TIN TỨC

Người đàn bà đi ngược gió

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-21 13:30:05
mail facebook google pos stwis
226 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.

Nhưng dám đẩy người nữ đến tận cùng nghịch cảnh, can qua, bể dâu trên cõi trần gian thì không ai/ở đâu bằng Thùy Dương trong Hồi sinh. Ở đó có vẻ như ngòi bút nhà văn khách quan, lạnh lùng, đôi khi không nương tay. Nhưng đọc và ngẫm ngợi, rồi tỉnh trí, mới thấy trái lại, nhân vật và người “đẻ” ra nó lại như cùng “đồng bệnh tương lân, đồng khí tương cầu”. Mỗi trang văn như đều phập phồng những tiếng thở dài và thấm đẫm cả những giọt nước mắt được giấu kín. Bộ ba nhân vật nữ trong tiểu thuyết Hồi sinh là Phượng, Tuệ, Cầm “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”. Nhưng Phượng là khối nam châm lớn nhất, có từ trường lớn và mạnh nhất đủ sức thu hút vào mình nhiều xung lực, điều phi lí, thậm chí nhiều đỏng đảnh và trớ trêu của số phận đúng như những câu thơ đầy ám ảnh của Lermotov: “Thuyền cầu bão táp mưa sa/ Dường như giông bão mới là bình yên.”

 

Bìa sách "Hồi sinh"

 

Phượng về làm dâu trong một gia đình Hà Nội gốc, gia phong nề nếp, kinh tế đủ đầy, không lo cảnh chạy ăn bữa sáng lo bữa tối như tình cảnh gieo neo chung của toàn xã hội lúc bấy giờ. Nhìn bề ngoài, Phượng khiến người khác phải so đo, phân bì vì sự viên mãn do run rủi may mắn hay ơn trời ban phát. Tuy nhiên mấy ai có thể cân đo, đong đếm được bao nhiêu nước mắt, nhiều khi phải nuốt vào trong của cô khi buộc phải chấp nhận chồng mình từ chỗ lén lút dan díu sau công khai ăn ở, sống với em dâu (vì em trai chồng không phải... đàn ông đích thực). Một “khổ nạn đích lịch trình” đang chờ đón Phượng ở phía trước.

Theo lí bình thường giữa Phượng và cô em dâu chỉ có thể tồn tại mối thù “bất cộng đới thiên”. Ấy thế mà sự đời nước mắt soi gương, lại rẽ sang lối khác. Người đàn bà đau khổ như cây sậy yếu đuối ấy sau cùng lại có những hành động cảm thông, thứ tha cho người em dâu cướp chồng của mình. Phượng đã sống khác với tất cả định kiến, rào cản, hành động mà mọi người đều nghĩ tới nếu ở trong hoàn cảnh của cô. Sau cuộc tan đàn xẻ nghé, Phượng nhận nuôi con trai, bằng mọi cách đưa con sang Mĩ du học, chăm sóc bố chồng già yếu bệnh tật... với một tâm trạng nhẹ nhõm. Và cô đã có những phút giây ngắn ngủi được sống là chính mình với một người đàn ông ngoại quốc kém tuổi, theo kiểu “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Trước đây, nhà văn chúng ta thường ít khi nghĩ đến phương pháp/cách thức điển hình hóa nghệ thuật những cái cá biệt (có thể dị biệt theo phép grotesque). Phượng là một “ca” (trường hợp) dị biệt nhưng có ý nghĩa điển hình cho trạng thái tinh thần “Tình thương cứu rỗi thế giới”, sát thực và hữu dụng hơn triết luận thấm đậm chất không tưởng “Cái đẹp cứu rỗi thế giới”. Quá trình chuyển hóa tình cảm và hành xử của Phượng với cô em dâu, có thể nói dưới ánh sáng của triết lí Phật giáo - là diệu pháp tu thân tích đức.

Một kết thúc bi thương không ai mong muốn khi bạo bệnh đã cướp đi mạng sống của cô em dâu và dịch bệnh (Covid-19) đã cướp đi sự sống của người chồng cũ ở xứ người. Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí khi cả mẹ chồng và bố chồng cũng ra đi vì tuổi già sức yếu, đẩy Phượng vào cảnh tang gia bối rối, thân cô thế cô. Cơ hồ như Phượng đã gục ngã. Tưởng như thần chết chỉ mang lại sự hủy diệt hoàn toàn sự sống của Phượng và gia đình. Nhưng kì lạ thay, có những cái chết gieo mầm sự sống. Phượng từ trong đau khổ lại quật khởi vùng đứng lên. Từ trong hủy diệt lại tái sinh và hồi sinh nhân tính theo quy luật “nhân chi sơ tính bản thiện”. Ai đó nói không phải không có lí và thuyết phục rằng, Hồi sinh là một biểu trưng của nghệ thuật ngôn từ hướng tới, vì “nhân vị”. Nó khích lệ con người sống đẹp hơn, sống tốt hơn. Cái nhìn viễn kiến của nhà văn qua hình tượng Phượng là một cuộc đối thoại bằng nghệ thuật ngôn từ về xu hướng phát triển của con người cuối cùng hướng tới chân - thiện - mĩ, thay vì lời than thở đầy bi quan và lo lắng rằng con người đang xấu đi, đang trở nên độc ác hơn (?!). Đúng như những câu thơ của thi sĩ Lưu Quang Vũ: “Nếu tất cả là điều xấu xa/ Vì sao cây táo vẫn nở hoa” (Phố ta).

Trong Hồi sinh, người kể chuyện không độc quyền đứng ở vị trí hay ngôi duy nhất nào (cái tôi chủ quan hoặc khách quan toàn tri). Câu chuyện được kể lại trong một “giao diện”, “biên độ” lớn với sự tham gia của nhiều nhân vật định vị từ nhiều góc độ khác nhau: Ba cô bạn ruột Phượng, Cầm, Tuệ luân phiên cầm trịch, chiếm diễn đàn tự sự, đã đành. Nhưng không thể thiếu tự sự của bố mẹ chồng, chồng và em trai chồng, con trai của Phượng với chồng cũ, cô em dâu, chị giúp việc, vị bác sĩ, người tình ngoại quốc của Phượng... Như thế, đối thoại thay cho độc thoại, đa thanh thay cho đơn thanh. Trong âm nhạc, đó là cách thức của dàn nhạc hợp xướng gồm nhiều bè, nhiều tone. Dĩ nhiên thì Phượng vẫn đóng vai trò “chủ âm”. Phương pháp viết của Thùy Dương trong Hồi sinh, tôi tạm gọi là phương pháp “soi gương” - người khác là gương soi của người này và ngược lại. Hơn thế, có thể mường tượng ra trong mỗi ngôi nhà, thậm chí từng căn phòng đều gắn gương, mỗi bước đi hay động thái, phát ngôn của một người đều hiển hiện tư thế, kể cả tâm trạng. Tôi gọi đó là “phương pháp lập thể” khi đối tượng được soi chiếu, tái hiện từ nhiều phía (góc độ). Do đó mỗi con người/nhân vật đều mang tính chất “đa nhân cách”. Không phân tuyến xấu - tốt, thiện - ác, tích cực - tiêu cực. Con người thực sự là sự tổng hòa các quan hệ xã hội và cũng là tổng hòa các quan hệ tự nhiên. Thậm chí, con người/nhân vật (nhất là nữ giới) còn được tiếp cận từ bản thể và bản năng gốc (điển hình là vợ chồng cô em dâu của Phượng).

Câu chuyện được kể trong Hồi sinh là một câu chuyện buồn. Tất nhiên. Nhưng là nỗi buồn mang gương mặt đẹp. Cái đẹp trong tái sinh, phục sinh, hồi sinh. Hồi sinh tính bản thiện. Hồi sinh lòng nhân ái, vị tha, cứu rỗi, hi sinh, dâng hiến. Niềm vui có thể là không thật. Nhưng nỗi buồn thì luôn luôn thật. Câu chuyện của Phượng đúng là ứng với tiên tri của đại thi hào Nguyễn Du: “Đời là bể khổ tình là dây oan.” Tuy nhiên, buồn không phải là giọng điệu bao trùm chi phối mọi cảnh ngộ, tâm trạng, kết cục của con người/nhân vật. Bi kịch xen lẫn hài kịch, chính kịch. Lối viết cực tả xen với chất giọng trữ tình - lo âu khiến cho văn phong của tác phẩm có sự hòa âm các sắc màu thẩm mĩ. Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết dễ đọc nhưng không hề dễ quên. Bởi nó để lại nhiều ấn tượng và dư ba về một nỗi niềm cháy lên thành khát vọng muôn thuở “Tình thương cứu rỗi thế giới”.

B.V.T

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm