TIN TỨC

Nghệ thuật dựng chân dung nhân vật của nhà văn Nguyên Ngọc

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-12-23 18:49:51
mail facebook google pos stwis
5081 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh) - Nhà văn Nguyên Ngọc là một nhà văn  có phong cách xây dựng nhân vật độc đáo, giàu sức sáng tạo. Cái tài  của Nguyên Ngọc là dựng bức tranh hiện thực, hào phóng dữ dội, quyết liệt, nguyên sơ thuần chất. Phương thức mô tả hiện thực không lặp lại, mà mỗi truyện mỗi tác phẩm lại sử dụng quen thuộc nếp tư duy nghệ thuật là dạng thức khái quát. Từ cái nhỏ để suy ra cái lớn, từ một trường hợp đơn nhất mà ngẫm đến những chân lý, đem qui luật chung mà ngẫm đến những hiện tượng rất riêng bám rất sâu  sát hiện thực, phản ánh đúng bản chất cuộc sống. Nguyên Ngọc thể hiện cái phi thường mà con người và cuộc sống từng trải.

Nhà văn Nguyên Ngọc

 Trong những tác phẩm viết về  chiến tranh các nhà văn thường giải quyết vấn đề quan hệ  giữa sự kiện và nhân vật. Qua mô tả sự kiện thì nhân vật lại bị mờ nhạt. Ngược lại, tập trung miêu tả nhân vật thì việc tạo dựng sự kiện bị hạn chế. Nguyên Ngọc dùng sự kiện để miêu tả tính cách nhân vật, tính cách nhân vật phát triển cùng sự kiện. Nguyên Ngọc có biệt tài về dựng. Dựng cao hơn kể. Nguyên Ngọc là nhà văn viết kỹ lượng và lại có sự chọn lọc, khái quát. Nhà văn miêu tả cụ thể chi tiết về các sự kiện: Trận đánh, cuộc vận động quần chúng… và từ cái nhìn đó để miêu tả nhân vật. Đặc biệt,  trong bút ký nhân vật được khắc họa rất chân thực trọn vẹn, mặc dù số trang văn miêu tả mỗi nhân vật rất ít. “Cát cháy” (Nguyên Ngọc, tản mản nhớ và quên) là tập bút ký viết về xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, Quảng Nam vào thời điểm 1969-1970. Nguyên Ngọc chú trọng viết về số phận nhân vật.  Những con người sinh ra trên cát và lớn lên giữa vùng cát. Những năm đánh Mỹ, Nguyên Ngọc từng làm bí thư chi bộ một xã vùng cát và ông hiểu rất rõ cuộc sống người dân ở đó trong chiến tranh. Càng bám sát thực tế, sống bằng thực tế thì những trang văn  của Nguyên Ngọc  có sức hấp dẫn đặc biệt. Đây là một đoạn văn trong bút ký’ Cát cháy”:

     “ Chị Huyền cười:

- Em là bí thư thời  mất dân, mất nước mà, các anh.  Nhưng mà, quả thực em đã được chuẩn bị cho giai đoạn đó. Tất nhiên khốc liệt đến nước đó, phải nói thật trước đó mình cũng chưa hoàn toàn lường hết. Nhưng chuẩn bị cho mọi tình huống thì mình đã có rồi. Chuẩn bị lực lượng. Chuẩn bị thế trận. Như  các anh quân sự hay nói: Lập thế trận. Mà thế trận từ hàng chục năm trước. Có khi em cũng nghĩ:  Sao mình lại tài tình vậy? Nhưng rồi nghĩ lại: Chắc là  do tự cuộc đấu tranh sinh tử nó dạy cho. Sơ hở, chậm chạp là trả giá ngay, mà trả bằng máu… ta chuẩn bị trước hàng chục năm. Em cũng thuộc loại được chuẩn bị đó….

- Các anh cứ uống nước đi, các anh thông cảm, nhà không có đàn ông, chẳng có trà - chị Huyền nhắc lại. Các anh uống nước đi, chuyện sẽ rất dài…..”.

 Những trang văn đầy xúc động, Nguyên Ngọc đã viết về số phận của bao cô gái đã từng làm nên bao chiến công trên vùng đất Bình Dương oanh liệt và sau chiến tranh họ trở về cuộc sống từng ngày: “Họ chỉ hẹn thỉnh thoảng gặp nhau, ngồi với nhau, chỉ riêng với nhau thôi, nhắc lại chuyện xưa, những chuyện chỉ họ biết và hiểu. Họ chọn cái quán ngã ba này làm điểm hẹn, vì bị chủ quán, cô gái trông ỏn ẻn đó, hơn hai mươi năm trước từng là người chỉ huy du kích mật trong khu đồn. Những người đến trông xấp xỉ bằng tuổi nhau: Trên dưới bốn mươi. Chỉ có một chị hiện nay là phó chủ tịch xã. Còn thì, người đi buôn vặt, người thì chuyên đi giữ bò… Tất cả họ, không trừ một ai, đều long đong. Có gần một nửa không  có chồng. Chiến tranh đi qua, và  bỏ lại họ. Cuộc sống mới đi tới, và bỏ quên họ. Họ bị quá lứa. Người nào cũng thương tật, có người đến tàn phế, tuy nhìn bên ngoài hầu như không thể thấy dấu hiệu nào của vết thương cả: Toàn nội thương, do bị tra tấn.  “Không có vết thương nhược thể” như cách nói của các cơ quan làm chính sách hiện nay, không có vết thương nhược thể “nên cũng chẳng có bằng chứng thực thể” gì để có thể cấp cho họ một cái thẻ thương binh, các anh cán bộ làm chính sách bảo vậy….

Gặp nhau, cũng có lúc họ trêu nhau chuyện chồng con long đong: Gả người này cho ông góa vợ nào đó, hoặc xui người kia thôi thì lấy đại một ông đã đàng hoàng vợ con, làm lẽ cũng được, hoặc nữa cùng lắm “tự túc” một đứa con mà nuôi, thì đã sao!... Lao xao ầm ĩ. Rồi chợt im lặng, ứa nước mắt, rồi đột ngột ôm nhau ngã ra cười rũ rượi…

Rất nhiều khi họ cùng nhau nhắc lại những chuyện chiến đấu cũ, những trận đánh mạo hiểm, những phen bị bắt, ở tù, bị tra tấn chết đi sống lại… và, đôi lúc chợt như sững sờ, họ nhìn đăm đắm vào mắt nhau, và hỏi, hỏi nhau hay tự hỏi chính mình:

- Tại sao hồi đó bon mình ghê gớm như vậy he?

  Câu hỏi không ai trả lời”.

Có những chuyện không có cốt truyện, Nguyên Ngọc dựng trọn vẹn chân dung nhân vật, cái tài kết hợp giữa kẻ, tả và dàn dựng, khâu nối hệ thống các chi tiết. Nguyên Ngọc kẻ về một ông già người Mèo có tên là Cắm trong truyện “Rẻo cao”: “Cắm say mê hoạt động cách mạng, về già hoạt động cách mạng ở quê. Công việc của Cắm là chuyển thư từ, báo Đảng xuống các bản làng. Người cán bộ này có điều đặc biệt là không biết chữ, vì vậy thằng cháu ruột của Cắm một anh chàng bưu tá huyện đã phải đánh dấu cho ông bằng những sợi chỉ xanh, chỉ đỏ. Nguyên Ngọc dựng chuyện tự nhiên, đan cài vào trong mạch chuyện chất trữ tình đằm thắm, mạch tự sự về cuộc đời nhân vật phát triển lô gích, giản dị.

Nguyên Ngọc  là nhà văn rất chú trọng xây dựng những chi tiết nghệ thuật hay. Trong bút ký “Cát cháy”, có chi tiết đám cưới sau chiến tranh không đủ đũa dùng, nhiều gia đình thiếu đũa, nhà văn ghi lại thật cảm động: “ Tre vót đôi đũa ăn cơm cũng không có. Ai mang được đôi đũa ở Đà nẵng về là phải giữ cẩn thận. Lỡ gãy là ăn bốc!... Mà bữa ăn hồi đó, cực quá chừng. Có chút rau chút khoai, có hột cơm rồi, nhưng trống trơn thế này, có cơn gió là cát chen đầy bữa cơm.  Mà cơm nhai lạo xạo trên cát. Bụi cát mù mịt suốt ngày. Bọn em con gái con lứa mà đứa nào đứa nấy toét mắt hết… giữa bữa tiệc cưới hồi đó, tự nhiên anh Bốn đứng dậy quát ầm ầm: “Tới cái đũa cũng không có mà ăn, ăn bốc mọi rợ, sống không ra người. Sống không có màu xanh, sống làm gì!… Ai cũng ứa nước mắt..”. 

 Những chi tiết xúc động gợi cho ta liên tưởng đến sự phi thường của con người trong chiến tranh ác liệt. và những chi riết đó đã khắc họa rõ nét chân dung nhân vật. Hình ảnh con Xuyến trong tiểu thuyết “Đất Quảng”(tập 1) được mô tả thật xúc động  ngay từ đầu, Xuyến có một số phận đau thương: “ Thắm sinh đứa con đầu lòng trong lao quận, hai tay còn bị đóng chặt trong xiềng sắt và con Xuyến rơi ra trên nền xi măng lạnh đến nỗi suốt một ngày không cất được tiếng khóc, chỉ chớp mãi đôi môi tím rịm như con cá bị ném lên cạn. Người mẹ gửi Xuyến lại rồi lại đi tìm xác chồng. Thắm gửi con Xuyến cho cha thất thưởng đi suốt dọc bờ sông Trúc đi tìm xác chồng. Khi lớn lên Xuyến đã biết sống như một người cách mạng, Xuyến căm thù giặc sâu sắc. Con Xuyến thường rủ rê với mẹ:  Khi mô thằng Min về mẹ cho đi diệt hắn nghen mẹ, được mà, con có lựu đạn, con trả thù cho cha”.

Cách giới thiệu nhân vật thường nhắc đi nhắc lại một đặc điểm nào đó của nhân vật. Cách giới thiệu này có ngọn nguồn từ cách giới thiệu nhân vật trong sử thi. Trong tác phẩm “Rừng xà nu” Nguyễn Trung Thành tập trung miêu tả hai bàn tay của nhân vật Thú, điệp lại ba lần hình ảnh những vết dao trên lưng Thú ngày nhỏ để làm nổi rõ dụng ý nghệ  thuật của nhà văn. Nguyên Ngọc miêu tả ngoại hình nhân vật, cái lối so sánh theo lối tư duy sử thi đã tạo nên tính biểu tượng rất cao: Người tiểu đội trưởng Y kơ bin (Kỷ niệm Tây Nguyên) được miêu tả: “ Vạm vỡ và im lặng như một hòn núi, bàn tay vạm vỡ và sần sùi, bộ ngực rộng rãi và căng thẳng, bộ ngực chắc như một cây gỗ lim dài”. Những nét ngoại hình ấy rất giàu biểu tượng, được lặp lại ở nhân vật cụ Nết trong “Rừng xà nu”: “ Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xích ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn lảng bóng, ông ở trần ngực căng như một cây xà nu lớn. Với nhân vật Thú : “ Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai”. Trong quá trình thể hiện chân dung nhân vật, nhịp văn của Nguyên Ngọc có độ rung cảm đặc biệt. Nhiều khi thông qua lời của một nhân chứng mà ta hiểu được tính chất của hiện thực chiến tranh trong nội tâm của con người : “Chưa bao giờ em thấy người chết nhiều như lần ấy. Tất cả dồn xuống hố bom, xác chồng chất lên nhau. Tối bọn em mò về. Không còn nước mắt mà khóc nữa. Suốt đêm đi chôn. Xác trẻ con thì cứ quang gánh một em  một đầu rổ sáo  gánh đi. Xác người lớn thì khiêng…” (Cát cháy). Câu chuyện Nguyên Ngọc viết vừa khép lại nhưng dư vị về thiên nhiên đất nước, con người ở rẻo cao cứ sâu thẳm dai dẳng mãi, bởi cái hồn khí thiêng núi rừng, cái đẹp của tạo hóa bắt nhịp vào cái đẹp của hồn người, thật dung dị bền chặt: “Cắm đi một mình trong đêm đúng như  báo Đảng nói, đêm nay trời ít mây và có gió nhẹ. Thỉnh thoáng có mưa nhưng là mưa nhẹ sương. Mùa xuân về trên “Rẻo cao” đã làm nở những thứ hoa chỉ thơm ban đêm kín đáo như nụ cười tình của một cô gái Mèo. Tiếng kêu của con hoẵng lạc bầy trong rừng khuya nghe như tiếng gọi tha thiết của một con người. Cắm nghĩ chưa bao giờ anh nghe báo nói về tiếng kêu của con hoẵng đó. Nhưng nói làm gì trên khắp đất nước ta, có nơi nào mà một đêm mùa xuân mà lại không nghe thấy tiếng kêu tha thiết của một con hoẵng con. Cắm xốc lại dây súng nhưng không phải để bắn. Anh đi nhanh trong đêm quen thuộc”.

 Nguyên Ngọc đã viết bằng tấm lòng tha thiết gắn bó với cuộc sống con người. Nhà văn hiểu sâu sắc tường tận sự hy sinh, phi thường của con người Việt Nam trong chiến tranh cách mạng. Trong mạch dẫn chuyện, xen giữa mạch tự sự của nhà văn, có hồi ức của nhân chứng, phả vào đó là cái trạng huống tinh thần, thế giới trữ tình của người viết.

               

      Nguyễn Văn Ngọc

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm