TIN TỨC

Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-14 00:50:27
mail facebook google pos stwis
929 lượt xem

NHUNG LE

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.

 

Nhà thơ Nguyên Bình

 

Nguyên Bình là một người như thế.

Anh tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế, là một nhà giáo, đồng thời là một người đọc thơ tinh tế và một cây bút phê bình sắc sảo với nhiều tiểu luận đăng rải rác trên các tạp chí văn học trong và ngoài nước. Nhưng vượt lên trên tất cả những vai trò ấy, Nguyên Bình hiện ra trọn vẹn nhất trong tư cách một thi sĩ.

Ở anh, tôi thích nhất những bài lục bát mượt mà – một người “ầu ơ” giữa truyền thống mà vẫn giữ được giọng riêng. Cầm trên tay ba tập thơ anh tặng: Mật ngữ trắng đen, Thấp nến tôi để dành, Thi thoại đêm. Ba tựa sách như ba khoảng lặng. Không ồn ào. Không phô trương. Nhưng mở ra, là một miền rất sâu.

Tôi biết anh là một nhà giáo, một người từng đứng trên bục giảng, từng viết những bài phê bình sắc sảo. Nhưng khi đọc thơ anh – nhất là những bài lục bát – tôi không còn thấy một nhà phê bình nữa. Tôi thấy một người đang tự trò chuyện với mình, rất thật, rất mong manh.

Lục bát – Tiếng ầu ơ không cũ

Tôi đặc biệt thích lục bát của anh. Có lẽ vì trong những câu thơ ấy, tôi nghe được một tiếng ru – nhưng không phải tiếng ru cho trẻ nhỏ, cũng không hẳn tiếng ru cho người tình mà là tiếng ru cho những linh hồn đã đi qua nhiều dâu bể.

“…Ầu ơ lục bát đa đoan

Gió mây giăng võng vắt ngang cổng trời…”

“Giăng võng vắt ngang cổng trời” – Một câu thơ vô cùng lãng mạn! Hình ảnh ấy vừa dân gian vừa siêu thực. Lục bát không còn nằm trên mặt đất mà được treo lên giữa vũ trụ. Nó treo giữa trời. Nó đu đưa giữa mây gió. Và người đọc – như tôi – cũng bị đu đưa theo.

Hay:  

“…Ầu ơ lục bát ngây ngây

Câu thơ cong vút rót đầy chén không…”

“Chén không” ấy là gì? Là rỗng? Hay là đầy đến mức không còn chứa thêm được gì nữa? Lục bát của anh vừa quen, vừa lạ. Vẫn là nhịp 6–8 thân thuộc, nhưng ý tưởng thì vượt khỏi những ẩn dụ thông thường. Hai câu thơ đã đưa người đọc chạm tới một tầng khác của thi ca: lục bát như thiền ngữ. “Chén không” ở đây gợi tinh thần Bát Nhã – cái rỗng chứa cái đầy, cái vô chứa cái hữu. Nguyên Bình không chỉ làm lục bát trữ tình; anh làm lục bát suy tưởng. Điều đáng quý là dù chứa đựng triết tính, thơ anh không khô cứng. Nó vẫn mềm như “bản chất lục bát”:

“…Em khoe răng khểnh em cười

Nghiêng nghiêng bóng ngã xuống tôi chút hồng…”

Một “chút hồng” ấy đủ làm ấm cả miền triết luận

Một nỗi buồn biết mỉm cười

Tôi thương nhất là cái cách anh nói về nỗi buồn. Không oán trách, không than van. Chỉ khẽ chạm vào.

“…Rất buồn tôi rót rượu mơ

Tôi mời tôi uống dại khờ xưa nay…”

Cái “tôi mời tôi” ấy nghe vừa ngậm ngùi vừa đáng yêu. Nỗi buồn không cần ai chia sẻ, chỉ cần một ly rượu tưởng tượng và một chút tự trào.

Rồi:

"Trầu têm sáu miếng quệt sầu cho xanh"

“Quệt sầu cho xanh” – tôi thích cụm từ đó vô cùng. Không xóa sầu. Không phủ nhận sầu. Chỉ đổi màu cho nó. Nhẹ nhàng thôi. Như một người đã hiểu rằng buồn cũng là một phần của cuộc sống.

Tình yêu – Tiền kiếp và hôm nay

Thơ tình của anh không phô trương, không sôi nổi. Nó mang hơi hướng tiền định, như thể tình yêu không bắt đầu từ hôm qua mà đã khởi từ “vô lượng kiếp”.

“…Má đào tiền kiếp – ngàn sau

Chưa thơm hương phấn đã sầu gối chăn…”

Đọc những câu ấy, tôi thấy tình yêu trong thơ anh vừa đẹp vừa trĩu nặng. Đẹp vì sâu. Nặng vì nhiều duyên nợ. Nhưng giữa những “nghiệt oan”, “phù vân”, vẫn có những khoảnh khắc rất đời:

“…Cứ như răng khểnh làm duyên

Sao tôi không thể đảo điên hở trời ???...”

Ba dấu hỏi như một tiếng cười. Một chút bối rối rất người. Tôi thích sự không hoàn hảo ấy. Nó làm thơ anh gần hơn.

Thiền tính và khoảng lặng

Có những bài khiến người đọc phải đọc chậm. Như “Thổi sáo có – không” hay “Dùng dằng”. Ở đó, anh bước sang một miền khác – nơi có “Chân Như”, “Bát Nhã”, “đốn ngộ”.

“…Lượm lên cục đá bên đường

Nghe gì nhẹ hẫng một trường chân không…”

Tôi không dám nói mình hiểu hết. Nhưng tôi cảm được một điều: anh đang đi tìm sự tĩnh lặng. Và có lẽ, thơ chính là cách anh ngồi xuống giữa đời mà lắng nghe.

Lục bát của tiền định và vô thường

Trong “Xuân qua chưa”, âm hưởng Huế – mơ màng, u uẩn – thấm vào từng câu:

“…Tôi thương một sợi nguyệt cầm

Vương tơ tiền định lăn trầm dốc sương…”

“Tiền định”, “thiên cổ”, “ảo hư” – những từ vựng ấy lặp lại trong nhiều bài, cho thấy một ám ảnh: thời gian không tuyến tính mà là vòng xoáy. Xuân chưa kịp tàn đã chạm vào “chuyến xe thiên cổ”.

Đặc biệt, ở bài “So lại dấu chân”, hình ảnh:

“…Dấu chân ngày nọ em đây

Có cây thánh giá nghiêng gầy chỏng chơ…”

đưa tình yêu chạm tới cõi thiêng. Cây thánh giá – biểu tượng của hy sinh và cứu chuộc – xuất hiện giữa lục bát mềm mại, tạo nên một tương phản rất đẹp giữa thiêng liêng và phàm trần..

Giữ lại một chút biếc xanh 

Giữa rất nhiều suy tư về vô thường, tôi vui khi bắt gặp những câu như:

“…Quệt nhanh hai chữ yêu người

Rồi đem ra nắng vàng phơi kiếp này…”

Và:

“Lá tương tư sẽ dâng đời biếc xanh”

Với Nguyên Bình sau bao “vô thường”, “phù vân”, “đọa đày”, tình yêu vẫn có thể “biếc xanh”. Đó là một lựa chọn thẩm mỹ – và cũng là một lựa chọn sống. Còn với tôi “Biếc xanh” là màu tôi muốn giữ lại sau khi gấp trang sách. Không phải màu của tiếc nuối. Mà là màu của hy vọng.

Ba tập thơ anh tặng tôi không chỉ là quà. Chúng giống như ba ngọn nến. Có lúc sáng rõ. Có lúc chập chờn. Nhưng luôn đủ ánh sáng để soi vào những góc khuất rất riêng của tâm hồn.

Và tôi hiểu vì sao mình yêu lục bát của anh. Không chỉ vì nhịp 6–8 quen thuộc, cũng không chỉ vì những hình ảnh đẹp. Mà vì trong những câu thơ ấy, tôi nghe thấy một con người đang thật lòng với chính mình.

Thơ, rốt cuộc, không chỉ đơn thuần là nơi để phô bày tài hoa. Nó còn là nơi con người đối diện với phần sâu kín nhất của mình – nơi niềm vui, nỗi buồn, ký ức và những câu hỏi không lời cùng hiện diện. Khi một câu thơ chạm được tới nơi ấy, nó sẽ sống lâu hơn mọi kỹ thuật.

Với riêng tôi, lục bát của Nguyên Bình có lẽ cũng vậy. Anh không cố gắng làm mới bằng sự phá vỡ, mà lặng lẽ đi sâu hơn vào chính dòng chảy của truyền thống. Và trong sự lặng lẽ ấy, đôi khi chỉ cần một câu thơ, một hình ảnh, hay một chút “biếc xanh” thôi, cũng đủ để người đọc dừng lại - dừng lại trước một ngọn nến nhỏ giữa đêm - không rực rỡ, nhưng đủ sáng để ta nhìn thấy mình.

N.L

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm