TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới

Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-21 13:42:06
mail facebook google pos stwis
198 lượt xem

Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

Ở Việt Nam, bước ngoặt quan trọng là sự ra đời của Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 do Tổng Bí thư Trường Chinh khởi thảo, được xem là cương lĩnh đầu tiên của Đảng về văn hóa, coi văn hóa - văn nghệ là một mặt trận, một vũ khí trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Sau Đổi mới, chuỗi văn kiện như Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nghị quyết 23-NQ/TW (2008) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kì mới, Nghị quyết 33-NQ/TW (2014) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước càng mở rộng đáng kể việc khái niệm hóa vị thế con người trong văn học nghệ thuật, nhấn mạnh vai trò văn học nghệ thuật đối với việc “bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách, lối sống con người Việt Nam”. Bài viết này, trên nền tảng một khung lí luận chung về quan niệm “con người” trong chủ nghĩa Marx, đặt Việt Nam làm trường hợp trung tâm, coi Trung Quốc như đối sánh, nhằm nhận diện rõ hơn những con đường bản địa hóa khác nhau, cũng như những thách thức chung mà hai nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa đang phải đối mặt trong bối cảnh toàn cầu hóa tri thức và chuyển đổi số.

1. Quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist

Từ góc độ triết học, quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist trước hết xuất phát từ chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong Bản thảo kinh tế - triết học (1844), Marx phân tích hiện tượng tha hóa của người lao động trong chủ nghĩa tư bản: con người bị tha hóa khỏi sản phẩm lao động, khỏi quá trình lao động, khỏi “bản chất loài” và khỏi chính đồng loại, từ đó đánh mất tính toàn vẹn của mình. Từ bối cảnh đó, văn nghệ được xem như một trong những phương thức đặc thù để con người “chiếm lĩnh thế giới”, khôi phục những chiều kích phong phú của cảm xúc và tưởng tượng bị đời sống công nghiệp thu hẹp. Khi khẳng định “bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”, Marx gián tiếp đặt nền tảng cho một quan niệm mở về con người trong văn học nghệ thuật: con người không chỉ là thực thể sinh học hay cá nhân trừu tượng, mà là nút giao của các quan hệ giai cấp, dân tộc, giới tính, văn hóa. Điều này giúp lí luận văn nghệ marxist có khả năng tiếp cận những chủ đề lớn như đấu tranh giai cấp, giải phóng dân tộc, phê phán chủ nghĩa thực dân, đồng thời mở ra không gian suy tư về tha hóa, kí ức, chấn thương, đời sống nội tâm trong bối cảnh hiện đại và hậu hiện đại.

Từ bình diện mĩ học, lí luận văn nghệ marxist luôn nhấn mạnh tính biện chứng giữa phản ánh hiện thực và tính sáng tạo của hình thức nghệ thuật. Trong truyền thống hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, yếu tố phản ánh và công cụ tính nhiều khi được phóng đại, khiến văn nghệ bị giản lược thành tuyên truyền minh họa; tuy nhiên, ngay trong di sản của Marx và Engels, ta đã thấy một quan niệm tinh tế hơn về nghệ thuật: tác phẩm nghệ thuật không phải là “bản sao chụp” hiện thực mà là hình thức cảm tính hóa của những mâu thuẫn lịch sử, nơi “tính tất yếu lịch sử” được chuyển hóa thành những số phận và hình tượng có sức lay động. Ở Việt Nam, các tổng thuật lí luận trên nền tảng marxist đã chỉ ra khá rõ điều này: bài Nền tảng hệ thống lí luận văn nghệ Việt Nam trên tạp chí Cộng sản nhấn mạnh luận điểm về lao động như nguồn gốc của con người và văn nghệ, coi văn nghệ là hình thức hoạt động đặc thù của con người trong quá trình đấu tranh với tự nhiên và xã hội. Các nghiên cứu của Trần Đình Sử về “lí luận văn học marxist trong bối cảnh toàn cầu hóa tri thức” tiếp tục khẳng định sức sống của lí luận marxist nằm ở chỗ nó có thể kết hợp phê phán kinh tế - chính trị với phân tích diễn ngôn, mở đường cho việc đọc lại văn học Việt Nam như một không gian nơi “con người” vừa là chủ thể lịch sử, vừa là sản phẩm của những cơ chế quyền lực và kí ức tập thể. Từ cơ sở này, việc khảo sát quan niệm “con người” trong văn nghệ Việt Nam không chỉ là lặp lại các khái niệm kinh điển, mà là thử nghiệm khả năng của lí luận marxist khi đối diện với những hiện tượng mới của văn học sau Đổi mới và trong kỉ nguyên số, nơi thân phận cá nhân, chấn thương, di dân, giới và bản dạng ngày càng trở thành chủ đề trung tâm.

Ở bình diện thực tiễn, có thể thấy khung “con người - lịch sử - tha hóa - giải phóng” của chủ nghĩa Marx được cụ thể hóa khá sinh động trong nhiều tác phẩm văn học, điện ảnh, sân khấu Việt Nam trước và sau Đổi mới. Bộ phim Cánh đồng hoang (1979) của đạo diễn Nguyễn Hồng Sến tái hiện không gian Đồng Tháp Mười thời chiến tranh như một “bản hùng ca trữ tình” về người nông dân - du kích, nơi thân phận nhỏ bé của con người (hai vợ chồng Ba Đô và đứa con nhỏ trên chiếc xuồng giữa biển nước và bom đạn) gánh vác những giá trị lớn lao của dân tộc và cách mạng. Ở đây, “con người cách mạng” không phải là hình tượng trừu tượng mà là người lao động cụ thể, vừa anh hùng vừa mong manh trước bạo lực chiến tranh, đúng với tinh thần marxist coi con người là chủ thể và sản phẩm của các quan hệ xã hội. Sau 1975, những bộ phim như Mùa len trâu (2004, dựa trên truyện của nhà văn Sơn Nam) mở rộng trục nhìn sang thân phận người nông dân Nam Bộ trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và cấu trúc xã hội truyền thống, phơi bày những dạng thức tha hóa khác - bạo lực, nghèo đói, bất bình đẳng - đồng thời vẫn giữ niềm tin vào khả năng tự ý thức và chuyển hóa của con người. Trên sân khấu, kịch Lưu Quang Vũ từ Tôi và chúng ta, Hồn Trương Ba, da hàng thịt đến Lời nói dối cuối cùng cho thấy sự vận dụng linh hoạt chủ nghĩa hiện thực phê phán marxist: nhân vật bị kẹt giữa cơ chế quan liêu, lợi ích nhóm, sự xuống cấp đạo đức, nhưng vẫn mang trong mình khát vọng tự do, trung thực, đổi mới - tức là vẫn hướng tới hình ảnh con người “toàn diện hơn” về đạo đức và ý thức công dân. Những thực tiễn đó cho thấy lí luận marxist về con người và văn nghệ không chỉ tồn tại trong các văn bản kinh điển, mà còn sống động trong những lựa chọn thẩm mĩ, cấu trúc nhân vật và cách tổ chức xung đột của văn học, điện ảnh, sân khấu Việt Nam thời chiến và hậu chiến.

2. Quan niệm “con người” trong lí luận và thực tiễn văn nghệ Việt Nam

Ở Việt Nam, quan niệm marxist về “con người” trong văn nghệ được định hình khá sớm, không chỉ qua việc dịch và tiếp nhận các văn bản kinh điển, mà quan trọng hơn qua những văn kiện do Đảng Cộng sản Việt Nam soạn thảo trong bối cảnh đấu tranh giải phóng dân tộc. Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 khẳng định văn hóa bao gồm tư tưởng, học thuật, nghệ thuật, nhấn mạnh ba nguyên tắc dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa và xem văn hóa - văn nghệ như một mặt trận, một vũ khí tinh thần trong cuộc đấu tranh chống phát xít, thực dân. Điều này có nghĩa: “con người” trong quan niệm văn nghệ lúc này vừa mang bản sắc dân tộc (giải phóng khỏi ách nô dịch tinh thần), vừa mang tính giai cấp (thoát khỏi bóc lột), vừa gắn với lí tưởng cách mạng. Trong thơ Tố Hữu, truyện ngắn Nam Cao giai đoạn tiền khởi nghĩa và kháng chiến, hình tượng “con người mới” dần hình thành trên nền đối thoại căng thẳng giữa cái cũ và cái mới, giữa thân phận cá nhân và nghĩa vụ lịch sử. Giai đoạn 1945 - 1975, đường lối văn hóa văn nghệ nhấn mạnh chức năng động viên, cổ vũ, xây dựng con người tập thể, người chiến sĩ - công dân trong chiến tranh; văn học mang đậm màu sắc sử thi, lí tưởng nhưng cũng tiềm ẩn nhu cầu được nói lên những phần bóng tối, mất mát và bi kịch

Từ sau Đổi mới (1986), quan niệm về “con người” trong văn nghệ Việt Nam bước vào một giai đoạn phức tạp hơn, khi nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mở ra không gian tự do lớn hơn cho cái tôi cá nhân, đồng thời đem theo những hình thức tha hóa mới. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, tiếp đó là Nghị quyết 23-NQ/TW (2008) và 33-NQ/TW (2014) đều nhấn mạnh văn học nghệ thuật là bộ phận “đặc biệt tinh tế” của văn hóa, có vai trò quan trọng trong xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Trong thực tiễn, nhiều tác phẩm xuất sắc như Thời xa vắng của Lê Lựu, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân là những trường hợp tiêu biểu cho sự dịch chuyển từ hình tượng con người - chủ thể tập thể trong chiến tranh sang con người cá nhân với những ám ảnh kí ức, những giằng xé nội tâm, những nỗ lực tự kiến tạo bản sắc trong một xã hội đầy biến động. Thời xa vắng được đánh giá là một trong những tiểu thuyết mở đầu cho dòng văn học tự nhận thức ở Việt Nam, trong đó bi kịch của Giang Minh Sài là bi kịch của con người cá nhân “không được là chính mình”, mắc kẹt giữa những chuẩn mực cộng đồng, làng xã, chiến tranh và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ những trường hợp này có thể thấy, quan niệm marxist về “con người” trong văn nghệ Việt Nam đã chuyển từ chỗ nhấn mạnh con người - công dân, con người - chiến sĩ sang con người như chủ thể kí ức, chủ thể tự vấn, qua đó buộc lí luận phải mở rộng từ “con người cách mạng” sang “con người trong lịch sử và trong trải nghiệm tồn tại”.

Bên cạnh Nỗi buồn chiến tranh và Thời xa vắng, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là một trường hợp tiêu biểu cho bước chuyển từ hình tượng “con người sử thi” sang “con người tự vấn” trong văn học Việt Nam hậu Đổi mới. Từ góc nhìn marxist, Tướng về hưu đã đẩy vấn đề “con người cách mạng” sang một tình huống khó hơn: làm thế nào để giữ được phẩm giá, lòng trung thực, ý thức trách nhiệm trong một cấu trúc xã hội chuyển đổi, nơi đồng tiền và vị thế mới có nguy cơ tha hóa những giá trị từng được coi là thiêng liêng. Như vậy, thực tiễn văn học Đổi mới đã buộc quan niệm marxist về “con người” ở Việt Nam phải dịch chuyển từ khung “con người - giai cấp - lịch sử” sang khung “con người - thiết chế - thị trường”, trong đó yếu tố nhân phẩm, trách nhiệm công dân và khả năng tự phán xét lương tâm trở thành trung tâm của hình tượng nhân vật.

3. Trung Quốc như một đối sánh: tương đồng và dị biệt trong chuyển đổi quan niệm “con người”

Trung Quốc và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng về con đường phát triển (đều là các nước xã hội chủ nghĩa ở phương Đông, chịu ảnh hưởng Nho - Phật - Đạo, trải qua chiến tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội), song sự khác biệt về quy mô, vị thế quốc tế và độ dày văn minh khiến con đường bản địa hóa chủ nghĩa Marx - trong đó có lí luận văn nghệ - có những hướng nhấn khác nhau. Ở Trung Quốc, diễn văn tại Diên An năm 1942 của Mao Trạch Đông sớm xác lập nguyên tắc “văn nghệ phục vụ công - nông - binh”, đặt nhân dân lao động vào vị trí trung tâm, song quan niệm “con người” trong giai đoạn này gắn chặt với khung đấu tranh giai cấp; văn nghệ mang đậm tính công cụ, nhiều khi lấn át chiều sâu nhân học. Sau cải cách mở cửa, cùng với sự trỗi dậy của kinh tế thị trường và giao lưu quốc tế, văn học Trung Quốc chứng kiến những làn sóng “văn học vết thương”, “tầm nguyên lịch sử”, “tâm hồn cá nhân”, trong đó con người được nhìn như chủ thể của kí ức chấn thương, của khát vọng tự do cá nhân. Đến thời Tập Cận Bình, tư tưởng “lấy nhân dân làm trung tâm” trong văn nghệ, kết hợp với chiến lược “hai sự kết hợp”, đã tạo nên một mô hình mới: con người vừa là chủ thể lịch sử - dân tộc, vừa là người thụ hưởng “đời sống tinh thần phong phú”, đồng thời là đối tượng của mục tiêu xây dựng “cộng đồng chung vận mệnh nhân loại”.

Nếu đặt các tác phẩm tiêu biểu vào bình diện so sánh, có thể thấy rõ hơn những khác biệt trong cách kiến tạo hình tượng “con người”. Vở ca kịch - sau này được chuyển thể thành phim và ballet - Bạch Mao Nữ là một trong những tác phẩm mẫu mực của văn nghệ cách mạng Trung Quốc, trong đó hình tượng người nông dân nghèo khổ dưới ách địa chủ được đặt đối lập với hình ảnh “xã hội mới” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; thông điệp trung tâm được cô đọng trong khẩu hiệu “xã hội cũ biến người thành ma, xã hội mới biến ma thành người”. Ở giai đoạn gần đây, loạt phim truyền hình như Sơn Hải Khánh lấy đề tài xóa đói giảm nghèo, tái hiện những thay đổi trong đời sống nông thôn Tây Bắc và sự kiên cường của con người vùng sa mạc, trở thành ví dụ tiêu biểu cho việc hiện thực hoá yêu cầu “văn nghệ lấy nhân dân làm trung tâm” trong bối cảnh mới. So với Việt Nam, nơi văn học sau Đổi mới đi sâu vào kí ức chiến tranh và bi kịch cá nhân, thì văn nghệ Trung Quốc hiện nay biểu hiện mạnh mẽ hơn ở các diễn ngôn về “văn minh Trung Hoa”, “giấc mộng Trung Hoa”, xoay quanh những chủ đề hiện đại hóa, xóa đói giảm nghèo, đổi mới nông thôn, đô thị hóa và “sức mạnh mềm” quốc gia. Đối sánh Việt - Trung cho thấy: cùng xuất phát từ một hệ hình lí luận marxist chung, nhưng đường cong vận động của quan niệm “con người” trong văn nghệ lại phản chiếu những ưu tiên chiến lược khác nhau - Việt Nam chú trọng hàn gắn kí ức, xây dựng nhân cách trong một xã hội chuyển đổi; Trung Quốc nhấn mạnh xây dựng hình tượng con người gắn với một “văn minh mới” và vai trò cường quốc văn hóa.

Khi đối chiếu với Trung Quốc, có thể thấy những trục “con người - cách mạng - hiện đại hóa” được thể hiện trong nghệ thuật Việt Nam vừa gần gũi lại vừa khác biệt. Nếu Bạch Mao Nữ hay loạt phim như Sơn Hải Khánh nhấn mạnh quá trình “giải phóng” và “phát triển” người nông dân trong hành trình thoát nghèo, xây dựng nông thôn mới, gắn với câu chuyện “giấc mộng Trung Hoa”, thì điện ảnh Việt Nam lại thiên về việc khắc sâu tính bi tráng và riêng tư của thân phận người dân trong chiến tranh và hậu chiến. Cánh đồng hoang không chỉ là một phim chiến tranh tiêu biểu được vinh danh trong nhiều bảng xếp hạng mà còn được nhìn như “bản hùng ca trữ tình gói gọn triết lí dân tộc”, nơi đôi vợ chồng du kích với đứa con nhỏ chống lại máy bay, vũ khí tối tân, thể hiện hình ảnh “kẻ yếu” kiên cường trước “sức mạnh sắt thép”. Trong khi đó, Mùa len trâu đi sâu vào cấu trúc cộng đồng làng xã Nam Bộ, phơi bày sự bấp bênh, bạo lực, nhưng cũng cho thấy cách con người tự nâng mình lên qua kinh nghiệm đau đớn của sinh kế và tình cảm. Những hình tượng ấy cho thấy, so với Trung Quốc - nơi hình ảnh “người dân” nhiều khi được gắn trực tiếp với các chương trình quốc gia như xóa đói giảm nghèo, hiện đại hóa nông thôn - thì nghệ thuật Việt Nam thường nhấn mạnh chiều sâu trải nghiệm bi kịch và khả năng tự phản tỉnh của cá nhân trong lòng lịch sử, từ đó làm nổi bật một kiểu “con người” mang màu sắc Việt Nam: vừa gắn với đại tự sự cách mạng, vừa không bị hoà tan vào đó, luôn giữ một biên độ riêng cho kí ức, nỗi buồn và tiếng nói lương tâm.

4. Một vài suy ngẫm

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tri thức và chuyển đổi số, quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam đang đứng trước những câu hỏi mới. Thứ nhất, sự bùng nổ của công nghiệp văn hóa, giải trí, nền tảng số và kinh tế sáng tạo khiến văn học nghệ thuật ngày càng chịu sức ép của logic thị trường: thị hiếu tức thời, “xu hướng”, “nội dung ngắn” có nguy cơ làm phẳng đi chiều sâu tư duy, trong khi những vấn đề phức tạp về lịch sử, kí ức, thân phận, tha hóa lại khó tìm được không gian tiếp nhận rộng rãi. Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Đảng đã nhấn mạnh: văn học nghệ thuật là một bộ phận quan trọng, “đặc biệt tinh tế” của văn hóa, tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm và thẩm mĩ của nhân dân, là một trong những nguồn lực to lớn góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Điều đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp quan niệm “con người” trong văn nghệ: không chỉ là con người của “sự nghiệp cách mạng” hay “công cuộc đổi mới”, mà còn là con người đang sống giữa những dòng chảy dữ liệu, thuật toán, hình ảnh, âm thanh tràn ngập, phải tự bảo vệ và tái kiến tạo nhân cách trong môi trường kĩ thuật số. Các trao đổi của GS.TS. Trần Đình Sử về tình hình lí luận văn học Việt Nam hiện nay cho thấy sự thiếu hụt của một hệ thống khái niệm đủ linh hoạt để đọc các hiện tượng mới này, đồng thời kêu gọi phát triển một lí luận vừa bám vào nền tảng marxist, vừa mở ra đối thoại với các lí thuyết về hiện đại, hậu hiện đại, kí ức, diễn ngôn và nhân học văn hóa.

Thứ hai, những vấn đề “kinh điển” của chủ nghĩa Marx như tha hóa lao động, bất bình đẳng, bóc lột… nay tái xuất trong hình thức mới: lao động nền tảng, kinh tế Gig Economy, sự giám sát bằng dữ liệu, quyền riêng tư, bạo lực thuật toán… khiến con người có nguy cơ bị giản lược thành “người dùng”, “người lao động số”, “dữ liệu cá nhân”. Điều này mở ra một không gian quan trọng để lí luận văn nghệ marxist đối thoại với nhân học kĩ thuật, triết học kĩ thuật số: Văn học và nghệ thuật sẽ phản ánh, phê phán, hoặc thậm chí can dự vào việc tái cấu trúc nhân tính như thế nào? Ở Việt Nam, những tác phẩm trực tiếp đi vào chủ đề trí tuệ nhân tạo, thế giới ảo, thân phận con người trong không gian mạng còn chưa nhiều, nhưng xu hướng ấy đã manh nha trong văn xuôi đương đại, phim ảnh, nghệ thuật số.

Các bản tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 23 tại một số địa phương nhấn mạnh vai trò của văn học nghệ thuật trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, trong giáo dục thẩm mĩ và định hướng giá trị cho thanh niên, gắn với yêu cầu “xây dựng và phát triển con người Việt Nam” trong Nghị quyết 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2014 có thể cung cấp cho chúng ta một hướng gợi mở: tái khẳng định tính nhân dân và tính phê phán của lí luận văn nghệ marxist, nhưng triển khai nó trong những “địa hạt mới” - từ không gian mạng, công nghiệp sáng tạo, đến mĩ học của dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, nơi “con người” vừa là chủ thể sáng tạo, vừa phải tự bảo vệ mình khỏi những hình thức tha hóa tinh vi hơn của tư bản số.

Có thể khẳng định, trong thời đại toàn cầu hóa và chuyển đổi số, nhiệm vụ trung tâm của lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam không chỉ là bảo vệ một “hệ tư tưởng chính thống”, mà là tái khẳng định và làm phong phú hơn câu hỏi: con người là ai, sống để làm gì, và văn nghệ có thể giúp con người sống một cuộc đời tự do và có ý nghĩa như thế nào. Trả lời một cách sáng tạo câu hỏi ấy, đồng thời gắn nó với thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam hôm nay, chính là con đường để lí luận văn nghệ marxist tiếp tục khẳng định sức sống của mình trong thế kỉ XXI.

Ngô Viết Hoàn

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm