TIN TỨC

Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-12 01:52:25
mail facebook google pos stwis
823 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.

 

Nhà thơ Lê Văn Trung

“…Ta vẫn đi hoài suốt một đời du tử

Vẫn hoang mang lạc mất một phương về…” (Mây trắng bên trời)

Hai câu thơ ấy có thể xem như một lời tự bạch cho cả hành trình thi ca của Lê Văn Trung. Trong thế giới thơ của ông, con người hiện lên như một kẻ lữ hành giữa dòng thời gian, mang theo ký ức, những chia lìa của lịch sử và một nỗi hoang mang khó gọi thành tên về nơi chốn trở về. Cảm thức lưu lạc ấy không chỉ là một tâm trạng cá nhân mà dường như còn là tâm thế chung của một thế hệ đã đi qua nhiều biến động của đất nước.

Trong lịch sử thi ca Việt Nam, không phải mọi tiếng thơ đều vang lên từ những cuộc thi thơ, từ các trung tâm của văn đàn. Có những nhà thơ đi qua đời sống văn học một cách lặng lẽ, không thuộc về những phong trào ồn ào, không tìm kiếm sự nổi bật giữa đám đông. Nhưng chính sự lặng lẽ ấy lại làm nên một vẻ đẹp riêng: vẻ đẹp của những tiếng nói chân thành, được chưng cất từ kinh nghiệm sống và những suy tư sâu kín của một đời người.

Nhà thơ Lê Văn Trung thuộc về những tiếng thơ như thế.

Thơ ông không phô trương, không cố gắng làm mới ngôn ngữ bằng những thủ pháp cầu kỳ. Nhưng khi đọc, người ta dễ dàng nhận ra trong đó một nỗi buồn rất thật: nỗi buồn của thời gian, của ký ức, của những cuộc chia lìa mà lịch sử đã đặt lên vai một thế hệ. Ở Lê Văn Trung, thơ không phải là một cuộc trình diễn nghệ thuật mà giống như một cuộc trò chuyện thầm lặng với chính mình, nơi nhà thơ đối diện với quá khứ, với quê hương và với những câu hỏi không dễ có lời giải đáp của đời sống.

Có lẽ vì thế mà thế giới thơ của ông thường hiện lên với những hình ảnh quen thuộc nhưng đầy ám ảnh: một sân ga chiều vắng, một con phố mùa đông, một vầng trăng khuya, hay một đám mây trắng lặng lẽ trôi qua bầu trời ký ức. Đó là những không gian của hoài niệm và cô đơn, nơi con người nhận ra mình chỉ là một lữ khách trong dòng chảy vô tận của thời gian.

Một cuộc đời nhiều biến động

Nhà thơ Lê Văn Trung sinh năm 1947 tại Quảng Nam, một vùng đất vốn giàu truyền thống văn học và tinh thần hiếu học. Sau khi tốt nghiệp Trường Quốc gia Sư phạm Quy Nhơn năm 1969, ông trở về dạy học tại quê nhà.

Ngay từ khi còn trẻ, ông đã tham gia vào đời sống văn học miền Nam. Thơ của ông được đăng trên các tạp chí như Bách Khoa, Văn, Ý Thức, Thời Tập – những diễn đàn văn học tiếng tăm thời bấy giờ. Sự xuất hiện của ông trên những tạp chí này cho thấy ông không đứng ngoài dòng sinh hoạt văn chương của thời đại mình mà hòa mình vào như là một cây bút thành danh.

Biến cố lịch sử năm 1975 đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời ông. Sau một thời gian sống tại Huế, ông bị đưa đi tù cải tạo nhiều năm. Khi trở về, gia đình ông chuyển đến vùng kinh tế mới Xuân Đông, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Những năm tháng ấy là những năm tháng khó khăn nhất của cuộc đời ông. Ban ngày ông lao động như một người nông dân thực thụ: cuốc đất, trồng rẫy, vật lộn với cuộc sống mưu sinh. Nhưng bên trong người nông dân ấy vẫn tồn tại một tâm hồn thi sĩ. Ban đêm, khi mọi công việc đã xong, ông vẫn lặng lẽ đọc sách và viết.

Cũng chính những năm tháng ấy đã hun đúc nên một giọng thơ đặc biệt: trầm buồn, chiêm nghiệm và thấm đẫm cảm thức về sự mong manh của kiếp người.

Sau này, ông lần lượt xuất bản các tập thơ như Cát Bụi Phận Người (2006), Tịnh Khúc (2010), Thu Hoang Đường (2016), Biệt Khúc (2020). Tổng cộng ông đã viết khoảng 600 bài thơ, một con số cho thấy sự bền bỉ đáng kinh ngạc của một người làm thơ trong lặng lẽ.

Một tiếng thơ trong không khí thi ca miền Nam 

Đặt thơ Lê Văn Trung vào bối cảnh văn học miền Nam trước 1975, có thể thấy ông thuộc về một thế hệ thi sĩ trưởng thành trong một không gian văn học tương đối tự do và đa dạng.

Những tạp chí như Bách Khoa, Văn, Ý Thức, Thời Tập là nơi hội tụ nhiều khuynh hướng thi ca khác nhau: từ thơ lãng mạn, thơ hiện sinh cho đến những thử nghiệm của thơ tự do hiện đại.

Trong bầu không khí ấy, Lê Văn Trung không phải là nhà thơ tìm kiếm sự cách tân quyết liệt về hình thức. Thơ ông nghiêng nhiều hơn về trữ tình suy tưởng, nơi cảm xúc cá nhân hòa vào những suy ngẫm về thời gian, ký ức và thân phận con người.

Sau năm 1975, nhiều nhà thơ miền Nam mang trong mình cảm thức lưu lạc và mất mát. Trong thơ Lê Văn Trung, cảm thức này cũng hiện diện, nhưng không mang sắc thái bi tráng. Nó thường xuất hiện dưới dạng một nỗi buồn lặng lẽ, một sự hoang mang của con người khi nhìn lại quãng đời đã trôi qua.

Nỗi nhớ và không gian của ký ức

Một trong những mạch cảm xúc xuyên suốt thơ Lê Văn Trung là nỗi nhớ. Nhưng đó không phải là nỗi nhớ cụ thể về một người hay một nơi chốn, mà là nỗi nhớ mơ hồ về một thời gian đã mất.

Bài thơ “Phố Mùa Đông” là một ví dụ tiêu biểu:

"Tôi về qua phố mùa đông

Bơ vơ lạc giữa chập chùng nhớ quên"

Chỉ hai câu thơ đã mở ra một không gian tâm trạng. Con người bước đi giữa phố, nhưng thực ra lại đang đi giữa ký ức. Những hình ảnh tiếp theo – sợi mưa mềm, tóc bay, mắt đen huyền – giống như những mảnh ký ức mỏng manh hiện lên rồi tan biến.

Đặc biệt, đoạn kết của bài thơ:

"Nỗi quên

Niềm nhớ

Vô cùng

Nhớ

Quên."

đã diễn tả một trạng thái tâm lý rất tinh tế: khi ký ức và quên lãng đan xen vào nhau, khiến con người vừa muốn giữ lại quá khứ vừa bất lực trước sự trôi đi của thời gian.

Thân phận cô đơn của kẻ lữ hành

Trong nhiều bài thơ của Lê Văn Trung, nhân vật trữ tình xuất hiện như một người đi một mình giữa thế giới. Bài thơ “Ga Chiều” thể hiện rất rõ cảm giác ấy:

"Một mình ta giữa sân ga

Nhớ con tàu cũ đã nhòa trong sương".

Sân ga vốn là nơi của những chuyến đi, của những cuộc chia tay. Nhưng trong bài thơ này, không có đoàn tàu nào cả. Chỉ có một con người đứng giữa khoảng không gian trống vắng của buổi chiều. Nhà thơ còn phủ định cảm xúc của mình:

"Buồn không? Không phải nỗi buồn

Nhớ? Không phải nhớ"

Những câu phủ định ấy làm cho cảm xúc trở nên mơ hồ hơn, sâu hơn. Đó không chỉ là buồn hay nhớ, mà là một trạng thái trống vắng của tâm hồn.

Nỗi hoài hương và sự xa lạ với quá khứ

Một trong những bài thơ giàu chiều sâu chiêm nghiệm của Lê Văn Trung là “Trăng Bạc”. Ở đây, nhà thơ nhìn lại một quãng đời dài đã trôi qua:

"Hơn bốn mươi năm! Ừ! Đã qua

Lòng ai? Lòng viễn khách xa nhà".

Thời gian “bốn mươi năm” không chỉ là một con số. Nó là khoảng cách của cả một đời người.

Khi trở về, nhà thơ nhận ra rằng mọi thứ đã đổi thay:

"Nhà xưa đây! Người bỏ đi rồi

Lòng của ta xưa giờ cũng lạ".

Bi kịch lớn nhất không phải là sự đổi thay của cảnh vật, mà là việc con người cũng trở nên xa lạ với chính quá khứ của mình.

Ở cuối bài, hình ảnh nhà thơ ngồi nói chuyện với vầng trăng tạo nên một khung cảnh rất đẹp:

"Ta ngồi chuyện với vầng trăng lạnh

Đã thức cùng ta đến bạc đầu".

Trăng ở đây không chỉ là một tinh cầu mà còn là nhân chứng của thời gian.

Triết lý về thân phận và sự vô thường

Một nét đáng chú ý trong thơ Lê Văn Trung là cảm thức triết lý về đời sống. Trong bài “Hạt Bụi”, ông nhìn lại cuộc đời như một cuộc rong chơi đã gần đến hồi kết:

"Ta về tàn mạt cuộc rong chơi

Dòng máu trong tim chảy ngậm ngùi".

Điều thú vị là nhà thơ không ngần ngại hoài nghi cả giá trị của thơ ca:

"Chữ nghĩa văn chương ôi phù phiếm

Trăm năm ta khắc đá đề thơ".

Nhưng cuối cùng, ông nhận ra:

"Mới hay thơ chỉ là cơn mộng

Thơ chỉ là sương là khói bay".

Những câu thơ này mang một tinh thần rất gần với triết lý phương Đông: mọi sự đều mong manh và vô thường.

Ký ức chiến tranh và tình thầy trò

Trong số những bài thơ của Lê Văn Trung, bài “Trong Mơ Tôi Thấy Các Em Về” có lẽ là bài thơ mang tính hiện thực và xúc động nhất.

Là một người thầy, nhà thơ mơ thấy những học trò của mình trở về:

"Đứa đồi cao ôm súng nhớ sân trường

Đứa què quặt đi bằng đôi nạng gỗ".

Những hình ảnh ấy phản ánh bi kịch của một thế hệ thanh niên bị cuốn vào chiến tranh.

Đặc biệt ám ảnh là đoạn:

"Đứa lủng lẳng đôi tay còn bết máu

Nằm im lìm trên từng chiếc băng ca".

Nhưng trong nỗi đau ấy vẫn có một tia sáng của tình người:

"Nhìn được nhau cũng đủ gượng môi cười".

Bài thơ trở thành một khúc tưởng niệm lặng lẽ dành cho những học trò đã không còn trở về.

Một tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ

Trong tương quan với một số nhà thơ miền Nam như Du Tử Lê hay Tô Thùy Yên, thơ Lê Văn Trung có những nét gần gũi nhưng cũng có những khác biệt.

Giống Du Tử Lê, thơ ông mang giọng điệu buồn và nhiều suy tư về thân phận. Tuy nhiên, nếu Du Tử Lê thường bộc lộ cảm xúc mạnh mẽ, thì thơ Lê Văn Trung lại chọn sự tiết chế và lặng lẽ.

Còn nếu đặt cạnh Tô Thùy Yên, ta có thể thấy một điểm chung là cảm thức lưu lạc của con người trong lịch sử. Nhưng nếu thơ Tô Thùy Yên mang chiều kích bi tráng và sử thi, thì thơ Lê Văn Trung lại riêng tư hơn, giống như những lời độc thoại của một tâm hồn cô độc.

Trong đời sống văn học, có những nhà thơ tạo dấu ấn bằng sự cách tân mạnh mẽ, có những nhà thơ nổi bật nhờ những tuyên ngôn nghệ thuật lớn. Nhưng cũng có những người làm thơ chỉ đơn giản vì họ không thể không viết. Thơ đối với họ giống như một cách giữ lại những gì đang dần trôi xa trong ký ức.

Đọc thơ Lê Văn Trung, người ta có cảm giác đang bước vào một thế giới rất yên tĩnh. Ở đó không có những âm thanh ồn ào của đời sống, chỉ có tiếng nói trầm lắng của một tâm hồn đã đi qua nhiều biến động và đang lặng lẽ nhìn lại quãng đường mình đã đi.

Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.

Có thể nói, Lê Văn Trung không phải là một nhà thơ của ánh đèn sân khấu văn học. Ông giống như một người ngồi bên lề cuộc đời, lặng lẽ viết xuống những dòng thơ của riêng mình. Nhưng đôi khi chính những tiếng nói lặng lẽ ấy lại có sức bền lâu nhất, bởi chúng được sinh ra từ sự chân thành và từ những trải nghiệm thật của đời sống.

Nếu phải tìm một hình ảnh để nói về thơ Lê Văn Trung, có lẽ không gì thích hợp hơn chính hình ảnh mà ông nhiều lần nhắc đến trong thơ mình: mây trắng bên trời.

Một đám mây trôi chậm trên bầu trời rộng lớn của thời gian. Không rực rỡ, không ồn ào, nhưng vẫn đủ để người đứng dưới đất, trong một khoảnh khắc nào đó, chợt dừng lại và ngước nhìn. Và đôi khi, chính những đám mây lặng lẽ ấy mới là điều khiến bầu trời của ký ức không trở nên trống rỗng.

Nhung Le

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm