TIN TỨC

Người đàn bà đi ngược gió

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-21 13:30:05
mail facebook google pos stwis
497 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.

Nhưng dám đẩy người nữ đến tận cùng nghịch cảnh, can qua, bể dâu trên cõi trần gian thì không ai/ở đâu bằng Thùy Dương trong Hồi sinh. Ở đó có vẻ như ngòi bút nhà văn khách quan, lạnh lùng, đôi khi không nương tay. Nhưng đọc và ngẫm ngợi, rồi tỉnh trí, mới thấy trái lại, nhân vật và người “đẻ” ra nó lại như cùng “đồng bệnh tương lân, đồng khí tương cầu”. Mỗi trang văn như đều phập phồng những tiếng thở dài và thấm đẫm cả những giọt nước mắt được giấu kín. Bộ ba nhân vật nữ trong tiểu thuyết Hồi sinh là Phượng, Tuệ, Cầm “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”. Nhưng Phượng là khối nam châm lớn nhất, có từ trường lớn và mạnh nhất đủ sức thu hút vào mình nhiều xung lực, điều phi lí, thậm chí nhiều đỏng đảnh và trớ trêu của số phận đúng như những câu thơ đầy ám ảnh của Lermotov: “Thuyền cầu bão táp mưa sa/ Dường như giông bão mới là bình yên.”

 

Bìa sách "Hồi sinh"

 

Phượng về làm dâu trong một gia đình Hà Nội gốc, gia phong nề nếp, kinh tế đủ đầy, không lo cảnh chạy ăn bữa sáng lo bữa tối như tình cảnh gieo neo chung của toàn xã hội lúc bấy giờ. Nhìn bề ngoài, Phượng khiến người khác phải so đo, phân bì vì sự viên mãn do run rủi may mắn hay ơn trời ban phát. Tuy nhiên mấy ai có thể cân đo, đong đếm được bao nhiêu nước mắt, nhiều khi phải nuốt vào trong của cô khi buộc phải chấp nhận chồng mình từ chỗ lén lút dan díu sau công khai ăn ở, sống với em dâu (vì em trai chồng không phải... đàn ông đích thực). Một “khổ nạn đích lịch trình” đang chờ đón Phượng ở phía trước.

Theo lí bình thường giữa Phượng và cô em dâu chỉ có thể tồn tại mối thù “bất cộng đới thiên”. Ấy thế mà sự đời nước mắt soi gương, lại rẽ sang lối khác. Người đàn bà đau khổ như cây sậy yếu đuối ấy sau cùng lại có những hành động cảm thông, thứ tha cho người em dâu cướp chồng của mình. Phượng đã sống khác với tất cả định kiến, rào cản, hành động mà mọi người đều nghĩ tới nếu ở trong hoàn cảnh của cô. Sau cuộc tan đàn xẻ nghé, Phượng nhận nuôi con trai, bằng mọi cách đưa con sang Mĩ du học, chăm sóc bố chồng già yếu bệnh tật... với một tâm trạng nhẹ nhõm. Và cô đã có những phút giây ngắn ngủi được sống là chính mình với một người đàn ông ngoại quốc kém tuổi, theo kiểu “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Trước đây, nhà văn chúng ta thường ít khi nghĩ đến phương pháp/cách thức điển hình hóa nghệ thuật những cái cá biệt (có thể dị biệt theo phép grotesque). Phượng là một “ca” (trường hợp) dị biệt nhưng có ý nghĩa điển hình cho trạng thái tinh thần “Tình thương cứu rỗi thế giới”, sát thực và hữu dụng hơn triết luận thấm đậm chất không tưởng “Cái đẹp cứu rỗi thế giới”. Quá trình chuyển hóa tình cảm và hành xử của Phượng với cô em dâu, có thể nói dưới ánh sáng của triết lí Phật giáo - là diệu pháp tu thân tích đức.

Một kết thúc bi thương không ai mong muốn khi bạo bệnh đã cướp đi mạng sống của cô em dâu và dịch bệnh (Covid-19) đã cướp đi sự sống của người chồng cũ ở xứ người. Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí khi cả mẹ chồng và bố chồng cũng ra đi vì tuổi già sức yếu, đẩy Phượng vào cảnh tang gia bối rối, thân cô thế cô. Cơ hồ như Phượng đã gục ngã. Tưởng như thần chết chỉ mang lại sự hủy diệt hoàn toàn sự sống của Phượng và gia đình. Nhưng kì lạ thay, có những cái chết gieo mầm sự sống. Phượng từ trong đau khổ lại quật khởi vùng đứng lên. Từ trong hủy diệt lại tái sinh và hồi sinh nhân tính theo quy luật “nhân chi sơ tính bản thiện”. Ai đó nói không phải không có lí và thuyết phục rằng, Hồi sinh là một biểu trưng của nghệ thuật ngôn từ hướng tới, vì “nhân vị”. Nó khích lệ con người sống đẹp hơn, sống tốt hơn. Cái nhìn viễn kiến của nhà văn qua hình tượng Phượng là một cuộc đối thoại bằng nghệ thuật ngôn từ về xu hướng phát triển của con người cuối cùng hướng tới chân - thiện - mĩ, thay vì lời than thở đầy bi quan và lo lắng rằng con người đang xấu đi, đang trở nên độc ác hơn (?!). Đúng như những câu thơ của thi sĩ Lưu Quang Vũ: “Nếu tất cả là điều xấu xa/ Vì sao cây táo vẫn nở hoa” (Phố ta).

Trong Hồi sinh, người kể chuyện không độc quyền đứng ở vị trí hay ngôi duy nhất nào (cái tôi chủ quan hoặc khách quan toàn tri). Câu chuyện được kể lại trong một “giao diện”, “biên độ” lớn với sự tham gia của nhiều nhân vật định vị từ nhiều góc độ khác nhau: Ba cô bạn ruột Phượng, Cầm, Tuệ luân phiên cầm trịch, chiếm diễn đàn tự sự, đã đành. Nhưng không thể thiếu tự sự của bố mẹ chồng, chồng và em trai chồng, con trai của Phượng với chồng cũ, cô em dâu, chị giúp việc, vị bác sĩ, người tình ngoại quốc của Phượng... Như thế, đối thoại thay cho độc thoại, đa thanh thay cho đơn thanh. Trong âm nhạc, đó là cách thức của dàn nhạc hợp xướng gồm nhiều bè, nhiều tone. Dĩ nhiên thì Phượng vẫn đóng vai trò “chủ âm”. Phương pháp viết của Thùy Dương trong Hồi sinh, tôi tạm gọi là phương pháp “soi gương” - người khác là gương soi của người này và ngược lại. Hơn thế, có thể mường tượng ra trong mỗi ngôi nhà, thậm chí từng căn phòng đều gắn gương, mỗi bước đi hay động thái, phát ngôn của một người đều hiển hiện tư thế, kể cả tâm trạng. Tôi gọi đó là “phương pháp lập thể” khi đối tượng được soi chiếu, tái hiện từ nhiều phía (góc độ). Do đó mỗi con người/nhân vật đều mang tính chất “đa nhân cách”. Không phân tuyến xấu - tốt, thiện - ác, tích cực - tiêu cực. Con người thực sự là sự tổng hòa các quan hệ xã hội và cũng là tổng hòa các quan hệ tự nhiên. Thậm chí, con người/nhân vật (nhất là nữ giới) còn được tiếp cận từ bản thể và bản năng gốc (điển hình là vợ chồng cô em dâu của Phượng).

Câu chuyện được kể trong Hồi sinh là một câu chuyện buồn. Tất nhiên. Nhưng là nỗi buồn mang gương mặt đẹp. Cái đẹp trong tái sinh, phục sinh, hồi sinh. Hồi sinh tính bản thiện. Hồi sinh lòng nhân ái, vị tha, cứu rỗi, hi sinh, dâng hiến. Niềm vui có thể là không thật. Nhưng nỗi buồn thì luôn luôn thật. Câu chuyện của Phượng đúng là ứng với tiên tri của đại thi hào Nguyễn Du: “Đời là bể khổ tình là dây oan.” Tuy nhiên, buồn không phải là giọng điệu bao trùm chi phối mọi cảnh ngộ, tâm trạng, kết cục của con người/nhân vật. Bi kịch xen lẫn hài kịch, chính kịch. Lối viết cực tả xen với chất giọng trữ tình - lo âu khiến cho văn phong của tác phẩm có sự hòa âm các sắc màu thẩm mĩ. Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết dễ đọc nhưng không hề dễ quên. Bởi nó để lại nhiều ấn tượng và dư ba về một nỗi niềm cháy lên thành khát vọng muôn thuở “Tình thương cứu rỗi thế giới”.

B.V.T

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm