục hát vang Diệt phát xít, Kim Đồng.

Sau Mậu Thân, Mỹ tuyên bố tạm ngừng ném bom miền Bắc. Chúng tôi được học ban ngày. Học đêm quen giờ chuyển qua ngày cũng thoáng bỡ ngỡ. Nhiều cơ quan, xí nghiệp lục tục rời khỏi nơi sơ tán. Những bãi đất tăng gia bỗng thành vô chủ.

Đồng Bẩm xưa từng là rừng. Đất tăng gia nửa năm bỏ hoang đã um tùm. Một bữa đi ngang qua một bãi dứa, đứa nào cũng thèm nhưng không dám bẻ. Thọ thấy thế, bảo:

- Dứa của nhà tao đấy, chúng mày lấy ăn thoải mái đi!

Thế là vặt. Có đứa vặt một, có đứa vặt hai trái. Đập bốp vào đá rồi cạp răng vào hít lấy hít để. Chao ôi ngon không thể tả.

- Không phải dứa nhà tao đâu, của xí nghiệp tăng gia đấy! – Chợt Thọ nói vống lên.

Ai nấy đều hoảng hốt. Có đứa đang hít buông tay cho trái dứa rơi tự do. Lát sau biết là bãi bỏ hoang mới bớt sợ. Nhưng chẳng đứa nào dám vặt nữa. Hoang. Nhưng đã từng có chủ. Thì vẫn là của người ta!

Tôi với Thọ học cùng với nhau sáu năm. Một ngày cuối hè, nó đột ngột xuất hiện ở nhà tôi.

- Tao đến chào mày, mai tao đi. Mày chịu khó học nhé, thay cho cả phần của tao! – Nó nói, nắm tay tôi lắc qua lắc lại hồi lâu.

- Cháu đến chào thím để ngày mai cháu lên đường! – Nó lại nói với mẹ tôi.

Lúc ấy ngoài đường nắng hanh hanh. Một cơn gió quét qua, bụi bay mù mịt. Năm ấy Thọ mười sáu tuổi.

- Thằng Thọ khai tăng tuổi để đi thanh niên hỏa tuyến. Là nó đi thay cho thằng Mùi. Nó không đi thì thằng Mùi phải đi! - Mẹ tôi bảo. Tôi biết anh Mùi đã có vợ con. Em đi, thì anh được ở lại.   

Đi năm trước thì năm sau có tin Thọ hy sinh ở miền Trung. Người lớn bảo lúc ấy có hai xà-lan đang cặp mạn. Đã xảy ra một sự cố kỹ thuật và Thọ lặn xuống nước để sửa, lúc trồi lên cũng là lúc hai chiếc xà-lan dập vào nhau. Thọ ơi sao mày đi vội vã thế. Nhiều năm sau, tôi viết bài thơ “Tuổi 17”, tặng Thọ. “Bạn nằm lại nơi nào trên mảnh đất miền Trung/ôi rực rỡ vàng sao ngày thu xa ấy/ tuổi 17 chúng mình ra đi lòng nhẹ tễnh/rộn rã một con đường bụi đỏ cuốn sau xe..!” Năm 89 Báo Sài Gòn Giải Phóng đã in bài thơ này.

Sau khi Thọ hy sinh, anh Mùi dằn vặt khôn nguôi. “Thằng Thọ là em anh thì nó cũng là em của tôi!” – Chị Mùi bảo chồng rồi khóc thành tiếng. Anh Mùi im lặng, cảm thấy trong lòng buốt nhói. Một hôm, lựa lúc vợ con vắng nhà, anh đã thắt cổ tự tử.

4. Chén cơm cuối cùng

Bác tôi ở Hà Nội bảo hàng tháng đều được mua gạo theo sổ, tùy theo tuổi và ngành nghề, dao động trong khoảng từ 13 đến 18 ký-lô một người với giá như cho không, thì ở Thái Nguyên phải ăn đong theo giá chợ đen. Cuối mỗi tháng, sau khi thầy tôi nhận tiền công hợp tác xã trả, ông đưa cho vợ để chi tiêu trong gia đình. Việc đầu tiên của mẹ tôi là mua gạo đổ đầy chum, xong việc này là thở phào nhẹ nhõm, các khoản rau cỏ thịt thà không đáng ngại, đều có thể tự cung tự cấp được.

Một bữa cả nhà đang ăn cơm thì ngoài đường có người la lớn:

- Mấy đứa con nhà Bính chết cả rồi!

- Sao chết? – Mẹ tôi buông chén hỏi giọng thảng thốt.

- Nghe có người mách thịt cóc bổ dưỡng, những đứa còi cọc ăn vào là lớn phổng phao lên ngay, thế là nhà Bính bắt mấy con dưới gầm giường làm thịt nấu cháo, ăn được lưng chén thì bọn trẻ con lăn ra, sùi bọt mép, thằng lớn nhường cho các em nên ăn ít, bệnh viện đang súc ruột cho nó là còn sống, mấy đứa kia đi cả rồi!

Tôi biết nhà chú thím Bính. Họ ở đường vào khu Bãi Bay. Những buổi sáng đi học qua đây tôi vẫn thấy đám trẻ con nhà họ, đứa nào đứa nấy gầy xác. Trước đó đã có người làm thịt “cậu ông trời” ăn không sao, nhà Bính thấy thế mới dám làm cho con ăn, ngờ đâu lại gánh hậu quả thảm khốc.

- Nhà mình còn may mắn hơn nhà họ! – Mẹ tôi nói, giọng rớm nước mắt.

Bữa ăn tối là vui nhất bởi cả nhà được quây quần đông đủ. Ban ngày thì ai cũng có việc của mình nên cơm canh được chia theo suất, ai về lúc nào thì ăn lúc ấy.

Mẹ tôi bới cơm cho mọi người. Thầy là lao động chính nên dĩ nhiên suất ăn nhiều hơn những thành viên khác. Chén cuối cùng luôn là của mẹ. Bao giờ cũng vậy, bới xong, bà kiếm một cái chén khác xớt phần cơm của mình ra rồi mới ăn. Khi mọi người đã rời mâm, lúc bấy bà mới ăn xong. Phần cơm xớt lại bà cất vào nồi. 

Tôi có tật hay thức khuya. Thực ra lúc ấy mới đủ yên tĩnh để đầu óc tập trung học bài. Hôm nào cúp điện thì thắp đèn dầu ngồi làm bài tập. Ra ngoài hiên, vươn vai một cái, làm mấy động tác hít thở cho tỉnh táo, đột nhiên thấy bụng đói, thế là theo phản xạ lại đi lục nồi coi còn gì ăn không, may quá vẫn còn chén cơm mẹ xớt lại. Trong sự tĩnh mịch của đêm, trong tiếng rỉ rả của giàn côn trùng, tôi nghe có tiếng trở mình và tiếng ho khẽ của mẹ như đang cố kìm nén sự xúc động.

Tôi đã may mắn thi đậu vào trường đại học tổng hợp Hà Nội với phổ điểm khá cao sau đó xa nhà đi học và đi làm. Cái tật thức khuya và ăn đêm tôi không bỏ được và vẫn giữ từ bấy đến nay. Trước thức khuya ăn đêm vì đói, giờ thức khuya ăn đêm để nhớ về ngày xưa. 

Cao Chiến

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm
Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai
Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh.
Xem thêm
Chuyện lạ ngày Xuân “Ăn trộm đào”
LTS: Mỗi độ Tết đến, giữa không khí lễ hội tưng bừng, không ít người phương Đông vẫn còn niềm tin mơ hồ rằng thực và ảo có thể bất chợt giao nhau. “Ăn Trộm Đào” là một câu chuyện như thế — vừa mang dáng dấp hội hè, vừa phảng phất trò ảo thuật dân gian. Truyện do nhà văn Bồ Tùng Linh (Pu Songling) ghi chép trong Liêu Trai Chí Dị vào đời Thanh. Bản tiếng Anh dùng để dịch ở đây là của Herbert A. Giles xuất bản năm 1880 trong cuốn Strange Stories from a Chinese Studio. Hiện nội dung được công khai trên Project Gutenberg, như một nhịp cầu nối kho tàng truyện cổ với độc giả quốc tế.
Xem thêm
Thương nhau ngày Tết - Truyện Võ Đào Phương Trâm
Mưa cuối mùa, tầm tã nặng hạt, như trút cho hết nước xuống từng ngõ ngách nội đô. Tiếng gió thốc mạnh, va vào tấm bạt như muốn xé toạc bằng cơn thịnh nộ. Mỗi lần gió lớn, tấm bạt tròng trành đổ ào đống nước nặng trịch xuống đường, văng tung tóe. Bên dưới, người đàn bà ngồi co ro, cái gánh chè đậu đen, đậu xanh còn nóng hổi nhưng chưa bán được một nửa, đành chịu cảnh vắng khách. Chiếc nón lá thỉnh thoảng bị gió thổi bật ra phía sau như một trò bỡn cợt với thân phận người nghèo, trượt giữa mặt đường đời, chông chênh và cam chịu.
Xem thêm
Quỳnh hương điện ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Dương Vân Nga lại tiến đến bên chiếc long bào. Tay đưa ra, rồi dừng lại giữa chừng. Vải gấm thêu chỉ vàng sáng lên lấp lánh dưới ánh nến. Mỗi sợi chỉ vàng là một lời thề, một trách nhiệm, một cái giá phải trả. Chiếc áo này của triều Đinh, của nhà Đinh. Nếu trao cho Lê Hoàn, nó sẽ thuộc về một triều đại khác, một dòng tộc khác. Nhưng nếu không trao? Bà nghĩ đến quân Tống đang rình rập. Nghĩ đến cảnh binh đao khói lửa ngút trời. Nước không còn, thì áo bào cũng mất. Nước không còn, thì ngai vàng cũng mất. Và mẹ con bà, làm sao toàn mạng? Không, vận nước phải lớn hơn vận mẹ con bà! Vận nước phải đặt lên trên hết! Lê Hoàn! Nếu ý trời đã định, nếu lòng người đã thuận, bà còn gì phải hoang mang?
Xem thêm
Thân thiện - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
“Thân thiện” của Lê Thanh Huệ là một văn bản văn xuôi dung lượng lớn, được viết như một cuộc đối thoại mở giữa con người với tri thức, chiến tranh, công nghệ và tương lai nhân loại.
Xem thêm
Gặp gỡ bất ngờ – Truyện ngắn Đỗ Thị Thu Hiền
Nhà văn Đỗ Thị Thu Hiền, tên thật Đỗ Thị Hiền, sinh năm 1952 tại TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ), nguyên giáo viên mất sức. Năm 1997 đến năm 2007 chị là UV.BCH, Chánh văn phòng Hội VHNT tỉnh Hà Nam. Hiện chị sống và viết tại TP. Bà Rịa (cũ).
Xem thêm
Gió đồng khoáng đạt – Truyện ngắn Hồ Tĩnh Tâm
Tôi cùng với anh bạn Dũng Hạnh đi xe gần hết nửa ngày, thêm gần nửa buổi ngồi đò nữa thì tới được đồng Ngao. Cánh đồng rộng ngút ngát, nhìn thấy ngờm ngợp con mắt. Anh bạn nói: “Phải mua thủ can rượu cho chắc. Nó sống mụ mị giữa đồng, hết rượu có mà chạy trào máu mắt”.
Xem thêm
Cánh ngỗng đỏ bay qua giếng ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Mối hòa hiếu của hai quốc gia lân bang được bắt đầu khi Trọng Thủy bước vào thành. Chàng là một người trẻ tuổi đẹp đẽ, trong trẻo, sáng ngời như ánh dương đầu hạ. Mắt đen thăm thẳm như nước giếng mới khơi. Lưng cao, tiếng nói dịu, lễ nghi chu toàn. Kim Quy không ngờ đó là con trai Triệu Đà. Vì chàng khác hẳn sự hiểm độc của người cha. Chàng chỉ là người trần, sinh ra từ người mẹ chết sớm, lớn lên trong cung cấm nhưng đầy mộng mơ. Chàng không biết cha mình là hóa thân của kẻ thù truyền kiếp của Kim Quy. Trọng Thủy khi ấy chỉ mang một ước vọng: tìm thấy một nơi bình yên, một người con gái xinh đẹp có thể khiến chàng được sống thật với lòng mình. Chàng cũng từng kinh sợ những cuộc giao tranh, trừng phạt, giết chóc của vua cha. Rời xa vua cha cùng kinh thành là điều chàng từng mong muốn.Trọng Thủy nhận lệnh vua cha đến Loa Thành gặp Mỵ Châu nhưng chưa một lần biết mặt người con gái đó. Chàng lãng mạn tin rằng Mỵ Châu là đóa hoa đẹp nhất của đất Âu Lạc.
Xem thêm
Tiếng trống gọi mùa ban - Truyện ngắn của Hà Minh Hưng
Tâm lý chung nhiều người khi đã đến một nơi rồi, lần trở lại thường không còn háo hức lắm.
Xem thêm
Chùm truyện siêu ngắn của Cristina Rivera Garza
Cristina Rivera Garza sinh năm 1964, nhà văn nổi tiếng người Mexico. Sự nghiệp của bà bắt đầu được ghi nhận từ những năm 1980, khi bà đoạt giải thơ Punto de Partida năm 1984 với Apuntes, giải truyện ngắn quốc gia San Luis Potosí năm 1987 với La guerra no importa. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Cristina Rivera Garza là Nadie me verá llorar, tác phẩm này đã mang lại cho bà Giải IMPAC/CONARTE/ITESM năm 2000. Carlos Fuentes từng gọi đây là “một trong những tiểu thuyết vừa đẹp vừa ám ảnh nhất từng được viết ở Mexico”. Năm 2024, bà đoạt giải Pulitzer cho thể loại hồi kí - tự truyện với tác phẩm El invencible verano de Liliana.
Xem thêm
Lock down – Truyện ngắn của Bùi Đế Yên.
Nhà văn Bùi Đế Yên làm thơ trước khi viết truyện ngắn. Đọc truyện của chị, tưởng chị đang ngồi thủ thỉ kể một câu chuyện vừa mới xãy ra đầy hấp dẫn, khi nghe hết chuyện, lòng ta cứ thấy bâng khuâng …
Xem thêm
Nguyền rủa - Truyện ngắn
Gia đình bà Hường chuyển về sống lam lũ với xóm nghèo. Các khu dân cư mọc lên như nấm sau mưa; lối mòn biến thành đường nhựa. Ông Tấn suốt ngày cắp laptop vợ mua, đi “quan hệ kinh doanh”; đám trẻ con tò mò kháo nhau ông không biết dùng máy vi tính.
Xem thêm
Đêm trước phiên chợ – Truyện ngắn của Lương Mỹ Hạnh
Lão Hạo không lộ mặt, ra lệnh cho tay chân nhanh chóng neo thuyền lại. Chúng lấy những đoạn dây chão to bằng cổ tay chằng buộc hai thuyền kẹp cứng với nhau. Mặt đằng đằng sát khí, hơn chục thằng cầm dao, kiếm, côn nhảy sang thuyền thằng Lanh. Một cuộc ẩu đả bất phân thắng bại nổ ra, hai bên cùng xông vào nhau đấm đá túi bụi.
Xem thêm
Tro bụi ngược chiều – Truyện ngắn Tịnh Bảo
Nắng trưa vàng như chảo mật ong tưới xuống. Nghĩa trang lớn nằm ở ngoại ô, những ngôi mộ nơi góc khuất bị cỏ dại bọc kín, bia đá lấm bụi, từng vệt bẩn kéo dài chảy xuống theo vệt nước mưa, có lẽ do cơn mưa chiều qua.
Xem thêm
Nắng chiều còn chảy – Truyện ngắn Đỗ Thanh Tuân
Trời xứ núi chuyển giông lúc nào cũng dữ dội như đón bão. Gió ầm ào. Cây rừng nghiêng ngả. Lá bay tứ tán. Mây ùn ùn về sắp đầy đầu núi, đen kịt.Chiếc xe máy chở Lan vừa chạy vừa nhảy cà tưng qua mấy ổ gà, những mỏm đá nhô cao của con đường núi thiên thẹo. Nước lùa ra đường đầy rều rác, cây bụi. Nhìn lên một bên là vách cheo leo, nhìn xuống bên kia là vực trong mưa chiều, trong cái sâu hun hút. Xa dưới kia, thác nước ào ào dội. Chốc chốc, chiếc xe dẹo mình cót két. Vậy mà bà chủ tiệm tạp hóa cứ đinh ninh là sẽ bắt cho cô chiếc xe thồ xịn nhất để vào nóc. Đúng xe núi hẳn hoi. Thiệt núi. Bà cười cố ý nhấn mạnh chữ “núi”. Xe cô, cứ để đó, khi mô trở ra thì lấy về. Dù chuẩn bị tâm lí trước nhưng Lan vẫn ngẩn người. Ở đây người ta sống bằng niềm tin. Lời nói ra xác tín như rìu chặt vào cây. Bà đưa Lan cái choàng mưa, tiện tay dúi thêm cái bao bóng lớn, nói ngó trời trong rứa chứ chút nữa thể nào cũng mưa, bỏ ba lô vào bọc ni lông cho khỏi ướt. Nhìn mớ đồ lỉnh kỉnh trong hành trang của Lan, bà cười. “Mong cái nóc Tu Mơ Rông giữ chân cô được.”
Xem thêm
Cô gái đứng trước biển Nhật Lệ - Truyện ngắn Vũ Khắc Tĩnh
Cô gái đã từng có nhiều ước mộng trong đời. Ngoài những giờ học ở trường, những lúc rảnh rỗi cô gái thích đi biển, thích đứng một mình trước biển hằng giờ ở đó, nhìn biển bình minh, mặt trời tròn vành vạnh đỏ rực lung linh, nhìn những con chim hải âu tung cánh bay dật dờ, chao nghiêng trên biển. Một buổi sáng bình minh trên biển rất đẹp, lung linh, lung linh, những đợt sóng vỗ tung toé trắng xoá. Lúc này biển đông người tắm, biển xao động tiếng cười nói của mọi người đánh tan sự im lặng, họ đùa giỡn với sóng nhấp nhô. Ai làm gì mặc kệ, cô gái vẫn đứng bất động một mình trước biển, trong đầu suy nghĩ gì không biết. Làm sao mà biết được. Tắm biển thì không bao giờ tắm. Một cô gái lạ lùng, tôi chưa từng thấy, từng gặp trường hợp này bao giờ. Đến biển, cô gái đứng nhìn biển trong tích tắc bình minh rồi về.
Xem thêm
Đoạn chi ma cước - Truyện ngắn của Châu Đăng Khoa
“Đoạn chi ma cước” dẫn người đọc vào cõi thiền – kiếm huyền bí của Edo, nơi một Ronin tật nguyền đối diện cái chết, ký ức và bản thể. Với bút pháp giàu hình ảnh và triết lý, Châu Đăng Khoa đã tạo nên một truyện ngắn độc đáo, đẹp và ám ảnh như một đường kiếm xé tuyết.
Xem thêm