TIN TỨC

Nghệ thuật dựng chân dung nhân vật của nhà văn Nguyên Ngọc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-12-23 18:49:51
mail facebook google pos stwis
4989 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh) - Nhà văn Nguyên Ngọc là một nhà văn  có phong cách xây dựng nhân vật độc đáo, giàu sức sáng tạo. Cái tài  của Nguyên Ngọc là dựng bức tranh hiện thực, hào phóng dữ dội, quyết liệt, nguyên sơ thuần chất. Phương thức mô tả hiện thực không lặp lại, mà mỗi truyện mỗi tác phẩm lại sử dụng quen thuộc nếp tư duy nghệ thuật là dạng thức khái quát. Từ cái nhỏ để suy ra cái lớn, từ một trường hợp đơn nhất mà ngẫm đến những chân lý, đem qui luật chung mà ngẫm đến những hiện tượng rất riêng bám rất sâu  sát hiện thực, phản ánh đúng bản chất cuộc sống. Nguyên Ngọc thể hiện cái phi thường mà con người và cuộc sống từng trải.

Nhà văn Nguyên Ngọc

 Trong những tác phẩm viết về  chiến tranh các nhà văn thường giải quyết vấn đề quan hệ  giữa sự kiện và nhân vật. Qua mô tả sự kiện thì nhân vật lại bị mờ nhạt. Ngược lại, tập trung miêu tả nhân vật thì việc tạo dựng sự kiện bị hạn chế. Nguyên Ngọc dùng sự kiện để miêu tả tính cách nhân vật, tính cách nhân vật phát triển cùng sự kiện. Nguyên Ngọc có biệt tài về dựng. Dựng cao hơn kể. Nguyên Ngọc là nhà văn viết kỹ lượng và lại có sự chọn lọc, khái quát. Nhà văn miêu tả cụ thể chi tiết về các sự kiện: Trận đánh, cuộc vận động quần chúng… và từ cái nhìn đó để miêu tả nhân vật. Đặc biệt,  trong bút ký nhân vật được khắc họa rất chân thực trọn vẹn, mặc dù số trang văn miêu tả mỗi nhân vật rất ít. “Cát cháy” (Nguyên Ngọc, tản mản nhớ và quên) là tập bút ký viết về xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, Quảng Nam vào thời điểm 1969-1970. Nguyên Ngọc chú trọng viết về số phận nhân vật.  Những con người sinh ra trên cát và lớn lên giữa vùng cát. Những năm đánh Mỹ, Nguyên Ngọc từng làm bí thư chi bộ một xã vùng cát và ông hiểu rất rõ cuộc sống người dân ở đó trong chiến tranh. Càng bám sát thực tế, sống bằng thực tế thì những trang văn  của Nguyên Ngọc  có sức hấp dẫn đặc biệt. Đây là một đoạn văn trong bút ký’ Cát cháy”:

     “ Chị Huyền cười:

- Em là bí thư thời  mất dân, mất nước mà, các anh.  Nhưng mà, quả thực em đã được chuẩn bị cho giai đoạn đó. Tất nhiên khốc liệt đến nước đó, phải nói thật trước đó mình cũng chưa hoàn toàn lường hết. Nhưng chuẩn bị cho mọi tình huống thì mình đã có rồi. Chuẩn bị lực lượng. Chuẩn bị thế trận. Như  các anh quân sự hay nói: Lập thế trận. Mà thế trận từ hàng chục năm trước. Có khi em cũng nghĩ:  Sao mình lại tài tình vậy? Nhưng rồi nghĩ lại: Chắc là  do tự cuộc đấu tranh sinh tử nó dạy cho. Sơ hở, chậm chạp là trả giá ngay, mà trả bằng máu… ta chuẩn bị trước hàng chục năm. Em cũng thuộc loại được chuẩn bị đó….

- Các anh cứ uống nước đi, các anh thông cảm, nhà không có đàn ông, chẳng có trà - chị Huyền nhắc lại. Các anh uống nước đi, chuyện sẽ rất dài…..”.

 Những trang văn đầy xúc động, Nguyên Ngọc đã viết về số phận của bao cô gái đã từng làm nên bao chiến công trên vùng đất Bình Dương oanh liệt và sau chiến tranh họ trở về cuộc sống từng ngày: “Họ chỉ hẹn thỉnh thoảng gặp nhau, ngồi với nhau, chỉ riêng với nhau thôi, nhắc lại chuyện xưa, những chuyện chỉ họ biết và hiểu. Họ chọn cái quán ngã ba này làm điểm hẹn, vì bị chủ quán, cô gái trông ỏn ẻn đó, hơn hai mươi năm trước từng là người chỉ huy du kích mật trong khu đồn. Những người đến trông xấp xỉ bằng tuổi nhau: Trên dưới bốn mươi. Chỉ có một chị hiện nay là phó chủ tịch xã. Còn thì, người đi buôn vặt, người thì chuyên đi giữ bò… Tất cả họ, không trừ một ai, đều long đong. Có gần một nửa không  có chồng. Chiến tranh đi qua, và  bỏ lại họ. Cuộc sống mới đi tới, và bỏ quên họ. Họ bị quá lứa. Người nào cũng thương tật, có người đến tàn phế, tuy nhìn bên ngoài hầu như không thể thấy dấu hiệu nào của vết thương cả: Toàn nội thương, do bị tra tấn.  “Không có vết thương nhược thể” như cách nói của các cơ quan làm chính sách hiện nay, không có vết thương nhược thể “nên cũng chẳng có bằng chứng thực thể” gì để có thể cấp cho họ một cái thẻ thương binh, các anh cán bộ làm chính sách bảo vậy….

Gặp nhau, cũng có lúc họ trêu nhau chuyện chồng con long đong: Gả người này cho ông góa vợ nào đó, hoặc xui người kia thôi thì lấy đại một ông đã đàng hoàng vợ con, làm lẽ cũng được, hoặc nữa cùng lắm “tự túc” một đứa con mà nuôi, thì đã sao!... Lao xao ầm ĩ. Rồi chợt im lặng, ứa nước mắt, rồi đột ngột ôm nhau ngã ra cười rũ rượi…

Rất nhiều khi họ cùng nhau nhắc lại những chuyện chiến đấu cũ, những trận đánh mạo hiểm, những phen bị bắt, ở tù, bị tra tấn chết đi sống lại… và, đôi lúc chợt như sững sờ, họ nhìn đăm đắm vào mắt nhau, và hỏi, hỏi nhau hay tự hỏi chính mình:

- Tại sao hồi đó bon mình ghê gớm như vậy he?

  Câu hỏi không ai trả lời”.

Có những chuyện không có cốt truyện, Nguyên Ngọc dựng trọn vẹn chân dung nhân vật, cái tài kết hợp giữa kẻ, tả và dàn dựng, khâu nối hệ thống các chi tiết. Nguyên Ngọc kẻ về một ông già người Mèo có tên là Cắm trong truyện “Rẻo cao”: “Cắm say mê hoạt động cách mạng, về già hoạt động cách mạng ở quê. Công việc của Cắm là chuyển thư từ, báo Đảng xuống các bản làng. Người cán bộ này có điều đặc biệt là không biết chữ, vì vậy thằng cháu ruột của Cắm một anh chàng bưu tá huyện đã phải đánh dấu cho ông bằng những sợi chỉ xanh, chỉ đỏ. Nguyên Ngọc dựng chuyện tự nhiên, đan cài vào trong mạch chuyện chất trữ tình đằm thắm, mạch tự sự về cuộc đời nhân vật phát triển lô gích, giản dị.

Nguyên Ngọc  là nhà văn rất chú trọng xây dựng những chi tiết nghệ thuật hay. Trong bút ký “Cát cháy”, có chi tiết đám cưới sau chiến tranh không đủ đũa dùng, nhiều gia đình thiếu đũa, nhà văn ghi lại thật cảm động: “ Tre vót đôi đũa ăn cơm cũng không có. Ai mang được đôi đũa ở Đà nẵng về là phải giữ cẩn thận. Lỡ gãy là ăn bốc!... Mà bữa ăn hồi đó, cực quá chừng. Có chút rau chút khoai, có hột cơm rồi, nhưng trống trơn thế này, có cơn gió là cát chen đầy bữa cơm.  Mà cơm nhai lạo xạo trên cát. Bụi cát mù mịt suốt ngày. Bọn em con gái con lứa mà đứa nào đứa nấy toét mắt hết… giữa bữa tiệc cưới hồi đó, tự nhiên anh Bốn đứng dậy quát ầm ầm: “Tới cái đũa cũng không có mà ăn, ăn bốc mọi rợ, sống không ra người. Sống không có màu xanh, sống làm gì!… Ai cũng ứa nước mắt..”. 

 Những chi tiết xúc động gợi cho ta liên tưởng đến sự phi thường của con người trong chiến tranh ác liệt. và những chi riết đó đã khắc họa rõ nét chân dung nhân vật. Hình ảnh con Xuyến trong tiểu thuyết “Đất Quảng”(tập 1) được mô tả thật xúc động  ngay từ đầu, Xuyến có một số phận đau thương: “ Thắm sinh đứa con đầu lòng trong lao quận, hai tay còn bị đóng chặt trong xiềng sắt và con Xuyến rơi ra trên nền xi măng lạnh đến nỗi suốt một ngày không cất được tiếng khóc, chỉ chớp mãi đôi môi tím rịm như con cá bị ném lên cạn. Người mẹ gửi Xuyến lại rồi lại đi tìm xác chồng. Thắm gửi con Xuyến cho cha thất thưởng đi suốt dọc bờ sông Trúc đi tìm xác chồng. Khi lớn lên Xuyến đã biết sống như một người cách mạng, Xuyến căm thù giặc sâu sắc. Con Xuyến thường rủ rê với mẹ:  Khi mô thằng Min về mẹ cho đi diệt hắn nghen mẹ, được mà, con có lựu đạn, con trả thù cho cha”.

Cách giới thiệu nhân vật thường nhắc đi nhắc lại một đặc điểm nào đó của nhân vật. Cách giới thiệu này có ngọn nguồn từ cách giới thiệu nhân vật trong sử thi. Trong tác phẩm “Rừng xà nu” Nguyễn Trung Thành tập trung miêu tả hai bàn tay của nhân vật Thú, điệp lại ba lần hình ảnh những vết dao trên lưng Thú ngày nhỏ để làm nổi rõ dụng ý nghệ  thuật của nhà văn. Nguyên Ngọc miêu tả ngoại hình nhân vật, cái lối so sánh theo lối tư duy sử thi đã tạo nên tính biểu tượng rất cao: Người tiểu đội trưởng Y kơ bin (Kỷ niệm Tây Nguyên) được miêu tả: “ Vạm vỡ và im lặng như một hòn núi, bàn tay vạm vỡ và sần sùi, bộ ngực rộng rãi và căng thẳng, bộ ngực chắc như một cây gỗ lim dài”. Những nét ngoại hình ấy rất giàu biểu tượng, được lặp lại ở nhân vật cụ Nết trong “Rừng xà nu”: “ Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xích ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn lảng bóng, ông ở trần ngực căng như một cây xà nu lớn. Với nhân vật Thú : “ Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai”. Trong quá trình thể hiện chân dung nhân vật, nhịp văn của Nguyên Ngọc có độ rung cảm đặc biệt. Nhiều khi thông qua lời của một nhân chứng mà ta hiểu được tính chất của hiện thực chiến tranh trong nội tâm của con người : “Chưa bao giờ em thấy người chết nhiều như lần ấy. Tất cả dồn xuống hố bom, xác chồng chất lên nhau. Tối bọn em mò về. Không còn nước mắt mà khóc nữa. Suốt đêm đi chôn. Xác trẻ con thì cứ quang gánh một em  một đầu rổ sáo  gánh đi. Xác người lớn thì khiêng…” (Cát cháy). Câu chuyện Nguyên Ngọc viết vừa khép lại nhưng dư vị về thiên nhiên đất nước, con người ở rẻo cao cứ sâu thẳm dai dẳng mãi, bởi cái hồn khí thiêng núi rừng, cái đẹp của tạo hóa bắt nhịp vào cái đẹp của hồn người, thật dung dị bền chặt: “Cắm đi một mình trong đêm đúng như  báo Đảng nói, đêm nay trời ít mây và có gió nhẹ. Thỉnh thoáng có mưa nhưng là mưa nhẹ sương. Mùa xuân về trên “Rẻo cao” đã làm nở những thứ hoa chỉ thơm ban đêm kín đáo như nụ cười tình của một cô gái Mèo. Tiếng kêu của con hoẵng lạc bầy trong rừng khuya nghe như tiếng gọi tha thiết của một con người. Cắm nghĩ chưa bao giờ anh nghe báo nói về tiếng kêu của con hoẵng đó. Nhưng nói làm gì trên khắp đất nước ta, có nơi nào mà một đêm mùa xuân mà lại không nghe thấy tiếng kêu tha thiết của một con hoẵng con. Cắm xốc lại dây súng nhưng không phải để bắn. Anh đi nhanh trong đêm quen thuộc”.

 Nguyên Ngọc đã viết bằng tấm lòng tha thiết gắn bó với cuộc sống con người. Nhà văn hiểu sâu sắc tường tận sự hy sinh, phi thường của con người Việt Nam trong chiến tranh cách mạng. Trong mạch dẫn chuyện, xen giữa mạch tự sự của nhà văn, có hồi ức của nhân chứng, phả vào đó là cái trạng huống tinh thần, thế giới trữ tình của người viết.

               

      Nguyễn Văn Ngọc

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm