TIN TỨC

Trắng đen đâu dễ dò tìm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-03-10 09:59:07
mail facebook google pos stwis
1139 lượt xem

"Mật ngữ trắng đen" – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống. Đọc tập thơ mới của Nguyên Bình, nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh nhận ra ở đó nỗ lực cách tân thi pháp, những suy tưởng mang màu sắc thiền – triết và cả những băn khoăn chưa dễ hóa giải của một người làm thơ trước cuộc đời nhiều “trắng đen”. Bài viết sau đây là một góc nhìn đọc – bình vừa đồng cảm vừa phản biện, từ đó gợi mở thêm cách tiếp cận tập thơ này với người yêu thơ. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả.

NGUYỄN NGỌC HẠNH

Mật ngữ trắng đen* in trên giấy ngà vàng vẫn đẹp, chất chứa nhiều tâm trạng, nỗi niềm của tác giả. Đó là cảm nhận đầu tiên khi tôi cầm tập thơ này của nhà thơ Nguyên Bình trên tay. Có điều gì ẩn khuất giữa cuộc đời này mà ông lại tạo ra mật ngữ riêng trong thơ mình. Vậy thì biết làm sao và cho đến bao giờ mới tìm ra sự đồng điệu với người yêu thơ đây? So với những tập thơ trước, thì Mật ngữ trắng đen này dường như Nguyên Bình muốn thay đổi mình, đi tìm một thi pháp mới, muốn diễn đạt, làm mới thơ mình theo xu hướng cách tân, hiện đại?

Những thi ảnh chất chứa đầy tâm trạng, gửi gắm những dằn vặt, ẩn ức trong tâm hồn mình, nhà thơ gợi mở cho người đọc để họ chạm đến nhiều cung bậc, tính đa nghĩa về những điều mà tác giả muốn ký thác, sẻ chia. Chẳng hạn, “tâm hồn thêu thùa giấc mơ/ tĩnh toạ trên chiếc lá sen / chiếc lá sen xanh/ cọng lá sen đứng thẳng/ bóng sen trắng in bảy bước đi (Tắm mát). Cảm giác đầu tiên bất chợt gợi mở đó là một không gian thiền với những cảm xúc mỹ học được ngấm sâu trong tâm hồn tác giả từ bao trang sách cổ xưa mà gần cả một đời Nguyên Bình đã nuôi giữ, chín lịm. Những bài thơ mang hơi thở của một người đã từng tri âm với dòng tư tưởng siêu hình, những câu hỏi về kiếp người, về những nỗi đau ẩn chứa biết bao đen trắng giữa cuộc đời này còn nhiều mê muội này:

Người đàn ông lững thững ra vườn cắt tỉa đám lá úa
tiêng tiếc một chút gì đã từng xanh
chắt chiu mỗi phút giây quang hợp
cây đã tặng ông những bông hoa…

                          (Có lẽ là mùa thu)

Nhà thơ cứ là người đàn ông ấy lững thững mà đi ra vườn cắt tỉa đám lá úa… Vừa cắt lại vừa nuối tiếc, chắt chiu như chính mình từng đêm đang ngồi trước bàn viết để “cắt tỉa” từng chữ, từng câu thơ tinh khiết để mang tặng cuộc đời này. Cứ “nạo vét” trầm tích biển cả… để “thêu thùa giấc mơ” “so lại dấu chân” với người mình yêu say đắm giữa đời này. Với xu hướng đó, Nguyên Bình có nhiều câu, nhiều bài hay cô đọng lấp lánh, nhưng cũng không ít những trang thơ trong Mật ngữ trắng đen này kể lể dài dòng, sa đà miêu tả tâm trạng mông lung, cứ thả hồn bay trăm ngã, nhiều bài thơ thiếu cấu tứ, nhàn nhạt không làm cho cảm xúc người đọc rung lên, chạm tới dòng tư tưởng chủ đạo mà tác giả muốn gửi gắm sẻ chia.

Ngay trong bài “Tri âm” in đầu tập thơ này có gì đó mơ hồ: Sáng nay tôi pha trà/ mùi hương loang ra khoảng sân hẹp/ làn khói mỏng vờn quanh nhành lan đu đưa/ tôi có cảm giác chiếc lá xanh hít hà/ dòng nhựa len lén luân lưu/ cánh hoa bung lụa trong nắng sớm. Rồi “tôi ôm hôn nhành lan/ soi chiếu tâm hồn mình… Rồi “hạt giống thơ bạn gieo/ sẽ nẩy mầm trong trái tôi/ bạn sẽ có một tri âm/ người đó là tôi/ dù tôi không là cái gì cả”. Tiếc là hơi nhiều lời, ngồi uống trà vậy thì được rồi, nhưng tìm “tri âm’ cho thơ thì lại quá khó.

Trong tập thơ này tôi lại thích những bài thơ lục bát của ông. Thơ ấy nó mang tâm hồn, cốt cách của Nguyên Bình hơn so với một số bài thơ tự do còn lại. Tôi chưa gặp nhà thơ lần nào, nhưng lâu nay đọc Nguyên Bình, tôi mường tượng ra hồn vía của nhà thơ, đó là một người yêu thơ say đắm, vừa chân quê, vừa cổ điển như một ông giáo làng sống ở một miền quê hiền lành, dung dị. Tôi thích ông“lượm lên cục đá bên đường/ nghe gì nhẹ hẫng một trường chân không”. Cũng là thiền, là triết học đó mà. Tôi còn nhớ ai đó đã nói lâu rồi, thơ trước hết phải giàu cảm xúc: “Rất thương tôi ẩn dụ mình/ Lạy cây thần thoại đầu đình trổ hoa”. Hoặc ông cứ sắc - không trong cõi vô thường của nhà Phật bằng chính câu thơ vang lên từ tiếng sáo quê mùa: “Và tôi lạy đứa mục đồng/ học bài thổi sáo có - không mà về”. Những câu thơ lục bát giản dị mà xúc động, hồn hậu, sâu lắng. Chỉ cần chuyện “đục trong” đời thường mà tính khái quát giàu ý tưởng hơn những bí ẩn “trắng đen”, ẩn ức mông lung: “Nếu thơ là một dòng sông/ thì tôi xin được đục trong với người. Yêu thơ đến thế mới đúng là Nguyên Bình, một người thơ đắm đuối với văn chương.

Nguyên Bình cứ so lại mà xem, so với chính dấu chân người yêu cũ để thấy vòng đời này thay đổi: “Tìm em so lại dấu chân/ so năm tháng đã xoay vần gió mưa”. Có như vậy mới thấu hiểu cái ngày xưa và cái của bây giờ: “Bây giờ thắp nến em chiều/ có cây thánh giá nghiêng gầy chỏng chơ”. Trong thơ cũng thế, cứ so đi rồi sẽ biết mình còn lưu lại “dấu chân” nào trong muôn vạn nẻo đường. Tâm trạng này đôi lúc cũng tràn đầy ám ảnh, nuối tiếc, khi gặp lại “dấu chân” mình khi về ngang lối cũ: “Nhẫn tâm cắt sợi tơ vàng/ đã ngàn năm buộc trái ngang đoạ đày/ Ơ hờ mây trắng chiều nay/ về qua lối cũ còn đầy dấu chân” (Thì thôi). Có phải vì thế mà trong vài bài thơ lục bát, Nguyên Bình lại phân vân, vân vê giữa trắng đen và hư thực: “Trèo mây tìm cội chân như/ Vân vê tôi xếp ảo hư thành mình”.

Cái đáng sợ là con người cứ theo đuổi chạy theo hư ảo, lại đánh mất mình:“Tôi lơ lửng giữa muôn người/ Tôi tìm tôi có ra tôi đã tìm” (Thổi sáo có - không). Nhiều lúc tôi cũng lừng khừng như ông, cứ phân vân giữa “đục trong” đời này: “Nếu thơ là một dòng sông/ Thì tôi xin được đục trong với người”. Vậy là đành chịu thôi, đâu như “Thằng Bờm”, cái gì cũng muốn mà quên rằng mình chỉ có mỗi cái quạt mo ấy, nhà thơ cũng chỉ có một, đó là phẩm hạnh, là phong cách riêng của một người yêu thơ đến cháy lòng, yêu bằng chính trái tim và khối óc, bằng tài năng của trời cho, không ai bày vẽ tô hồng hay chuốc phấn, chẳng thể nào đánh đổi được cái cốt lõi tận đáy sâu tâm hồn mình.

Tác giả bài viết - Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh

Thơ lục bát của Nguyên Bình không nhiều, cũng không hẳn là mảng thơ ông tâm đắc, nhưng có những câu thơ bất chợt loé sáng, lấp lánh. Tôi đọc những bài lục bát ấy dễ bắt gặp người đàn ông khổ hạnh, hiền hoà chân chất, dào dạt cảm xúc mà tôi vốn đã từng yêu mến. Còn nhớ trong một bài thơ nào đó, ở ngoài tập thơ này của Nguyên Bình. Bài lục bát ấy cũng không mới lắm, vẫn trên dòng thơ motip cũ, vậy mà trời cho Nguyên Bình vài chữ lại câu thơ loé sáng: Thưa em em hãy tuyết trinh/ Trắng trong như thuở mẹ sinh ra đời. “Thưa em” hay “dạ thưa” là chuyện thường ngày chúng ta thường gặp, nhưng “em hãy tuyết trinh/ trắng trong như thuở mẹ sinh ra đời” thì câu thơ trở nên thú vị. Vậy đó, nhà thơ mong người yêu của mình mãi mãi là hình bóng thuỷ chung gắn bó đời đời. Thế mà,“hình như ai mới dạ thưa/ mà sao tri kỷ lại vừa buông tay (Thương liều lĩnh nhau). Có thể trong phút giây bồng bột, đua đùa, chạy theo cái ảo vọng xa vời mà Nguyên Bình đã “liều lĩnh buông tay” người bạn tri âm thời trai trẻ. Thơ cũng vậy. Đâu dễ thay lòng đổi dạ, bởi nếu thiếu tri âm thì tâm hồn trở nên khô cứng, sẽ là cổ máy vô tri khi đã đánh mất tâm hồn mình.

Đọc tập thơ Mật ngữ trắng đen của Nguyên Bình, tôi lại nhận ra một bài học cho riêng mình. Không hẳn đi tìm thi pháp mới, chạy theo phong cách tự do, thơ mình mới trở nên cách tân, hiện đại. Chỉ biết rằng, mỗi người phải tự làm mới mình bằng chính sự kết hợp sáng tạo ngay chính trên từng trang viết, miễn sao đừng quá vần vè, dễ dãi, thô vụng, cũng đừng quá bày biện, múa me chữ nghĩa, lại vàng thau, trắng đen lẫn lộn. Hãy cứ “học chiếc lá/ xanh cho đến lúc cần vàng/ học cách nở của nụ hoa/ bung hết hương sắc cho úa tàn…” như mấy câu thơ của Nguyên Bình tâm đắc trong tập thơ này.

----------
(*) Mật ngữ trắng đen, NXB Thuận Hoá, 2025

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm