TIN TỨC

Người đàn bà đi ngược gió

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-21 13:30:05
mail facebook google pos stwis
374 lượt xem

BÙI VIỆT THẮNG

Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.

Nhưng dám đẩy người nữ đến tận cùng nghịch cảnh, can qua, bể dâu trên cõi trần gian thì không ai/ở đâu bằng Thùy Dương trong Hồi sinh. Ở đó có vẻ như ngòi bút nhà văn khách quan, lạnh lùng, đôi khi không nương tay. Nhưng đọc và ngẫm ngợi, rồi tỉnh trí, mới thấy trái lại, nhân vật và người “đẻ” ra nó lại như cùng “đồng bệnh tương lân, đồng khí tương cầu”. Mỗi trang văn như đều phập phồng những tiếng thở dài và thấm đẫm cả những giọt nước mắt được giấu kín. Bộ ba nhân vật nữ trong tiểu thuyết Hồi sinh là Phượng, Tuệ, Cầm “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”. Nhưng Phượng là khối nam châm lớn nhất, có từ trường lớn và mạnh nhất đủ sức thu hút vào mình nhiều xung lực, điều phi lí, thậm chí nhiều đỏng đảnh và trớ trêu của số phận đúng như những câu thơ đầy ám ảnh của Lermotov: “Thuyền cầu bão táp mưa sa/ Dường như giông bão mới là bình yên.”

 

Bìa sách "Hồi sinh"

 

Phượng về làm dâu trong một gia đình Hà Nội gốc, gia phong nề nếp, kinh tế đủ đầy, không lo cảnh chạy ăn bữa sáng lo bữa tối như tình cảnh gieo neo chung của toàn xã hội lúc bấy giờ. Nhìn bề ngoài, Phượng khiến người khác phải so đo, phân bì vì sự viên mãn do run rủi may mắn hay ơn trời ban phát. Tuy nhiên mấy ai có thể cân đo, đong đếm được bao nhiêu nước mắt, nhiều khi phải nuốt vào trong của cô khi buộc phải chấp nhận chồng mình từ chỗ lén lút dan díu sau công khai ăn ở, sống với em dâu (vì em trai chồng không phải... đàn ông đích thực). Một “khổ nạn đích lịch trình” đang chờ đón Phượng ở phía trước.

Theo lí bình thường giữa Phượng và cô em dâu chỉ có thể tồn tại mối thù “bất cộng đới thiên”. Ấy thế mà sự đời nước mắt soi gương, lại rẽ sang lối khác. Người đàn bà đau khổ như cây sậy yếu đuối ấy sau cùng lại có những hành động cảm thông, thứ tha cho người em dâu cướp chồng của mình. Phượng đã sống khác với tất cả định kiến, rào cản, hành động mà mọi người đều nghĩ tới nếu ở trong hoàn cảnh của cô. Sau cuộc tan đàn xẻ nghé, Phượng nhận nuôi con trai, bằng mọi cách đưa con sang Mĩ du học, chăm sóc bố chồng già yếu bệnh tật... với một tâm trạng nhẹ nhõm. Và cô đã có những phút giây ngắn ngủi được sống là chính mình với một người đàn ông ngoại quốc kém tuổi, theo kiểu “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Trước đây, nhà văn chúng ta thường ít khi nghĩ đến phương pháp/cách thức điển hình hóa nghệ thuật những cái cá biệt (có thể dị biệt theo phép grotesque). Phượng là một “ca” (trường hợp) dị biệt nhưng có ý nghĩa điển hình cho trạng thái tinh thần “Tình thương cứu rỗi thế giới”, sát thực và hữu dụng hơn triết luận thấm đậm chất không tưởng “Cái đẹp cứu rỗi thế giới”. Quá trình chuyển hóa tình cảm và hành xử của Phượng với cô em dâu, có thể nói dưới ánh sáng của triết lí Phật giáo - là diệu pháp tu thân tích đức.

Một kết thúc bi thương không ai mong muốn khi bạo bệnh đã cướp đi mạng sống của cô em dâu và dịch bệnh (Covid-19) đã cướp đi sự sống của người chồng cũ ở xứ người. Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí khi cả mẹ chồng và bố chồng cũng ra đi vì tuổi già sức yếu, đẩy Phượng vào cảnh tang gia bối rối, thân cô thế cô. Cơ hồ như Phượng đã gục ngã. Tưởng như thần chết chỉ mang lại sự hủy diệt hoàn toàn sự sống của Phượng và gia đình. Nhưng kì lạ thay, có những cái chết gieo mầm sự sống. Phượng từ trong đau khổ lại quật khởi vùng đứng lên. Từ trong hủy diệt lại tái sinh và hồi sinh nhân tính theo quy luật “nhân chi sơ tính bản thiện”. Ai đó nói không phải không có lí và thuyết phục rằng, Hồi sinh là một biểu trưng của nghệ thuật ngôn từ hướng tới, vì “nhân vị”. Nó khích lệ con người sống đẹp hơn, sống tốt hơn. Cái nhìn viễn kiến của nhà văn qua hình tượng Phượng là một cuộc đối thoại bằng nghệ thuật ngôn từ về xu hướng phát triển của con người cuối cùng hướng tới chân - thiện - mĩ, thay vì lời than thở đầy bi quan và lo lắng rằng con người đang xấu đi, đang trở nên độc ác hơn (?!). Đúng như những câu thơ của thi sĩ Lưu Quang Vũ: “Nếu tất cả là điều xấu xa/ Vì sao cây táo vẫn nở hoa” (Phố ta).

Trong Hồi sinh, người kể chuyện không độc quyền đứng ở vị trí hay ngôi duy nhất nào (cái tôi chủ quan hoặc khách quan toàn tri). Câu chuyện được kể lại trong một “giao diện”, “biên độ” lớn với sự tham gia của nhiều nhân vật định vị từ nhiều góc độ khác nhau: Ba cô bạn ruột Phượng, Cầm, Tuệ luân phiên cầm trịch, chiếm diễn đàn tự sự, đã đành. Nhưng không thể thiếu tự sự của bố mẹ chồng, chồng và em trai chồng, con trai của Phượng với chồng cũ, cô em dâu, chị giúp việc, vị bác sĩ, người tình ngoại quốc của Phượng... Như thế, đối thoại thay cho độc thoại, đa thanh thay cho đơn thanh. Trong âm nhạc, đó là cách thức của dàn nhạc hợp xướng gồm nhiều bè, nhiều tone. Dĩ nhiên thì Phượng vẫn đóng vai trò “chủ âm”. Phương pháp viết của Thùy Dương trong Hồi sinh, tôi tạm gọi là phương pháp “soi gương” - người khác là gương soi của người này và ngược lại. Hơn thế, có thể mường tượng ra trong mỗi ngôi nhà, thậm chí từng căn phòng đều gắn gương, mỗi bước đi hay động thái, phát ngôn của một người đều hiển hiện tư thế, kể cả tâm trạng. Tôi gọi đó là “phương pháp lập thể” khi đối tượng được soi chiếu, tái hiện từ nhiều phía (góc độ). Do đó mỗi con người/nhân vật đều mang tính chất “đa nhân cách”. Không phân tuyến xấu - tốt, thiện - ác, tích cực - tiêu cực. Con người thực sự là sự tổng hòa các quan hệ xã hội và cũng là tổng hòa các quan hệ tự nhiên. Thậm chí, con người/nhân vật (nhất là nữ giới) còn được tiếp cận từ bản thể và bản năng gốc (điển hình là vợ chồng cô em dâu của Phượng).

Câu chuyện được kể trong Hồi sinh là một câu chuyện buồn. Tất nhiên. Nhưng là nỗi buồn mang gương mặt đẹp. Cái đẹp trong tái sinh, phục sinh, hồi sinh. Hồi sinh tính bản thiện. Hồi sinh lòng nhân ái, vị tha, cứu rỗi, hi sinh, dâng hiến. Niềm vui có thể là không thật. Nhưng nỗi buồn thì luôn luôn thật. Câu chuyện của Phượng đúng là ứng với tiên tri của đại thi hào Nguyễn Du: “Đời là bể khổ tình là dây oan.” Tuy nhiên, buồn không phải là giọng điệu bao trùm chi phối mọi cảnh ngộ, tâm trạng, kết cục của con người/nhân vật. Bi kịch xen lẫn hài kịch, chính kịch. Lối viết cực tả xen với chất giọng trữ tình - lo âu khiến cho văn phong của tác phẩm có sự hòa âm các sắc màu thẩm mĩ. Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết dễ đọc nhưng không hề dễ quên. Bởi nó để lại nhiều ấn tượng và dư ba về một nỗi niềm cháy lên thành khát vọng muôn thuở “Tình thương cứu rỗi thế giới”.

B.V.T

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm