TIN TỨC
  • Góc nhìn văn học
  • Nỗi trăn trở của người làm chính sách trước những vấn đề nhân sinh

Nỗi trăn trở của người làm chính sách trước những vấn đề nhân sinh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-07 17:29:36
mail facebook google pos stwis
250 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Những ngày gần đây, dư luận xã hội không khỏi bàng hoàng trước thông tin gần 300 tấn thịt lợn nhiễm bệnh bị tuồn ra thị trường, len lỏi vào cả bữa ăn học đường. Những mâm cơm tưởng như an toàn nhất - nơi trẻ em ăn uống mỗi ngày - bỗng trở thành tâm điểm của nỗi lo lắng. Phụ huynh hoang mang, nhà trường lúng túng, cơ quan quản lý khẩn trương rà soát, còn người làm chính sách thì không khỏi trăn trở.

 

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga - Phó trưởng đoàn chuyên trách, Đoàn ĐBQH Hải Phòng

 

Nhưng nếu nhìn rộng ra, đây không phải là một sự kiện đơn lẻ. Trước đó, xã hội đã nhiều lần chứng kiến những vụ việc tương tự: thuốc giả len vào bệnh viện, sữa giả, mỹ phẩm giả, thực phẩm chức năng kém chất lượng tràn lan trên thị trường. Mỗi vụ việc, khi được phanh phui, đều gây chấn động dư luận, kéo theo những đợt kiểm tra, chấn chỉnh. Nhưng rồi sau đó, dường như đâu lại vào đấy, và những câu chuyện tương tự vẫn lặp lại dưới một hình thức khác.

Điều khiến người làm chính sách trăn trở không chỉ là một vụ việc cụ thể, mà là một câu hỏi lớn hơn: Vì sao những điều lẽ ra không được phép xảy ra, vẫn cứ tái diễn? Nguyên nhân thực sự là gì?

 

Là khoảng cách giữa chính sách và cuộc sống

Trong nhiều năm qua, hệ thống pháp luật về an toàn thực phẩm, quản lý dược phẩm, mỹ phẩm… không ngừng được hoàn thiện. Các quy định ngày càng chặt chẽ hơn, quy trình kiểm soát ngày càng được chuẩn hóa, trách nhiệm các bên liên quan cũng được quy định rõ ràng hơn.

Nhìn trên giấy tờ, có thể nói rằng chúng ta không thiếu quy định. Nhưng thực tế lại đặt ra một nghịch lý: càng nhiều quy định, càng nhiều quy trình, nhưng vi phạm vẫn xảy ra, thậm chí với quy mô ngày càng lớn và tinh vi hơn.

Vụ việc thịt lợn nhiễm bệnh vừa qua là một ví dụ điển hình. Để một lượng lớn thực phẩm không an toàn có thể đi từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển, phân phối và cuối cùng là vào bếp ăn trường học, chắc chắn không thể chỉ là sai sót ở một khâu. Đó là một chuỗi các mắt xích, và ở mỗi mắt xích, đã có những khoảng trống” cho vi phạm len vào.

Điều này cho thấy, vấn đề không nằm ở việc thiếu quy định, mà nằm ở khoảng cách giữa quy định và thực thi.

Chính sách, nếu không đi vào đời sống, sẽ chỉ dừng lại ở những văn bản đúng đắn nhưng thiếu hiệu lực. Và khoảng cách ấy, nếu không được nhận diện và thu hẹp, sẽ trở thành vùng xám” nơi những hành vi vi phạm có thể tồn tại.

 

Là khi ai cũng đúng” nhưng kết quả lại sai

Một thực tế đáng suy nghĩ là sau mỗi vụ việc, chúng ta thường nghe những lời giải trình quen thuộc: nhà trường khẳng định đã ký hợp đồng với đơn vị cung cấp có đủ giấy tờ; doanh nghiệp cung cấp cho biết sản phẩm có nguồn gốc hợp lệ; cơ quan kiểm dịch cho rằng đã thực hiện đúng quy trình... Mỗi khâu đều có thể chứng minh rằng mình làm đúng”. Nhưng kết quả cuối cùng lại là: thực phẩm bẩn đã vào đến bàn ăn của trẻ em.

Đây chính là một nghịch lý nguy hiểm: khi trách nhiệm bị chia nhỏ đến mức không ai chịu trách nhiệm đến cùng.

Trong một hệ thống như vậy, sai phạm không còn là lỗi cá nhân đơn lẻ, mà trở thành hệ quả của một cơ chế vận hành thiếu sự ràng buộc trách nhiệm rõ ràng. Khi mỗi khâu chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi hẹp” của mình, thì không có ai chịu trách nhiệm cho kết quả cuối cùng. Và khi đó, câu hỏi ai chịu trách nhiệm?” trở nên khó trả lời.

Nhưng xã hội, người dân không cần những lời giải thích vòng vo. Điều xã hội cần, người dân cần là một câu trả lời rõ ràng về trách nhiệm, và quan trọng hơn, là những hành động cụ thể để không tái diễn.

Hậu quả ghê gớm của những vụ việc như thực phẩm bẩn tuồn vào trường học không chỉ là việc sức khoẻ và tính mạng của rất nhiều học sinh bị đe doạ. Hậu quả của nó còn kinh khủng hơn nhiều. Đó là: niềm tin - thứ đang bị bào mòn. Nếu những vụ việc như vậy chỉ dừng lại ở phạm vi kỹ thuật, thì có thể xử lý bằng các biện pháp hành chính. Nhưng điều đáng lo hơn là tác động của nó đến niềm tin xã hội.

Khi phụ huynh không còn yên tâm với bữa ăn bán trú của con, khi họ phải tự chuẩn bị suất ăn mang theo, khi họ yêu cầu nhà trường công khai từng nguồn thực phẩm… thì đó không còn là vấn đề của riêng một trường học. Đó là dấu hiệu của sự khủng hoảng niềm tin.

Niềm tin không phải là thứ có thể ban hành bằng văn bản, cũng không thể được yêu cầu bằng mệnh lệnh hành chính. Niềm tin được xây dựng từ những trải nghiệm thực tế, từ sự nhất quán giữa lời nói và hành động.

Và một khi niềm tin bị tổn thương, việc khôi phục sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với việc xây dựng ban đầu.

Trong tất cả những câu chuyện này, điều khiến người làm chính sách day dứt nhất là: những người bị ảnh hưởng trực tiếp thường là những người yếu thế.

Trẻ em - những người chưa có khả năng tự bảo vệ mình - lại là đối tượng chịu rủi ro trong bữa ăn học đường. Người bệnh - những người đặt niềm tin vào thuốc men - có thể đối mặt với thuốc giả. Người tiêu dùng bình thường, không có đủ thông tin và khả năng kiểm chứng dễ trở thành nạn nhân của hàng giả, hàng kém chất lượng.

Chúng ta vẫn nói rằng chính sách phải hướng tới con người, lấy con người làm trung tâm. Nhưng những vụ việc như vậy buộc chúng ta phải tự hỏi: có những kẽ hở chính sách nào đã và đang bị lợi dụng? Có chính sách nào chưa thực sự đi đến được những người cần chính sách nhất hay không?

Nếu những người yếu thế vẫn dễ bị tổn thương, thì đó là dấu hiệu cho thấy hệ thống bảo vệ chưa đủ mạnh, cần tiếp tục rà soát để củng cố và sửa đổi nhanh chóng.

Để giải quyết vấn đề, chúng ta không thể chỉ dừng ở việc xử lý từng vụ việc, mà cần nhìn thẳng vào những nguyên nhân sâu xa.

Trước hết, đó là điểm nghẽn trong thực thi chính sách, pháp luật. Quy định có thể đầy đủ, nhưng nếu thực thi không nghiêm, không nhất quán, thì mọi quy định đều có thể bị vô hiệu hóa.

Thứ hai là tâm lý sợ trách nhiệm. Trong một số trường hợp, cán bộ có thể chọn cách làm an toàn”, làm đúng quy trình trên giấy tờ, nhưng không dám đi sâu kiểm tra thực chất. Điều này dẫn đến tình trạng làm cho đủ”, thay vì “làm cho đúng”.

Thứ ba là cơ chế giám sát chưa đủ mạnh và chưa đủ độc lập. Khi việc giám sát chủ yếu mang tính nội bộ, thiếu sự tham gia thực chất của xã hội, thì khả năng phát hiện sớm vi phạm sẽ bị hạn chế.

Và cuối cùng, không thể không nhắc đến yếu tố lợi ích kinh tế. Khi lợi nhuận từ việc làm giả, làm bẩn là quá lớn, trong khi chế tài chưa đủ sức răn đe, thì vi phạm vẫn có “đất sống”.

 

Người làm chính sách phải làm gì?

Trước những vấn đề đó, người làm chính sách không thể chỉ dừng ở sự trăn trở, mà phải biến trăn trở thành hành động.

Trước hết, cần theo đến cùng việc thực thi chính sách. Không chỉ ban hành luật, mà phải giám sát việc thực hiện đến kết quả cuối cùng. Quốc hội, với vai trò giám sát tối cao, cần tiếp tục đổi mới phương thức giám sát theo hướng sâu hơn, thực chất hơn.

Thứ hai, cần đặt con người vào trung tâm một cách thực chất. Mọi chính sách cần được đánh giá không chỉ bằng tính hợp lý trên giấy tờ, mà bằng mức độ an toàn, mức độ hài lòng và cảm nhận được bảo vệ của người dân.

Thứ ba, cần gọi đúng tên trách nhiệm. Không thể chấp nhận tình trạng tập thể chịu trách nhiệm”. Mỗi khâu, mỗi cá nhân cần được xác định rõ trách nhiệm, gắn với chế tài cụ thể.

Thứ tư, cần tạo điều kiện để người dám làm được bảo vệ. Phân biệt rõ giữa sai phạm do vụ lợi và rủi ro trong quá trình đổi mới. Nếu không có cơ chế bảo vệ phù hợp, thì rất khó khuyến khích sự chủ động, sáng tạo.

Cuối cùng, cần tăng cường minh bạch và sự tham gia của xã hội. Khi thông tin được công khai, khi người dân có thể giám sát, thì khả năng gian lận sẽ giảm đi đáng kể.

Người làm chính sách không thể không trăn trở trước những vấn đề như vậy. Nhưng trăn trở không phải để bi quan, mà để nhìn rõ hơn trách nhiệm của mình.

Mỗi vụ việc, dù đau lòng, cũng là một lời nhắc nhở rằng công việc của người làm chính sách không chỉ là xây dựng những quy định đúng đắn, mà còn là đảm bảo những quy định đó được thực hiện đến nơi đến chốn.

Chính sách chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó chạm đến đời sống. Và hơn thế, khi mỗi con người - đặc biệt là những người yếu thế - có thể cảm nhận được rằng họ đang được bảo vệ, không phải bằng lời hứa, mà bằng những hành động cụ thể, nhất quán và có trách nhiệm.

Đó cũng chính là thước đo cao nhất của một hệ thống quản trị vì con người.

Nguyễn Thị Việt Nga

Phó trưởng đoàn chuyên trách, Đoàn ĐBQH Hải Phòng

Bài viết liên quan

Xem thêm
Giữ trẻ em ở lại với văn chương
Áp lực học hành, nhịp sống gấp gáp và sức hút của giải trí số khiến trẻ em đang dần xa những trang sách. Để văn học thiếu nhi tìm lại vị trí trong đời sống hôm nay, điều quan trọng không nằm ở tác phẩm hay, mà ở môi trường đọc được nuôi dưỡng bền bỉ từ gia đình, nhà trường, người viết, nhà xuất bản và toàn xã hội. Từ đó, trẻ có thêm những khoảng lặng để mơ mộng, tưởng tượng và lớn lên cùng văn chương.
Xem thêm
AI “lên ngôi” văn đàn sẽ làm méo mó văn chương
Thuật toán AI khi được huấn luyện để “sáng tác” văn học thực chất là hành vi bóc lột sức lao động vốn hết sức vất vả, lao tâm khổ tứ của nhà văn, “cướp công” sáng tạo của họ. Trong khi đó, các ông chủ AI lại nghiễm nhiên hưởng lợi không chính đáng từ trí tuệ, mồ hôi, tâm sức lao động của nhà văn. Không chỉ vậy, khi những thuật toán AI lạnh lùng, vô cảm “sáng tạo” văn chương có thể sinh ra những đứa con tinh thần có hình hài nhưng không lành lặn sẽ dẫn đến sự dễ dãi, lệch lạc trong tiếp nhận tác phẩm của công chúng. Nguy hại nhất là AI có thể “giết chết” lý tưởng, khát vọng, động cơ, cảm hứng sáng tạo nghệ thuật chân chính của nhà văn. Nói mỉa mai, chua chát như một nhà văn, nếu để AI “lên ngôi” văn đàn thì nó không chỉ cướp “chiếc cần câu cơm” của nhà văn mà còn hủy hoại tương lai sự nghiệp sáng tác của họ.
Xem thêm
Cho ngày 30 tháng 4: Chuyện bây giờ mới kể
Thời gian là cỗ máy mài vô tình và tàn nhẫn đối với ký ức cá nhân. Trong biển thông tin hỗn loạn và nhiều kênh hôm nay, ký ức lại càng gặp nhiều thách thức thường trực và dữ dội. Một cách cổ sơ và thủ công cưỡng chống lại sự bào mòn vô tình và tàn nhẫn ấy là tìm dịp nhắc lại, thường xuyên nhắc lại.
Xem thêm
Cần chấm dứt việc truy đuổi người vi phạm giao thông
Tết Bính Ngọ về thăm quê, mình chứng kiến một vụ tai nạn giao thông hơi vô lý. Một lão nông điều khiển xe máy đang chạy trên đường, chợt lão nghe tiếng còi hụ của xe CSGT phía sau, ngỡ là cảnh sát đuổi mình nên lão tăng tốc chạy nhanh hơn. Đến đoạn km 108, QL 20 thì bị lạc tay lái, xe lao vào lề đường té bổ nhào, khiến mặt mày và tay chân lão bê bết máu. Hai anh CSGT dừng xe đỡ lão dậy cùng với người dân mang dầu, băng cad sơ cứu. Trong lúc băng lại vết thương, hai anh cảnh sát nói với lão nông và mọi người rằng, các anh chỉ truy đuổi xe của nam thanh niên vi phạm chứ không phải đuổi xe lão nông này. Do lão hoảng quá, cố chạy nhanh nên gây ra tai nạn. Sau đó ông lão được đưa vào bệnh viện chữa trị. Rất may là ông già này chỉ bị thương nhẹ nên xuất viện một ngày sau đó.
Xem thêm
Biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành hiệu quả
Mọi thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay đều khởi nguồn từ sự giao thoa tất yếu giữa ý chí của Đảng và khát vọng của nhân dân. Ý chí tại Đại hội XIV không chỉ đơn thuần là hệ thống văn kiện chính trị, mà là sự kết tinh cao độ giữa bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực dự báo chiến lược tài tình và khát vọng cháy bóng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Quyết sách của Đảng là thành quả của một quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc, dưới ánh sáng của lý luận khoa học và tinh hoa trí tuệ của toàn dân tộc.
Xem thêm
Biết không hay sao vẫn lao vào?
Trong lĩnh vực văn học, đã có trường hợp sử dụng AI để sáng tác đăng báo, thậm chí in thành sách. Dẫu biết, khi sử dụng AI, tác phẩm sẽ thiếu cảm xúc, khó tạo nên giọng điệu riêng, nhưng vì lợi nhuận, vì sốt ruột nổi tiếng, người ta vẫn lao vào.
Xem thêm
Chuyên đề: Chống AI lũng đoạn văn chương
Không còn là chuyện có nên hay không sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sáng tác văn học nữa, mà thực tế đang đặt ra yêu cầu ứng phó với việc lợi dụng, lạm dụng AI để tạo nên những sản phẩm mang tên tác giả cụ thể nhưng không thấm mồ hôi của lao động nghề nghiệp, không “đóng dấu” được bản sắc của người viết.
Xem thêm
Thời cơ mới cho sáng tạo văn học - nghệ thuật
Năm 2025 là một năm in dấu đậm trong lịch sử phát triển của đất nước, không chỉ bởi kỉ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, mà còn là năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị - xã hội quan trọng; kịp thời nhìn lại những tác động xã hội nhiều mặt, đồng thời rút ra nhiều vấn đề đáng và cần để tổ chức tốt hơn cho hoạt động kỉ niệm 100 năm ra đời của Đảng (1930 - 2030), 100 năm ra đời của chế độ mới (1945 - 2045) với nội dung thiết thực, nhiều hình thức mới mẻ, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc.
Xem thêm
Học sinh “đánh thức” văn học bằng trải nghiệm sáng tạo
Không dừng lại ở việc học văn qua trang sách, học sinh Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa (TP.HCM) đã biến văn chương thành một hành trình trải nghiệm đa giác quan. Dự án “Tiếng tơ lòng” cho thấy một hướng tiếp cận mới: đưa văn học dân gian và văn học trung đại sống lại trong đời sống hiện đại, bằng chính sự sáng tạo và cảm xúc của người học.
Xem thêm
Thúc đẩy việc dạy và học tiếng Việt trong thế hệ trẻ kiều bào tại Hàn Quốc
Ngày 12/4, Tọa đàm với chủ đề “Thực trạng và giải pháp phát triển việc giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam trong cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc” đã diễn ra tại thành phố Gwangju, Hàn Quốc.
Xem thêm
Bốn văn nhân, một mạch văn chương
Bốn con người, bốn phong cách, nhưng cùng chung một mạch nguồn: đi ra từ chiến tranh, sống và viết bằng trải nghiệm thật, và giữ trọn sự tử tế với văn chương.
Xem thêm
Văn chương Việt trong vòng xoáy AI
Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) đưa văn chương và người đọc vào thời khắc chuyển mình chưa từng có. Nó có thể được xem là công cụ hỗ trợ người viết, cũng gợi mở vô số thách thức cùng các áp lực mới cần đối mặt.
Xem thêm
Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
Xem thêm
Trại sáng tác cần tránh hình thức, lãng phí
Nhiều năm qua, các trại sáng tác văn học nghệ thuật được tổ chức đã góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ, đồng thời cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị. Tuy nhiên, mô hình cũ đã bộc lộ những hạn chế về hiệu quả, cách tổ chức.
Xem thêm
Làm mới “chất Việt” trong trang văn trẻ thơ
Giữa “bão” giải trí số, văn học thiếu nhi Việt Nam đang âm thầm chuyển mình để không bị lãng quên. Từ việc cách tân ngôn ngữ đến mở rộng biên độ sáng tạo, mỗi trang viết hôm nay là một nỗ lực nhằm tìm lại vị thế trang trọng nhất trong thế giới tinh thần của độc giả nhỏ tuổi.
Xem thêm
Một chuyến xe, một câu nói, và chiếc gương soi vào nhân cách
Có những câu chuyện, thoạt nhìn rất nhỏ. Một chuyến xe. Một cuộc tranh cãi. Một câu nói buột miệng.
Xem thêm
Từ tâm sự của vợ chồng dịch giả tiếng Đức đến dấu ấn cổ tích của Anh Grimm
Qua thư giới thiệu của nhà văn Hồ Anh Thái, tôi đã có cuộc hẹn tại nhà riêng của hai dịch giả Đức ngữ nổi tiếng là GS.TS Günter Giesenfeld và Marianne Ngo. Thành phố Marburg của họ cách chỗ tôi ở chỉ một tiếng rưỡi tàu. Vì biết người Đức rất tôn trọng giờ giấc nên tôi đã đến sớm hơn 2 tiếng đồng hồ để vừa tránh chậm tàu, có thể vừa tranh thủ thời gian dạo quanh một trong những thành phố cổ kính và huyền bí nhất nước Đức.
Xem thêm
Vị thế của văn chương trong Công nghiệp Văn hoá Việt Nam
Đến vùng xa vùng đảo và lắng nghe ý kiến của người dân, tôi càng thấy rõ hơn, cái nghèo về đời sống tinh thần, đời sống văn hoá vẫn chưa được người dân quan tâm. Họ cần những ích lợi vật chất và gần như xa lạ với nhu cầu thụ hưởng thành quả văn học nghệ thuật.
Xem thêm
Vì sao người Việt lại đi khinh thơ của mình?
Từ một cuộc đối thoại hóm hỉnh nhưng không kém phần thẳng thắn, bài phỏng vấn của Nguyễn Văn Mạnh - Nguyễn Đình Minh đặt ra một câu hỏi khiến nhiều người làm thơ phải giật mình: Vì sao người Việt lại đi khinh thơ của mình?
Xem thêm
Đấu tranh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng
Nghị quyết số 29-NQ/TW về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng xác định: “... Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia-dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước...”.
Xem thêm