TIN TỨC

Một số thành tựu mới của Văn học thiếu nhi Việt Nam ngày nay

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-05-31 18:55:37
mail facebook google pos stwis
2175 lượt xem

NGUYÊN AN

Sang vài chục năm đầu của thế kỉ XXI này, bên cạnh sự sôi động (có người cho là phức tạp) của công cuộc mưu sinh nhằm đổi mới và phát triển những thành quả tốt đẹp hơn từ mỗi gia đình đến toàn xã hội, quả thực, đang có một hiện tượng đáng mừng nữa là: không chỉ các nhà chỉ đạo – quản lý, các nhà sáng tác… mà một số đông công chúng đang có nhu cầu đọc sách, rồi tìm hiểu về các thành quả của văn chương – văn học – văn hóa xung quanh mình nhiều hơn.

Và mọi người dân nhận ra: khi con trẻ tìm đọc say mê các sáng tác thơ văn… thì đời sống tâm hồn và một số ứng xử hàng ngày của các cháu dường như có tươi vui và khôn ngoan hơn.

Các nhà nghiên cứu có lý do để nói rằng: văn học thiếu nhi Việt Nam ta đã có thành tựu mới rất đáng khích lệ và biểu dương.

Ngược dòng lịch sử một chút, người quan sát có thể phân tích thêm mà ghi nhận là:

Trong quá trình sinh thành và phát triển hàng trăm năm qua, văn học thiếu nhi Việt Nam (VHTNVN) đã từng là công cụ hữu hiệu để các bậc ông bà, cha mẹ… truyền dạy cho con trẻ bao nhiêu điều về lẽ sống. Ở những năm xa xưa ấy, VHTNVN chủ yếu, là các áng thơ ca dân gian, các truyện cổ truyền miệng do người lớn sáng tạo ra.

Hơn một thế kỉ gần đây VHTNVN đã có nhiều yếu tố khác trước.

I/ Chúng ta có thể lược thuật ra ở đây một số yếu tố khác trước, hay là một số ngọn nguồn chính đã tạo ra diện mạo và chất lượng VHTNVN khoảng 80 năm gần đây là:

1. Giáo dục nhà trường và trong gia đình, ngoài xã hội đã có sự đổi mới, phát triển theo hướng thực dụng, thực hành rất rõ. Trong xu hướng chiến lược – chiến thuật này, số trẻ em đã biết đọc và biết viết ngày càng đông đảo hơn, ngay ở tuổi mẫu giáo – nhi đồng. Hàng vạn rồi hàng triệu con trẻ Việt Nam ở các vùng miền đã và đang có nhu cầu đọc rồi chép truyện, đọc và chép thơ, trong sách giáo khoa và các sách báo khác.

2. Nhà nước đã tạo ra một cơ chế xuất bản và truyền bá sách văn học cho trẻ em: lập ra các nhà xuất bản như NXB Kim Đồng, NXB Trẻ…. Các báo chí của Đoàn và Đội thường xuyên có trang VHTN; ngay trong những năm chiến tranh ác liệt, nhiều thơ văn cho thiếu nhi đã được in ra, chuyển đến các em khá kịp thời qua hệ thống thư viện và các hiệu sách.

3. Các đoàn thể như Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam… đã phối hợp tổ chức các cuộc vận động, các cuộc thi sáng tác văn học thiếu nhi, trao giải thưởng cho các tác phẩm được bạn trẻ yêu thích.

4. Các nhà văn nhà thơ giờ đây đã viết cho trẻ em nhiều hơn, chuyên nghiệp hóa hơn. Nhiều người có khát vọng gieo mầm nhân ái, giáo dưỡng lý tưởng sống cao đẹp cho con người Việt Nam đương đại bằng việc sáng tác thơ văn cho các cháu các em… thật rõ ràng, cụ thể và khéo léo.

Có thể nói: Đây là 4 yếu tố, 4 vấn đề rất khác trước trực tiếp tạo ra sự phát triển lành mạnh cho VHTNVN mấy chục năm gần đây.

II. Ra đời từ bối cảnh xã hội như thế, VHTNVN mấy chục năm gần đây đã đạt được một số thành tự mới rất đáng ghi nhận, biểu dương

Thành tự thứ nhất – đã xuất hiện một đội ngũ tác giả VHTNVN khá đông đảo.

1/ Đội ngũ này nhiều thế hệ, độ tuổi. Trong đó có:

a/ Những nhà văn nhà thơ từng viết các tập thơ tình yêu trai gái, yêu quê hương đất nước hấp dẫn từ trước năm 1945, vài chục năm sau họ lại viết tiếp, góp cho văn thi đàn thiếu nhi các tập mới hay, như Huy Cận: Hai bàn tay em, Phù Đổng Thiên Vương…, Tô Hoài: Miền Tây, Đảo hoang…

Kế tiếp họ, là những tác giả mới như Phùng Quán (Tuổi thơ dữ dội), Xuân Sách (Đội thiếu niên du kích Đỉnh Bảng), Vũ Cao (Em bé bên bờ sông Lai Vu), Lê Khắc Hoan (Mái trường thân yêu)…

Và đặc biệt là những nhà văn như Đoàn Giỏi với Đất rừng phương Nam, Cuộc truy tìm kho vũ khí, Võ Quảng viết các tập thơ văn như Gà mái hoa, Thấy cái hoa nở, Anh Đom ĐómQuê nội, Tảng sáng… Định Hải làm tươi trẻ thơ bằng các tập như Chồng nụ chồng hoa, Em hát-đu quay, còn Phong Thu thì có các tập thật dí dỏm như Điểm 10, Xe lu và xe ca…

b/ Từ cuối những năm 1960 trở đi, có một loại tác giả VHTNVN hoàn toàn mới mẻ xuất hiện. Sự non tơ mà sớm chững chạc của lớp thiếu nhi cầm bút làm thơ và viết truyện này đã làm dậy sóng thi đàn suốt vài chục năm tiếp theo. Thoạt đầu là Trần Đăng Khoa được nhanh chóng tôn vình là thần đồng bởi một loại bài thơ rồi được tuyển vào các tập thơ cho nhiều lứa bạn đọc cùng xem như Góc sân nhà em và khoảng trời, Khúc hát người anh hùng… mà có người cho rằng “hầu như bài nào cũng hay…”. Cùng với Trần Đăng Khoa là những tác giả trẻ trung khác, họ là: Lê Phương Liên, Khánh Chi, Đặng Hấn, Nguyễn Hoàng Sơn, Trần Quốc Toàn, Cao Xuân Sơn, Phùng Ngọc Hùng, Nguyễn Thành Phong, Nguyễn Đức Quang, Nguyễn Trác, Phong Điệp…

Rồi gần đây hơn nữa là những Nguyễn Nhật Ánh, Hoàng Dạ Thi, Nguyễn Ngọc Thuần, Lê Quang Đôn, Vĩnh Thông, Nông Ích Khiêm…

Thật không thể nào kể hết những tên tuổi đáng quý này. Mỗi người một vẻ, một ngân vang riêng, tất cả, đều khiến cho các nhà nghiên cứu VHTNVN và đông đảo công chúng nhiều năm nay tin mến và hi vọng.

2/ Có chuyện, có vấn đề thú vị nữa là:

a/ Khi phân tích sự có mặt của đội ngũ tác giả VHTNVN hàng trăm người này, ta thấy có xu hướng chuyên nghiệp hóa ngày càng rõ.

Ngay từ buổi đầu lập nghiệp đã chuyên chú với VHTNVN như Trần Quốc Toàn, Nguyễn Hoàng Sơn, Nguyễn Nhật Ánh, Bảo Ngọc…

Từng viết cho mọi bạn đọc, mọi đề tài, nhưng cùng với thời gian và sự chiêm nghiệm thì tập trung viết nhiều cho thiếu nhi hơn như Phạm Đình Ân, Đỗ Toàn Diện, Lê Tuấn Lộc…

Với Nguyễn Quang Thiều chẳng hạn, lại như một chiếu riêng. Ông sáng tác cho thiếu nhi chưa thật nhiều, nhưng các trang thơ văn của ông lại đang tạo ra một ấn tượng đặc sắc.

b/ So với đội ngũ tác giả văn học Việt Nam đương đại nói chung, có thể ví như một tập đoàn quân, thì các tác giả VHTNVN dường như chỉ là một quân khu, một sự đoàn thì phải ? Bé nhỏ và ít ỏi hơn là tự nhiên thôi. Song lực lượng này đang đóng một vai trò hết sức trọng yếu là trực tiếp bồi dưỡng - đào tạo cho nguồn nhân lực sáng tác văn chương của cả nước. Lứa trước dìu dắt lứa sau trong các cuộc vận động – các trại sáng tác, và trên các trang bản thảo… họ đã góp phần tạo nên bản sắc mới cho cả dòng VHTNVN ta.

Thành tựu thứ hai – Đề tài sáng tác của VHTNVN ngày càng mở rộng. Sự mở rộng theo hướng phong phú hóa về nội dung đã đi cùng với sự đa dạng hóa của phong cách nghệ thuật ở mỗi tác giả.

1/ Thoạt đầu thơ thiếu nhi hay viết về sinh hoạt và cuộc sống hàng ngày của trẻ em như Trần Đăng Khoa… Hoàng Minh Chính thì viết:

Hôm qua em đến trường

Mẹ dắt tay từng bước

Hôm nay mẹ lên nương

Một mình em đến lớp…

 

Đường xa em đi về

Có chim reo trong lá

Có nước chảy dưới khe

Thì thào như tiếng mẹ.

Trường của em be bé

Nằm lặng giữa rừng cây

Cô giáo em tre trẻ

Dạy em hát rất hay.

 

Mũ rơm thơm em đội

Hương cốm chan hương rừng

Mỗi lần em tới lớp

Hương theo em đến trường.

(Đi học)

Hoàng Tá có bài Cái sân chơi biết đi:

Chiều về cho kênh nước xanh

Lưng bê mát rượi bồng bênh gió hè

Anh em sáo sậu liệng về

Nhảy tung tăng khắp lưng bê hiền lành

Sáo em: “Hí hí… Kìa anh!

Cái sân chơi của chúng mình biết đi.”

b/ Nhưng rồi chiến tranh nổ ra, rồi cuộc sống cũng có nhiều khó khăn hơn, những câu chuyện thường ngày của con trẻ cũng có khác. VHTNVN kể, vẫn hồn nhiên, mà trong tình thương mến đã có vẻ âu lo.

Cô về với bản lần đâu

Cầu treo nhún nhảy qua cầu chưa quen

Cô ơi nắm lấy tay em

Suối sâu mặc suối, cầu bền chẳng sao.

Cô lên dạy học vùng cao

Cầu ơi cầu chớ nghiêng chao quá chừng

Nếu như cầu tỏ nỗi mừng

Bàn chân cô bước cầu đừng rung lên

Hình như cầu hiểu lời em

Trắng tinh mây núi lặng yên che đầu

Sang bờ, nhìn lại suối sâu

Cô cười: May được qua cầu cùng em!

(Qua cầu - Vương Trọng)

Ấy là câu chuyện ở vùng cao. Còn đây là thơ thiếu nhi viết về một ước ao của trẻ em ở thành thị

Em không muốn cô bán kem

Dáng tất tả mồ hôi đầm lưng áo

Thùng kem to hơn cô rất nhiều

Em chỉ muốn cô là cô giáo

 

Nếu được tiên ông cho một điều ước

Em chỉ ước cô là cô giáo

Để không có những chiều giông bão

Cô thẫn thờ thùng kem ế đầy nguyên!

 

Em không muốn thấy cô bán kem

Em chỉ muốn cô là cô giáo.

(Em không muốn. Kim Hương Giang)

c/ Có một nhóm tác giả viết cho thiếu nhi mà ít hướng tới sự vui cười hả hê rộn rã trong đời, mà hay đánh thức lương tâm và trách nhiệm ở trẻ em. Nguyễn Quang Thiều là một người như thế. Ông kể:

Con chim sẻ nhỏ chết rồi

Chết trong đêm cơn bão về gần sáng

Đêm ấy tôi năm trong chăn

 nghe cánh chim đập cửa

Sự ấm áp trong chăn giữ chặt tôi

Và tôi ngủ ngon lành đến lúc bão vơi

 

Chiếc tổ cũ trong ống tre đầu nhà chiều gió hú

Không còn nghe tiếng cánh chim về

Và tiếng hót mỗi sớm mai trong vắt

Nó chết trước cửa nhà tôi lạnh ngắt

Một con mèo hàng xóm lại tha đi

Nó để lại trong tổ những quả trứng

Những con chim non mãi mãi chẳng ra đời

Đêm đêm tôi chợp mắt

Cánh cửa lại rung lên tiếng đập cánh

Những quả trứng lại lăn vào giấc ngủ

Tiếng lăn như đá lở trên ngàn.

(Tiếng vọng)

Nhân đây, tôi muốn nhắc đến một bài nữa của Cao Xuân Sơn viết cho con gái Bảo Trân, tưởng chỉ là chuyện cha - con trong nhà, đầy tin yêu… mà cũng là bài học đường đời, ông dặn:

Nhà mình nhiều cơn túng bấn

mà chưa đói sách bao giờ

bố muốn bận gì thì bận

con đừng thấy sách ngó lơ

 

…Không cứ ăn xôi mới sống

đừng thèm cố đấm con ơi

giúp được ai, chớ để bụng

được ai giúp, hãy nhớ đời…

 

Xưa nay trăm tài nghìn sắc

không ngoài hai chữ thiện lương

cứ thế mà đi con gái

cả khi mình một con đường.

(Nói với con)

Có vẻ như rất cổ xưa, làm thơ cho con cháu là để nhắc nhở, để hướng thiện cho trẻ. Bài thơ của Cao Xuân Sơn rất thời sự mà cũng đầy chất thế sự nhân gian.

*

Văn thơ của/cho/về thiếu nhi quả là một lĩnh vực riêng về nội dung tư tưởng và phong cách sáng tạo.

Lĩnh vực sáng tạo và nghiên cứu này có một ít đặc thù, nó đòi hỏi người tham gia phải có tấm lòng yêu thương quý trọng, có ý hướng sâu xa mà được phô ra một cách bình dị tinh tế ý nhị... hơn, ấy là chưa kể đến sự tích lũy “vốn liếng trẻ thơ” cho dày dặn đủ dùng, thì mới theo được, mới có thành quả lâu dài được.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm