TIN TỨC

‘Núi Đôi’ và cô du kích mãi mãi mười bảy tuổi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-05-22 11:32:50
mail facebook google pos stwis
1115 lượt xem

Nhắc đến nhà thơ Vũ Cao, người ta thường “đóng đinh” ông với bài thơ Núi Đôi. Nhưng cũng có khi người ta say sưa với Núi Đôi mà quên đi cái ông tác giả Vũ Cao nào đó? Đó cũng là hạnh phúc của mỗi nhà thơ.


Nhà thơ Vũ Cao (1922-2007)

Nguyên mẫu cô du kích “bảy năm về trước em mười bảy” ấy ở ngay chân Núi Đôi, nơi “Xuân Dục – Đoài Đông hai cánh lúa” bây giờ đã là thị trấn, thị tứ sầm uất chứ thời chống Pháp và sau này thời chống Mĩ thưa vắng lắm. Đến năm 1999, khi nhóm phóng viên Truyền hình Quân đội nhân dân chúng tôi về quay những thước phim ở Núi Đôi, có Bí thư Sóc Sơn Nguyễn Tâm Chính dẫn ra nghĩa trang, nơi có mộ phần nữ du kích Trần Thị Bắc quang cảnh hãy còn sơ khoáng lắm. Người em trai nữ du kích họ Trần khuôn mặt sạm nắng gió ứa đôi dòng nước mắt bên mộ chị gái đã hi sinh trên nửa thế kỷ như còn cứa vào tôi cho đến tận bây giờ.

Và, cái bóng cao lớn của nhà thơ Vũ Cao quần áo trắng, râu tóc trắng ở tuổi tám mươi trước chùm hoa đại trắng trong khuôn viên tượng đài liệt sĩ Sóc Sơn cùng các nhà văn Xuân Thiều, Hồng Diệu như tạc nên nền trời xuân bay muôn nỗi xa xanh. Người đã về với đất để trời xanh thanh bình mãi mãi. Mà Vũ Cao bây giờ cũng đã xa rồi.

Núi Đôi của Vũ Cao chính là một tượng đài thơ. Khi viết ra nó, Vũ Cao không biết đến điều này. Sau này cũng thế, nó là do bạn đọc suy tôn. Đó đúng hơn là đạo lí suy tôn. Thơ văn, cái đích lớn nhất chính là đạo lí.

Vũ Cao không như lứa nhà thơ đồng thời với ông, những Hoàng Cầm, Thâm Tâm, Chính Hữu, Quang Dũng, Trần Dần… toàn những ông mà Vũ Cao sau này thường bảo: “Các ông ấy ghê gớm lắm, giỏi lắm”. Còn về mình, Vũ Cao luôn nhắc đi nhắc lại: “Tôi không biết gì về thơ đâu nhé. Toàn nhìn thấy, nghe thấy gì thì chép ra thế thôi. Tôi vụng lắm. Tôi không biết thơ đâu. Các ông thông cảm nhé!”

Vũ Cao nói thật.

Thì hai câu thơ “Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới/ Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau” là những câu thơ tả thực, giản dị mà nhói buốt biết bao nhiêu.

Cái thực đó chỉ có ở những người hòa cùng máu thịt với nhân dân mới có.

Nhưng đến khổ cuối của bài thơ:

Anh đi bộ đội sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

Em mãi là hoa trên đỉnh núi

Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

Thì cái thực thà giản dị đã hóa thành biểu tượng, thành hồn cốt, thành văn hóa tâm linh, thành lí tưởng niềm tin dài rộng cho suốt bao thế hệ. Cái hồn vía bình dị ấy, cứ thế lắng sâu, ngấm kĩ, lan tỏa và thăng hoa mãi.

Đó chính là trên đỉnh du ca.

Không hiểu sao, cho đến tận bây giờ, mỗi khi đọc lại Núi Đôi, nhất là nghe ngâm lại bài thơ này, tôi luôn cho rằng đó là một khúc du ca dành cho người đã khuất, những nữ du kích vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam đã hi sinh vì Tổ quốc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm.

Ai viết tên em thành liệt sĩ?

Bên những hàng bia trắng giữa đồng

Nhớ nhau anh gọi em: Đồng chí!

Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

Thì rõ ràng là một khúc hát ru cho người nằm xuống. Một khúc ru có hàng bia trắng như lời mẹ ru xưa cánh cò trắng trên đồng.

Một khúc ru đã trở thành lời ru đất nước non sông bình dị, sự tri ân đồng chí thiêng liêng thân thiết, “một tấm lòng trong vạn tấm lòng”.

Hôm ở nghĩa trang liệt sĩ Sóc Sơn, tôi đã chứng kiến Vũ Cao khóc. Ông khóc mà đôi vai im như tượng tạc bên mộ người nữ du kích Trần Thị Bắc. Những thước phim quý như vậy, tôi đã sớm chuyển cho Bảo tàng Văn học Việt Nam.


Liệt sĩ Trần Thị Bắc – Nguyên mẫu trong bài thơ “Núi Đôi” của Vũ Cao.

Sau này, do mê mải làm phim chân dung về lứa văn nghệ sĩ cùng thời chống Pháp với ông như Hoàng Cầm, Chính Hữu, Văn Đa, Mai Văn Hiến… tôi đều mời ông vào phim và ông phát biểu rất hay. Vũ Cao có cái lạ là nói về mình rất dở, song nói về người khác, nhất là những đóng góp của giới văn nghệ sĩ với công cuộc kháng chiến, ông luôn nói rất sâu sắc.

Nhà thơ Vũ Cao rất ít viết. Đây chắc chắn là một ẩn số. Với một người lưng vốn dày dặn như ông mà viết ít hẳn bên trong có ẩn tình gì? Ông lại sớm “trụ trì” ở ngôi chùa văn chương lớn – Số 4 Lý Nam Đế, nơi các đa đề hội tụ, nơi mà “dắt một học sinh lớp 4 như Lê Lựu” đến cũng trở thành một nhà văn.

Vậy mà ngoài Núi Đôi, ông chỉ sáng tác thêm ít bài thơ nữa, không thành công lắm. Ông cũng không hề tỏ ra băn khoăn sốt ruột gì. Cái nghề văn chương ấy mà, cũng như những nghề khác thôi, có bổng trầm lên xuống. Có khi đã trên đỉnh du ca rồi là hoàn thành nhiệm vụ. Cần gì phải có nhiều Núi Đôi khác nữa. Một mộ phần Trần Thị Bắc mười bảy tuổi thơm mãi cánh hoa thơm cũng là ân nghĩa máu xương của người dân, của người thôn nữ đã hóa thành hương hoa đất nước thảo thơm rồi. Cuộc đời cần gì nhiều vết thương sâu nữa.

Nhà thơ Vũ Cao sống rất giản dị. Tính ông lại xuề xòa, lúc nào cũng đi chân đất, ở nhà cũng như ở cơ quan. Hôm đi làm phim ở Núi Đôi, chúng tôi đã phải sắm cho ông đôi dép xốp to nhẹ. Vậy mà thoáng cái đã thấy ông đi chân đất phăm phăm leo núi, hỏi để dép ở đâu chỉ thấy nhà thơ ngơ ngác mỉm cười.

Xuề xòa là vậy, song đối với văn chương, Vũ Cao lại rất kĩ tính và luôn tìm cách bảo vệ anh em cấp dưới. Có một lần, một ông quan văn nghệ tận Trung ương có chất vấn tại sao Văn nghệ Quân đội không in thơ của ông ấy. Nghe nói Xuân Sách đã trả lời rất căng, khiến vị quan văn cáu giận, Vũ Cao gọi Xuân Sách lên nghe đầu đuôi. Xuân Sách nói lí:

– Thơ ông ấy dở, không thể in được. Tôi loại bởi vì sự công bằng. Đây cũng là tiêu chí của Tạp chí, tiêu chí của Tổng Biên tập đề ra.

Vũ Cao nhỏ nhẹ:

– Nhưng ông ấy là cấp trên, là người vai vế từ thời tiền chiến.

– Càng không nên in anh ạ. Không in để bảo vệ uy tín cho ông ấy.

Vũ Cao ngồi im. Ông không nói gì thêm. Sau này, khi Xuân Sách có bài thơ chân dung về ông, ông cũng chẳng nói gì.

Bài thơ như sau:

Sớm nay nhấp một chén trà

Bâng khuâng tự hỏi đâu là Núi Đôi

Những người cùng làng với tôi

Muốn sang Đèo Trúc muộn rồi đừng sang.

Mới hay, cái sự im lặng của Vũ Cao cũng đầy thế thái nhân tình vậy.

Bản thân nhà thơ Vũ Cao cũng rất biết Núi Đôi là cái đỉnh thi ca của mình. Nó chính là ông. Mộc mạc, bình dị mà sâu thẳm đến lòng dạ con người, lòng dạ trời xanh. Thơ Vũ Cao, đặc biệt là Núi Đôi, không hề có sự gồng lên của câu chữ, càng không gọt rũa, uốn ba tấc lưỡi, cũng không có cái hào hoa lấp lánh, cái sang chảnh chuông khánh mà tự nhiên như nước, như trăng. Đó quả thực là trời ban cho chứ người thường cả đời tu luyện cũng khó mà có được. Núi Đôi! Một đỉnh núi du ca. Núi Đôi! Một nỗi niềm đau thương đã hóa thành lời ru bình yên, huyền thoại.

Tôi khi thực hiện phim tài liệu về bài thơ Núi Đôi đã mời hai người ngâm tác phẩm này, đó là nghệ sĩ Hồng Liên và nghệ sĩ Tố Hoa. Ngâm ngay trên đỉnh Núi Đôi, bên cạnh chiếc lô cốt sần sùi rêu mốc lau đồi phơ phất gió. Ngâm dưới chân tượng đài liệt sĩ Sóc Sơn hoa đại trắng trời, phía bên cạnh thật gần là mộ liệt sĩ Trần Thị Bắc mười bảy tuổi đã hóa hương thơm. Những vần thơ như những lời ru của mẹ, của bà vọng lại. Những vần thơ như thóc, gạo, ngô, khoai mà làm nên đất nước trường tồn.


Lô cốt của giặc Pháp trên Núi Đôi tại xã Tân Lập, Sóc Sơn, Hà Nội. 

Nhà thơ Vũ Cao đã hơn mười năm trở về thế giới của người hiền. Ông mất năm 2007. Mỗi khi giáp Tết, ngày ông còn sống, chúng tôi thường đến thăm gửi quà Tết cho ông. Ông hiền lắm! Ông luôn dành mấy lon bia mời tôi uống. Tai ông đã nghễnh ngãng còn rất ham nghe. Ông lại kể cái dạo tiễn Nguyên Ngọc, Nguyễn Thi vào chiến trường, ông còn nhớ mãi. Khi ấy, cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở vào giai đoạn rất gay go. Nguyễn Thi nằng nặc xin đi B. Ông giữ thế nào cũng không được. Để có được một Người mẹ cầm súng, nhà văn Nguyễn Thi đã phải anh dũng hy sinh ở chân cầu chữ Y trong Tết Mậu Thân 1968. Thời gian đó, nhiều nhà văn Văn nghệ Quân đội vẫn tiếp tục đi B hoặc đang ở chiến trường như Nam Hà, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Chí Trung, Ngân Vịnh, Thu Bồn… Tết nào, nhà thơ Vũ Cao cũng thay mặt lãnh đạo tới thăm các gia đình có nhà văn đi B, nhất là gia đình nhà văn liệt sĩ Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi. Khi ấy, mái đầu đã bạc của Vũ Cao như có ai vít xuống.

Thấm thoắt vậy mà mấy chục năm trôi.

Vũ Cao – Núi Đôi giờ đã trở thành biểu tượng văn chương sừng sững.

Sau khi nhà thơ Vũ Cao mất, thi thoảng Tết nhất chúng tôi vẫn đến thắp hương cho ông trong ngôi nhà ngỏ ngõ B52 đường Hoàng Hoa Thám. Tết bây giờ đã khác, rất khác thời các ông. Song tinh thần mà thế hệ các ông, nhất là nhà thơ Vũ Cao – Núi Đôi – một đỉnh du ca lan truyền lại, vẫn vô cùng ấm áp. Như cuộc đời đang đầy đặn niềm tin và lẽ sống bởi luôn được bắt nguồn từ những đỉnh du ca.

Phùng Văn Khai/VNQĐ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nơi sâu thẳm trái tim vị tướng
Bài viết của Trung tướng, PGS-TS NGUYỄN ĐỨC HẢI, Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng
Xem thêm
Đan Thanh - nghệ sĩ kết nối thi ca và hội họa
Với hiểu biết khiêm tốn của một nhà giáo hâm mộ văn học nghệ thuật, tôi được biết thầy giáo - nhà văn Nguyễn Thanh. Thầy Nguyễn Thanh tên thật là Nguyễn Tấn Thành sinh ra tại xã Tân Quới, quận Bình Minh, Cần Thơ (nay thuộc Vĩnh Long). Khi làm văn nghệ, thầy Nguyễn Thanh còn dùng những bút danh khác để viết cho nhiều thể loại bài khác nhau : Thanh Huyền, Ngũ Lang, Đan Thanh, Phương Đình, Tương Như, Diễm Thi, Minh Khuê, Minh Văn, Lan Đình, Chàng Văn… Thầy tốt nghiệp Đại học Sư phạm - Cử nhân Văn khoa và đã qua 3 năm chưong trình Cao học Văn chương và Ngoại ngữ tại Đại học Văn khoa Sài Gòn (1975).
Xem thêm
Giao hưởng Điện Biên – thành tựu mới của nhà thơ Hữu Thỉnh
Chiến thắng Điện Biên là một chiến thắng vĩ đại của chúng ta “Lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu” (Tố Hữu). Chiến thắng đó làm rạng danh nước Việt trên thế giới. “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi). Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ Quyết chiến Quyết thằng bay trên nóc hầm tướng Đờ cát, ngày 12 tháng 5 Bác Hồ đã có bài thơ dài đăng trên báo Nhân Dân : “Quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ”. Rồi sau đó Tố Hữu mới có bài thơ nổi tiếng “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”. Điện Biên còn được các nhà thơ, nhà văn Việt Nam nhắc đến nhiều trong các bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết. Điện Biên cũng được nhắc đến trong các cuốn sách của đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh, nhà báo của ta và phương Tây.
Xem thêm
“Chia lửa” với chiến dịch Điện Biên Phủ
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 122, thứ năm 2-5-2024
Xem thêm
Nhà thơ lê Đình Hòa chỉ thấy hoa phượng trắng
Bài viết của Lê Thiếu Nhơn về nhà thơ khiếm thị Lê Đình Hòa ở Phú Yên
Xem thêm
Lãng tử trong đời, chí thú trong văn
Bài viết về nhà văn Nguyễn Hoàng Thu trên báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam
Xem thêm
Trong màu xanh Vàm Cỏ
Nhà văn Hào Vũ, sinh năm 1950. Quê quán: An Hải, Hải Phòng. Dân tộc: Kinh. Hiện thường trú tại 6/3 Cư xá phường 3, thành phố Tân An, tỉnh Long An. Vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984.
Xem thêm
Đỗ Thành Đồng và chuyển động đường thơ
Sau gần 15 năm đắm say đến điên cuồng với thi ca, nhà thơ Đỗ Thành Đồng, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đã xuất bản 7 tập thơ.
Xem thêm
Chuyện tình khó quên của Trịnh Công Sơn
Bài viết của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn
Xem thêm
Nhà văn Di Li: Tôi bị hấp dẫn bởi người đàn ông nhân văn, tử tế
Tôi nghĩ rằng, là người văn minh thì phải chấp nhận sống chung với sự khác biệt, tuy nhiên, sự khác biệt đó nếu không tốt, muốn người ta thay đổi thì mình sẽ góp ý. Và cách góp ý của mình cũng khá hài hước nên người nghe không mấy khi khó chịu.
Xem thêm
Người tốt trại Vân Hồ
Nhà văn Trung Trung Đỉnh, Giải A cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn, 1998 – 2000) với tiểu thuyết Lạc rừng. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Xem thêm
Nhớ nhà báo Phú Bằng
Đọc bác Phú Bằng từ lâu, khi tôi còn trực tiếp cầm súng ở Trung đoàn 174 Sư đoàn 5 thời chống Mỹ. Lúc ấy bác Phạm Phú Bằng là phóng viên báo QĐND được tăng cường cho báo Quân Giải phóng Miền Nam.
Xem thêm
Nhà văn - dịch giả Trần Như Luận với tác phẩm “Tuyển tập 12 truyện ngắn Anh - Mỹ kinh điển, lừng danh”
Tháng Sáu 2022, trên Báo Thanh Niên rồi Tạp chí Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, nhà báo Hà Tùng Sơn và nhà phê bình văn học Vân Phi giới thiệu tác phẩm thứ 7 của nhà văn Trần Như Luận (TNL): tiểu thuyết Gương Mặt Loài Homo Sapiens. Trước đó, anh từng gây tiếng vang nhờ giá trị đáng kể của bộ tiểu thuyết Thầy Gotama và 8000 Đệ Tử dày tới 1.200 trang, trình làng năm 2014. Chúng tôi cũng biết tới cả trăm tác phẩm dịch của anh, cả thơ và truyện, xuất hiện trên các tạp chí Văn nghệ Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, Văn nghệ Quân đội, Non Nước, Sông Hương, v.v… Xuân Giáp Thìn 2024, nhà văn ra mắt một “dịch phẩm” hoàn toàn mới: Tuyển tập 12 truyện ngắn Anh – Mỹ kinh điển, lừng danh. Sách dày 320 trang, bìa bắt mắt. Sách được Liên hiệp các Hội Văn học-nghệ thuật Việt Nam thẩm định chất lượng và hỗ trợ kinh phí; NXB Hội Nhà văn cấp phép. Nhân một cuộc hẹn thú vị tại Quận 7, TP Hồ Chí Minh, trong một quán cà phê tao nhã, không bỏ lỡ cơ hội, tôi đã thực hiện cuộc phỏng vấn này.
Xem thêm