TIN TỨC

Câu thơ buồn như tiếng rao đêm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-03-23 12:37:50
mail facebook google pos stwis
124 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận. Thế nhưng, với sự bình tĩnh và sự điềm nhiên ấy, nhà thơ Vũ Thanh Hoa cũng bước vào giai đoạn khó khăn nhất của một người viết. Đưa thơ về phía thị hiếu đám đông hay kéo thơ về cõi im lặng cá nhân, thực sự cần sự đắn đo nghiêm túc. Sau một thập niên không in thơ, chị cùng lúc ra mắt ba tập thơ, tự tin đặt tên mỗi tập thơ bằng một âm tiết, mà ghép lại thành bút danh mình: “Vũ”, Thanh” và “Hoa”.
 

Ba tập thơ “Vũ”, “Thanh” và “Hoa” chủ yếu được nhà thơ Vũ Thanh Hoa viết từ năm 2010 đến năm 2025. Nếu so với những tập thơ đã xuất bản trước đây như “Nỗi đau của lá”, “Trong em có người đàn bà khác”, “Lời cầu hôn đêm qua” và “Lục bát phố”, thì chị trình làng một giọng điệu đắm đuối hơn và day dứt hơn. Đó là cảm giác “chiếc ghế độc thân quên nhớ vu vơ” trong bối cảnh “khi lỡ mùa câu chữ hóa ngô nghê” nên chị có được “câu thơ buồn như tiếng rao đêm”.

Những ai muốn tìm vần điệu nhẹ nhàng mang tính thư giãn chốc lát, có lẽ không nên đọc “Vũ”, “Thanh” và “Hoa”. Bởi lẽ, sự tương tác của ba tập thơ kéo độc giả vào miền hoang mang và ngậm ngùi, khi phải san sẻ cảm giác “bóng tối giả chết/ mọi người giả chết/ em giả chết/ trái tim vẫn sống để yêu anh” từ nỗi đa đoan và niềm vân vi “đổ tất cả buồn vui vào khói/ tôi định vị mình giữa bản đồ đêm”.

Nhà thơ Vũ Thanh Hoa bên poster thơ của mình tại Ngày Thơ Việt Nam 2026.

Ba tập thơ “Vũ”, “Thanh” và “Hoa” liên kết thành một chân dung người đàn bà đi qua cuộc tình mà không thể nào thoát khỏi những hồi tưởng đeo bám. Người đàn bà ấy càng kiên định thủy chung thì dư âm cuộc tình càng nhói buốt. Dù xác định “đêm chẳng thể dài hơn kỉ niệm” nhưng hành trình tìm kiếm ánh sáng bình yên vẫn gập ghềnh “em đi/ qua rất nhiều ngôi nhà/ đánh rơi hạt mầm bên cửa/ những dấu chân rón rén/ những cuộc tình không bấm chuông”, chị đành chấp nhận bẽ bàng “tôi gặp vài người đàn bà/ bàn tay giống tôi/ mái tóc giống tôi/ giọng nói giống tôi/ nhưng đôi mắt và nụ cười rất khác/ khép cánh cửa gió/ giật mình/ tôi gặp/ góc trong cùng/ một người đàn bà co ro ngồi khóc”.

Những câu thơ Vũ Thanh Hoa cứ dần mở rộng xao xác khi chị tự cho mình cơ hội để ngờ vực người tình “những lời hứa suông quá nhiều dị bản” và ngờ vực bản thân “cả tin những tia nắng ban mai vĩnh cửu/ cả tin những cơn mưa không bao giờ tạnh”. Đôi lúc, khoảnh khắc nhớ nhung ngoảnh lại cũng làm bồi hồi thực tại ngổn ngang “mùa cũ tưng bừng nở trên chiếc khăn/ em choàng vào năm ấy/ từng cánh cúc vàng rực/ bây giờ lặng thinh trong chiếc lá thu”. Giữa miền hanh hao của bâng khuâng nuối tiếc và bịn rịn níu kéo, chị mường tượng được thời gian lạnh lùng đang đẩy mình vào những rối bời miên man “hương sắc đang rời bỏ cánh hoa/ lạc lõng mùa và người đàn bà lỗi mốt”.

Thơ tình Vũ Thanh Hoa không thét gào, không hờn dỗi, không trách móc. Chị tập làm quen với hụt hẫng bằng cách an ủi “bao nông nổi xếp hàng hóa thân trầm tích” để có một ứng xử bao dung “chuyện hôm qua sắp cất vào năm cũ/ em vẫn chưa quen ngồi hát một mình”. Chị tập chan hòa với mất mát bằng cách vỗ về “gió xô mây trắng ngã lưng chừng” để có một thái độ tha thứ “gục trên vai mùa thu khóc cho những lá lìa cành/ trong giấc mơ hôm qua một vì sao đã tắt”.

Nhà thơ Vũ Thanh Hoa không quá chú trọng thể loại thơ để tái hiện nhịp đập trái tim mình. Chính nhờ sự chối từ những khuôn thước mang tính ước lệ, từng câu thơ tự do co duỗi dài ngắn khác nhau để thuận lợi phô diễn mọi ý tứ. “Vũ”, “Thanh” và “Hoa” dù nặng trĩu ưu tư vẫn không triệt tiêu mơ mộng. Cái nhìn mông lung “thành phố sang thu lá rụng về cổ tích” giúp sự lãng mạn không bị che lấp “anh như là hoàng tử/ em sửa soạn mãi không thành công chúa” giữa định mệnh run rủi “em nhắm mắt đi trên sóng/ vô định cánh buồm mình/ con thuyền lạc lối/ trôi về hư không”.

Ba tập thơ “Vũ”, “Thanh” và “Hoa” đều không dễ đọc liền một hơi. Mỗi tập thơ đều có lý do để tồn tại độc lập, nhưng vẫn nằm trong mạch rung động chung của bản hòa âm “Vũ Thanh Hoa”. Đọc thơ chị, không khó để phát hiện cá tính một người phụ nữ mạnh mẽ và quyết liệt. Sau năm tháng trải nghiệm hết cung bậc giông bão và cay đắng, chị lặng lẽ vãn hồi sự nồng nhiệt “tấm áo mùa thu đánh mất/ heo may chẳng thể hồi sinh” để được an trú trong không gian riêng “hát một câu hát phi giới tính/ thấy mình cùng những hạt bụi rơi”.

Với ba tập thơ “Vũ”, “Thanh” và “Hoa”, nhà thơ Vũ Thanh Hoa tự tin phơi bày vui buồn với cộng đồng. Tác giả không ngần ngại “em lau những giọt mưa chảy từ ký ức mình” như một giải pháp âm thầm bảo tồn những ngày yêu và được yêu “bất chợt mưa rào đổ về biển sâu/ nỗi nhớ vòng xe lăn bánh qua cầu”.

Sài Gòn, 3/2026

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm