TIN TỨC

Câu thơ buồn như tiếng rao đêm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-03-23 12:37:50
mail facebook google pos stwis
769 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận. Thế nhưng, với sự bình tĩnh và sự điềm nhiên ấy, nhà thơ Vũ Thanh Hoa cũng bước vào giai đoạn khó khăn nhất của một người viết. Đưa thơ về phía thị hiếu đám đông hay kéo thơ về cõi im lặng cá nhân, thực sự cần sự đắn đo nghiêm túc. Sau một thập niên không in thơ, chị cùng lúc ra mắt ba tập thơ, tự tin đặt tên mỗi tập thơ bằng một âm tiết, mà ghép lại thành bút danh mình: “Vũ”, Thanh” và “Hoa”.
 

Ba tập thơ “Vũ”, “Thanh” và “Hoa” chủ yếu được nhà thơ Vũ Thanh Hoa viết từ năm 2010 đến năm 2025. Nếu so với những tập thơ đã xuất bản trước đây như “Nỗi đau của lá”, “Trong em có người đàn bà khác”, “Lời cầu hôn đêm qua” và “Lục bát phố”, thì chị trình làng một giọng điệu đắm đuối hơn và day dứt hơn. Đó là cảm giác “chiếc ghế độc thân quên nhớ vu vơ” trong bối cảnh “khi lỡ mùa câu chữ hóa ngô nghê” nên chị có được “câu thơ buồn như tiếng rao đêm”.

Những ai muốn tìm vần điệu nhẹ nhàng mang tính thư giãn chốc lát, có lẽ không nên đọc “Vũ”, “Thanh” và “Hoa”. Bởi lẽ, sự tương tác của ba tập thơ kéo độc giả vào miền hoang mang và ngậm ngùi, khi phải san sẻ cảm giác “bóng tối giả chết/ mọi người giả chết/ em giả chết/ trái tim vẫn sống để yêu anh” từ nỗi đa đoan và niềm vân vi “đổ tất cả buồn vui vào khói/ tôi định vị mình giữa bản đồ đêm”.

Nhà thơ Vũ Thanh Hoa bên poster thơ của mình tại Ngày Thơ Việt Nam 2026.

Ba tập thơ “Vũ”, “Thanh” và “Hoa” liên kết thành một chân dung người đàn bà đi qua cuộc tình mà không thể nào thoát khỏi những hồi tưởng đeo bám. Người đàn bà ấy càng kiên định thủy chung thì dư âm cuộc tình càng nhói buốt. Dù xác định “đêm chẳng thể dài hơn kỉ niệm” nhưng hành trình tìm kiếm ánh sáng bình yên vẫn gập ghềnh “em đi/ qua rất nhiều ngôi nhà/ đánh rơi hạt mầm bên cửa/ những dấu chân rón rén/ những cuộc tình không bấm chuông”, chị đành chấp nhận bẽ bàng “tôi gặp vài người đàn bà/ bàn tay giống tôi/ mái tóc giống tôi/ giọng nói giống tôi/ nhưng đôi mắt và nụ cười rất khác/ khép cánh cửa gió/ giật mình/ tôi gặp/ góc trong cùng/ một người đàn bà co ro ngồi khóc”.

Những câu thơ Vũ Thanh Hoa cứ dần mở rộng xao xác khi chị tự cho mình cơ hội để ngờ vực người tình “những lời hứa suông quá nhiều dị bản” và ngờ vực bản thân “cả tin những tia nắng ban mai vĩnh cửu/ cả tin những cơn mưa không bao giờ tạnh”. Đôi lúc, khoảnh khắc nhớ nhung ngoảnh lại cũng làm bồi hồi thực tại ngổn ngang “mùa cũ tưng bừng nở trên chiếc khăn/ em choàng vào năm ấy/ từng cánh cúc vàng rực/ bây giờ lặng thinh trong chiếc lá thu”. Giữa miền hanh hao của bâng khuâng nuối tiếc và bịn rịn níu kéo, chị mường tượng được thời gian lạnh lùng đang đẩy mình vào những rối bời miên man “hương sắc đang rời bỏ cánh hoa/ lạc lõng mùa và người đàn bà lỗi mốt”.

Thơ tình Vũ Thanh Hoa không thét gào, không hờn dỗi, không trách móc. Chị tập làm quen với hụt hẫng bằng cách an ủi “bao nông nổi xếp hàng hóa thân trầm tích” để có một ứng xử bao dung “chuyện hôm qua sắp cất vào năm cũ/ em vẫn chưa quen ngồi hát một mình”. Chị tập chan hòa với mất mát bằng cách vỗ về “gió xô mây trắng ngã lưng chừng” để có một thái độ tha thứ “gục trên vai mùa thu khóc cho những lá lìa cành/ trong giấc mơ hôm qua một vì sao đã tắt”.

Nhà thơ Vũ Thanh Hoa không quá chú trọng thể loại thơ để tái hiện nhịp đập trái tim mình. Chính nhờ sự chối từ những khuôn thước mang tính ước lệ, từng câu thơ tự do co duỗi dài ngắn khác nhau để thuận lợi phô diễn mọi ý tứ. “Vũ”, “Thanh” và “Hoa” dù nặng trĩu ưu tư vẫn không triệt tiêu mơ mộng. Cái nhìn mông lung “thành phố sang thu lá rụng về cổ tích” giúp sự lãng mạn không bị che lấp “anh như là hoàng tử/ em sửa soạn mãi không thành công chúa” giữa định mệnh run rủi “em nhắm mắt đi trên sóng/ vô định cánh buồm mình/ con thuyền lạc lối/ trôi về hư không”.

Ba tập thơ “Vũ”, “Thanh” và “Hoa” đều không dễ đọc liền một hơi. Mỗi tập thơ đều có lý do để tồn tại độc lập, nhưng vẫn nằm trong mạch rung động chung của bản hòa âm “Vũ Thanh Hoa”. Đọc thơ chị, không khó để phát hiện cá tính một người phụ nữ mạnh mẽ và quyết liệt. Sau năm tháng trải nghiệm hết cung bậc giông bão và cay đắng, chị lặng lẽ vãn hồi sự nồng nhiệt “tấm áo mùa thu đánh mất/ heo may chẳng thể hồi sinh” để được an trú trong không gian riêng “hát một câu hát phi giới tính/ thấy mình cùng những hạt bụi rơi”.

Với ba tập thơ “Vũ”, “Thanh” và “Hoa”, nhà thơ Vũ Thanh Hoa tự tin phơi bày vui buồn với cộng đồng. Tác giả không ngần ngại “em lau những giọt mưa chảy từ ký ức mình” như một giải pháp âm thầm bảo tồn những ngày yêu và được yêu “bất chợt mưa rào đổ về biển sâu/ nỗi nhớ vòng xe lăn bánh qua cầu”.

Sài Gòn, 3/2026

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm