TIN TỨC

Nắng xanh pha hương giọt mật đầy

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-10-08 17:48:56
mail facebook google pos stwis
728 lượt xem

Giữa nhịp sống vội, THỜI NẮNG XANH mở một khung trời dịu sáng: gió qua mặt cỏ, khói nhang nghiêng vai, thẳm sâu là nếp nhà. Đó là giọng nói về nguồn cội — ít phô trương, nhiều bền bỉ — khiến ta muốn bước chậm lại để lắng nghe. Về tập thơ này đã có nhiều bài viết; lần này, Văn Chương TP.HCM xin giới thiệu bài của Tuấn Trần.
 

TUẤN TRẦN
(Cảm nhận về tập thơ THỜI NẮNG XANHTrương Nam Hương)

Giữa nhịp sống đuổi xô, người trẻ như tôi phải chóng trôi để theo kịp với tốc độ điên cuồng vô nghĩa. Lắm lúc, ở một khoảnh khắc nào đó trên đường đua, ghé nhìn ven đường - bất chợt,“Cỏ mềm xanh thót trái tim”/…/ Chim kêu thót ngực hoa vườn/ “Em xa hòn sỏi cuối đường thót đau”. Thảng thốt tôi nhận ra mình đã quên đi mục đích sống trên đời. Ngày nào có những hình dung như thế thoáng qua tâm trí là đêm về tôi lại “nhảy lên xe” để tìm… Tìm “Về hỏi thăm mùa cũ”, và thấy, “Gốc dâu người đốn bỏ/ Rễ nắng xòa lên tôi”. Tôi lẫn trốn thực tại mông lung ngột ngạt, ngụ vào chốn nương náu bình yên trong “THỜI NẮNG XANH”.

Bối cảnh nghệ thuật trong thơ Trương Nam Hương có khả năng lớn lao làm thời gian tiết độ, để cho ta kịp nán lại mà nói lời cảm tạ cuộc đời. Ta sống cẩn trọng và chân thành hơn. Ta biết“…Lặng đến cuối cơn mưa bất chợt”, để thấy “Lộng lẫy sau lưng bảy sắc cầu vồng”. Hẳn là lúc đó ta được đứng ở vị trí bên lề, cho cùng trải phơi bao mạch nguồn cảm hứng yêu thương thao thiết:“Biển nhắc thu về giọt máu xanh” - Tiếng thơ kiến tạo trên nền tảng đó.

“Sớm nay trời đất ngây ngoai quá/ Mùa nhắc heo may ghé cửa phòng/ Nắng cũng thơm mềm mây cũng ngọt/ Nhớ gì cây phố khép cong cong!”. Và có những buổi sáng như thế, một người trẻ cho phép mình “vượt ngưỡng” bằng cách tìm về, mặc “tay trắng hồn trong”. Tâm hồn ta cần được nghỉ ngơi, để khơi nguồn... Kể cả việc ngồi như ngồi chờ cơn bão cơm áo gạo tiền đổ tới, thì ta vẫn cứ chấp niệm vô cùng.

Chẳng có cơn bão nào mạnh hơn cơn bão lòng, cơn bão trống vắng giữa ngàn ngạt người. Để khỏa lấp vá víu những hư nát bấy trần nơi trái tim, khi phong phanh khuôn ngực đi qua phong ba của đời sống đương đại. Có lẽ, ta chỉ còn cách kiếm nhìn về quá khứ, những điều thiêng liêng thầm lặng “Đứng ngoài các cuộc bon chen/ Lắng trong nước mắt muộn phiền nhân gian”. Chỉ khi ta biết ơn, mới sâu cảm về thế giới trần trụi này. Thực tế thế giới trần trụi là “đồng lõa” của điều chân thành đẹp đẽ. Và khi ta đấu tranh với thực tại xấu ác trần trụi kia, lúc chiến thắng mới thấy được sự đáng giá hơn ngàn lần của cái thiện đẹp chân thành: “Khi con nói về giang sơn gấm vóc/ Nhớ đừng quên có hạt lúa tảo tần/ Khi con nói về lớn lao tổ quốc/ Nhớ có phần vĩ đại của nhân dân”.

Ngoài kia mọi sinh vật chữ nghĩa mặc màu áo cách tân, giẫm đạp nhau can dự vào hiện thực nhân sinh. Với nhiều tiếng nói “đại nghĩa”: Khi đả phá, khi kêu đòi, khi giễu nhại, khi nghịch thường, lúc ngạo nghễ… Nhưng dễ mà đến khi “bạo phát bạo tàn” nếu thơ chẳng biết mình biết ta, biết vai trò, vị trí, biết điểm dừng và giới hạn của chính mình. “Thần Đồng” đó mà cũng chỉ khiêm hạ đứng “Góc sân” nhìn “khoảng trời” nữa là,…

Với Trương Nam Hương, nhỏ nhoi lắm – “Linh cảm câu thơ rét muốt về”, “Dáng gầy như lau sậy”, “Phận nghèo lắm lúc liêu trai/ Tình mơ lỏng hết khuya cài hèn sang”. Anh luôn cất lên những tâm tình bé mọn, giòn khô phận người như thế. Để kết bện bền bỉ sợi tình tơ nghĩa nối lại đôi bờ hư thực mà “ngỡ” mà lật trở mà yêu thương ngào ngọt. Để, “Sau đêm” “Sáng dậy hương mùa xanh đẫm tay/ Em dâng tươi mưởi giấc em đầy/ Đêm mơ gió chúm trên môi lá/ Em… vít tình anh tưởng bóng cây”. Để thương, “Thương bông cúc nhỏ chiều mưa ấy/ Run rẩy chờ anh giữa gió lùa”.

Tôi vẫn nhận ra đôi điều “bất an” hay “chát chúa” về đời sống trong âm hưởng tiếng thơ. Nhưng những nặng lòng cho tang tóc thời thế đó được bọc gói trong hình hài thẩm mỹ đẹp trong nhẹ nhàng, với những cử động giai âm hết sức tế vi mà đủ sức ngân vang. Anh thấy được phía trước là hư vô,“Người mới đây người… không thấy nữa/ Nhang vẽ chân dung, khói điểm thần”. Nên ý thức tìm về lối cũ đường xưa, để hôn rửa cho nhu thuần tấm thân trần vô lực.

Trương Nam Hương vẫn mãi miết nuôi “mộng ban đầu khó phai”. Anh vẫn khóc cười cùng “sương trắng, nắng xanh”. Mặc gió Á, mưa Âu ngập đường phì độn. Mặc hình hài thẩm mỹ thế gian thai mang những nồng nặc khí thở thời đại - một thời đại ăn xổi ở thì. Tiếng thơ anh vẫn cần mẫn điều tiết dòng chảy mềm mại nhỏ rỉ. Để giữ cho dòng văn hóa nguồn cội thiêng liêng đồng chảy, song cùng những bội thực suy tưởng hậu hiện đại. Và thơ Anh có mặt để chống lại sự vô cảm của người đời với thơ chăng!

Trương Nam Hương là nhà thơ hiện đại, thuộc thế hệ hậu chiến. Trên mảnh đất “cảm thức nguồn cội” - vốn dĩ là thi đề đã từng thành công rực rỡ, đóng thành mốc son sáng chói tôn vinh những thi hào tiền bối tuyệt tác như: Nguyễn Bính, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Duy, Thạch Quỳ, Bằng Việt, Viễn Phương… Thế nhưng, hồn thơ Trương Nam Hương đã vượt qua thử thách lớn và gieo hạt mầm ấn tượng nội tâm riêng khác - Không hề “yểu xanh” so với những tán của các thi dân thế hệ trước đã thâm canh. Với đồng bối, thì thơ Anh đã trở thành số một, vị trí không thể thay thế trong biểu đồ thi ca “Những mùa thu cũ”…

Yếu tố làm nên chất trữ tình vinh diệu trong thơ Trương Nam Hương, trước hết từ bản thể một tâm hồn “tinh tế bẩm sinh”. Trên phương diện nghệ thuật thì thi cách/ “mánh khóe” dụng ngôn bằng thanh trắc. Với sự khéo léo xếp đặt chấm phá những động từ “trúc trắc” vào trong tứ thơ đang rất ngọt đã tạo nên ấn tượng tri giác độc đáo. Đó là sáng tạo tuyệt vời để xác lập trên nền tảng cũ mòn một điều sáng lạ. Tất nhiên tứ - tình – hình ảnh – âm thanh phải rất tài hoa tuyệt thế: “Bừng thức tinh khôi/ Bông hoa khe khẽ hát/ Anh áp nhẹ vào thăm thẳm nhan sắc/ Anh bắt gặp vòm cây em trẻ lại/ Suối sông thấm đẫm mưa hè/ Mùi ngây ngái của ngô non bùn bãi/ Chú nhái nằm thoi thóp lá sen che”.

Lối tạo tác ngang nghạnh giữa mạch thơ đó, nếu ngòi bút không đủ khéo léo, sẽ làm cho cấu hình thẩm mỹ trở thành quái gỡ trong tạo lập văn bản tình thơ miền nhớ - vốn dĩ rất lặng lẽ, ngọt bùi, ân cần và tràn dư thao thiết. Trương Nam Hương đã xử lý chính xác tuyệt đối, cho âm thanh của trí tưởng sau cùng, gu vị còn đọng lại vẫn mượt mà không một gút sợi. Vừa cầu kì, vừa giản dị, vừa trong trẻo lại rất thanh tân. Có thể nói trong thơ Trương Nam Hương có bối cảnh nghệ thuật hương thôn mang điệu hồn Nguyễn Bính, nhưng giữa bầu không mướt như nhung lại được uốn cong chiều kích để “chuyển đổi cảm giác”, tạo thành khối hình tưởng tượng cho cảm xúc và kí ức đắp bồi thành sáp mềm lấp lánh:

- Nến tiễn buồn thương- lệ ngún thân

- Trăng chếch sân đình đỏ miếng cau

- Ta ngồi ngóng khoảng chiều im, thót buồn

- Em vít tình anh… tưởng bóng cây

- Sóng nhớ nghiêng duềnh cả mép ghe

- Nắng trong mắt những ngày thơ bé/ Cũng mơn xanh như thể lá trầu.

- Hoa sữa muộn mùa thơm thắc thỏm

- Lêu têu chân đất quạt mo thằng bờm

Các thanh trắc được lựa lọc và xếp đặt một cách sắc sảo đã kiến tạo sự cách tân trong thi pháp nhưng ảnh tượng nghệ thuật quá đỗi “ước lệ”- trong trẻo trắng ngần bầu không thôn ấp, cỏ, gió và nắng và bóng làng xa, vãn chợ chiều lại thể hiện cái bình yên sâu sắc trong thánh địa tâm hồn. Sự đan xen cũ mới tài tình đã làm cho thơ Anh trẻ trung, yêu đời - Dễ “đánh lừa tri giác”, để rồi thò sâu được vào trong lòng thế hệ hôm nay mà bắt đầu sửa sang/ chữa lành cho một căn bệnh mang tầm vóc thời đại: Vô cảm.

Không đứng “Góc sân” nhìn “khoảng trời” như Thần Đồng, Trương Nam Hương chọn “nhân sinh quan” “Góc cỏ” để nhìn những “nem nép” thân phận đang thể nghiệm hành vi thế thái nhân tình một cách trộm giấu xấu hổ. “Trong im lặng biếc xanh”, ta thấy xanh biếc màu sắc sự sống tồn tục nghiệt ngã của những sinh linh. Nhưng rồi sau tất cả, tất cả những “hành giả”, những “động tác” “cơ man là đê hèn trơ trụi” vẫn có một chồi non ủ đất, no sương, đợi chờ để một ngày tách vỡ, bỡ ngỡ gặp người…

"Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man gió và vầng trăng

Có nụ hôn lắm mùi mặc cả

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man nắng và tự do

Có dâng hiến không đòi giá thú

 

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man nhớ và cô đơn

Có câu thơ quặn đau sinh nở

 

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man quên và vô ơn

Có điếu thuốc vội vàng dụi lửa

 

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man bụi và chúng sinh

Có ánh mắt khóc cười khép mở

 

Trong im lặng biếc xanh của cỏ

Cơ man sương và lá đêm

Có thổn thức đợi mùa… để vỡ!"

Đọc thơ Anh từ thưở mười ba cho đến bây giờ tôi vẫn thế - “vẹn nguyên”: Một tình yêu được vẽ ra “lồm cồm” nơi nền đất, sàn nhà - Nguệch ngoạc những nét đầu tiên tôi tập làm thầy giáo chép lên cánh cửa hình ảnh quê cha, “người lạ kẻ quen”: “Ta nghe trong lời mẹ hát… / Chòng chành nhịp võng ca dao…”.

Ra đời vượt núi băng sông, lăn mình quay quắt qua những ngọn cao cuộc sống với nhiều thử thách chông gai. Cho đến khi trở lại với “THỜI NẮNG XANH”, vẫn vậy trong tôi: cúi nhìn về phía hương thôn - một bóng nước thẫm in nền trời chiều hôm nắng quái. Tôi náu trong tiếng thơ ấy như nép mình sau vạt áo lưng mẹ, một tấm khiên vòng tay vững chãi cha ôm. Có thể chăng một lớp vải liệm, một nắp áo quan ngày gánh nội ra đồng. Hay tôi đã luôn ở trong tiếng thơ Anh như cái bóng đứa trẻ ngây thơ hồn hậu náu sau bờ tre mái rạ để nghe:Run trên gốc rễ cũ càng/ Tôi trong dáng ngoại, bóng làng chở che”.

Bài in trên tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 10/2025

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm