TIN TỨC
  • Truyện
  • Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh

Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-06 21:02:31
mail facebook google pos stwis
214 lượt xem

Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.

Hai năm vừa rồi, hậu quả của cơn bão Yagi chưa khắc phục xong lại tiếp đến bão Bualoi. Nền đường nhiều đoạn sụt lở, mặt đường hằn sâu thành rãnh, nhiều chỗ sục lên như vũng trâu đằm. Hờ A Xà bảo: Sán Trá thuộc vùng lõi của rừng phòng hộ đầu nguồn nên việc mở đường phải tính toán kĩ. Thời gian qua địa phương cũng đã khảo sát và lên phương án mở tiếp con đường nối liền với xã Chiềng Công của tỉnh Sơn La. Tuyến đường dài khoảng 20km sẽ được làm mới và mở rộng giúp cho giao thông đảm bảo thuận tiện, từ đó đẩy mạnh giao thương giữa 2 địa phương. Vui chuyện, anh kể về quê hương Làng Nhì với câu cửa miệng “bán không mua, mua không bán”. Thì ra cái chuyện đi lại khó khăn từ xa xưa đã khuôn người Mông trong vòng kim cô của đời sống “tự cung tự cấp”. Thôn Sán Trá cũng vậy.

 

Minh họa: Đào Quốc Huy

 

Sán Trá là thôn đặc biệt khó khăn ở xã Bản Công - huyện Trạm Tấu, nay là xã Hạnh Phúc, tỉnh Lào Cai. Với dân số 100% là đồng bào dân tộc Mông, đất ruộng ít, phương thức sản xuất lạc hậu nên cuộc sống còn nhiều khó khăn. Ngoài giao thông đi lại vất vả, Sán Trá cũng thiếu hệ thống nước sạch và nhất là chưa có điện lưới quốc gia. Thời gian trước, một số phụ nữ còn nghe theo lời kẻ xấu dụ dỗ “việc nhẹ lương cao” đã bỏ nhà ra đi và bị lừa bán ra nước ngoài gây bất ổn cho việc giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Xác định được khó khăn và thế mạnh của thôn, Chi bộ Đảng mà đứng đầu là Bí thư Thào A Cơ đã kịp thời đề ra các mục tiêu định hướng nhằm phát huy tốt thế mạnh của thôn trong phát triển kinh tế; đồng thời, xây dựng được quy ước đẩy lùi các hủ tục như: tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, sinh nhiều con... Nhờ đó, đến nay tỷ lệ hộ nghèo của thôn giảm đáng kể và riêng trong đội ngũ đảng viên chỉ có 2 hộ nghèo. Hằng năm, đồng bào thôn Sán Trá gieo trồng 63 ha lúa nước, đạt 100% kế hoạch. Đàn gia súc phát triển ổn định, duy trì 250 con trâu, bò; công tác phòng chống dịch bệnh, chống rét cho cùng với việc trồng cỏ và làm cây rơm dự trữ thức ăn cho gia súc trong mùa đông đã được quan tâm. Ở đây cũng xây dựng được một số mô hình sản xuất giỏi như mô hình kinh tế của Bí thư chi bộ Thào A Cơ; mô hình chăn nuôi trâu, bò của gia đình anh Thào A Chống; mô hình kinh tế tổng hợp của gia đình ông Thào A Say.

Như đã hẹn trước, Thào A Say nghỉ buổi làm ở nhà đón khách. Thoạt gặp, tôi đã có cảm tình với người đàn ông vóc dáng cao lớn, khỏe mạnh, xúng xính trong bộ quần áo Mông truyền thống. Theo như giới thiệu, ông sinh năm 1968 trong một gia đình đông anh em. Cũng bởi bố mẹ nghèo mà những đứa con đều thất học và phải bươn chải kiếm sống từ sớm. Chính hoàn cảnh đó đã rèn cho Thào A Say đức tính tự lập, quyết chí vươn lên. Năm 1996, khi có phong trào giao đất giao rừng để khoanh nuôi bảo vệ, ông mạnh dạn nhận 100ha. Ở Sán Trá với độ cao hơn nghìn mét so với mực nước biển, cây chủ yếu là thông. Vừa trồng dặm, vừa phát tỉa chăm sóc, qua ba mươi năm rừng đã lên xanh và phát huy hiệu quả phòng hộ. Đến nay, ngoài phần nhượng lại cho các con ông bà vẫn giữ lại 30ha, mỗi năm có nguồn thu 15 triệu đồng từ công việc này. Cũng tại khu vực rừng khoanh nuôi, Thào A Say lập trang trại chăn nuôi bò, dê theo hình thức bán chăn thả. Với tổng đàn 40 con, được cho ăn đầy đủ, chăm sóc đúng kĩ thuật nên phát triển tốt. Ngoài ra trong chuồng nhà luôn có khoảng 10 đầu lợn cùng đàn gia cầm 300 con, vừa bảo đảm nguồn thực phẩm hằng ngày cho sinh hoạt gia đình, vừa bán ra thị trường mang lại nguồn thu và tích lũy kha khá. Kể về ngày đầu lập nghiệp, ông cho biết: Lúc xây dựng gia đình riêng, được bố mẹ chia cho mảnh ruộng nhỏ. Hai vợ chồng trẻ đã chật vật, nhưng khi sáu người con lần lượt ra đời thì sinh kế trở thành gánh nặng. Ông quyết định rời chỗ ở cũ ra khu đồi tiếp giáp với thôn Bản Công để khai hoang lập nghiệp. Nói sao hết được khó khăn ban đầu, nào là đất cằn toàn lau lách và đá sỏi; nào là vốn liếng hạn hẹp và nhất là thiếu nước vì xa nguồn sinh thủy. Bản tính cần cù, hai vợ chồng ngày ngày phát cỏ, lật đá mở từng tấc đất làm nương, khai phá ruộng. Không có điện, không có nước thì bỏ vốn và sức tự kéo từ thôn Khấu Chu về. Cứ vậy cả vùng đồi hoang đã thành “ruộng mật, nương xôi”. Các con lớn lên và lập gia đình tách hộ thì khai phá thêm mà thành “tiểu khu kinh tế gia đình” như bây giờ. Dẫn chúng tôi đi thăm, ông chỉ quanh mấy quả đồi nhấp nhô cao thấp rộng chừng trên hai chục ha với nương ngô xanh, vạt khoai sọ tím và những thửa ruộng lúa đang phơi màu vàng hung mà bảo tất cả là của mấy bố con. Riêng ông đang canh tác trên diện tích 3 ha đất đồi, 1 ha ruộng nước, cho thu hoạch 3 tấn ngô, 10 tấn lúa/năm. Nghe mà càng thấm thía câu thơ của nhà thơ Hoàng Trung Thông học tự năm nào: Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm. Dừng bên cái ao rộng vài trăm mét vuông cạnh ngôi nhà hai tầng độc nhất vô nhị ở thôn Sán Trá, Thào A Say quơ nắm cỏ ven bờ ném xuống mặt nước. Nghe lao xao tiếng cá quẫy tranh nhau đớp mồi để cảm thấy hạnh phúc lây cùng niềm vui no đủ. Theo ông, ao không chỉ để nuôi trồng thủy sản mà còn là hồ chứa nước phục vụ cho việc gieo cấy và tưới cho hoa màu khi tiết trời khô hạn. Đến đây tôi ngộ ra rằng người nông dân không kể vùng thấp hay vùng cao, từ cái khó sẽ ló cái khôn; từ thực tiễn sẽ nảy sinh sáng tạo và đó là động lực để họ vươn lên thoát nghèo, tiến tới làm giàu. Thào A Say cũng khoe rằng: Đầu năm 2023, khi Trung tâm Khuyến nông huyện Trạm Tấu mở lớp học nghề về trồng nấm sò phục vụ chương trình xóa đói giảm nghèo tại địa phương ông cũng nhiệt tình tham gia. Mặc dù thời gian học tập chỉ vỏn vẹn 1 tháng, nhưng vốn ham học hỏi ông đã nhanh chóng nắm bắt được các kĩ thuật cơ bản trong cách trồng nấm. Và quyết định vận dụng những kiến thức đã học để trồng thử nghiệm loại nấm này. Từ kiến thức được học, cộng với điều kiện khí hậu địa phương phù hợp giúp nuôi trồng thành công lứa nấm sò đầu tiên. Ông chia sẻ: “Việc trồng nấm sò giúp cho gia đình có thêm nguồn thực phẩm cải thiện cho các bữa ăn hằng ngày. Bên cạnh đó, cũng có thêm sản phẩm bán ra thị trường với mức giá 50 nghìn đồng/kg, tăng nguồn thu nhập.”

Sau một vòng dạo thăm nương ruộng, Thào A Say mời khách vào nhà. Thay cho chén trà đầu câu chuyện, ông ới bà vợ dọn ra bầu rượu cùng mấy chiếc chén. Món đưa cay “cây nhà lá vườn” gồm bát thịt gà xương đen rang gừng, mấy ngọn măng sặt nướng và đĩa chấm muối ớt. Hương rượu ngô quyện mùi thức ăn đặc sắc dân tộc Mông tỏa thơm dìu dịu. Chủ khách vui vẻ nâng ly chúc nhau sức khỏe và mừng cuộc gặp mặt. Bây giờ tôi mới có dịp ngắm kĩ cơ ngơi của ông triệu phú vùng cao. Ngôi nhà hai tầng chừng mấy chục m2, không kiến trúc tân kì mà có phần giản đơn thô tháp như chủ nhân của nó. Đồ đạc tiện nghi ngoài giường nằm, tủ áo, bộ bàn ghế mộc tiếp khách là chiếc ti vi LG màn hình phẳng cũng chẳng mấy hiện đại. Ngó quanh, một máy xúc nhãn hiệu Hyundai cỡ nhỏ cùng chiếc xe tải đỗ sát mép đường cạnh sân nhà. Lúc mới đến đây cứ ngỡ của doanh nghiệp nào tập kết phương tiện chuẩn bị thi công công trình giao thông, hỏi ra mới biết của chính gia đình Thào A Say. Chẳng để gia chủ nói về mình, Hờ A Xà mau mắn thông tin: “Ngay từ năm 2014, Thào A Say đã bỏ hẳn 800 triệu đồng mua phương tiện để làm dịch vụ vận tải và san gạt mặt bằng. Ông là người đầu tiên ở Sán Trá dám đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh này. Cùng với giúp người dân làm nền nhà ở, đào ao, khai thác ruộng nước, mở đường giao thông là tham gia vào xây dựng các công trình công cộng như nhà văn hóa, trường mầm non, khắc phục hậu quả sạt lở do mưa bão. Rồi cũng từ nắm bắt nhu cầu và mong giải phóng sức lao động cho bà con dân bản mà tiếp tục mua sắm máy xay xát ngô lúa, phần công chỉ lấy cám phục vụ chăn nuôi. Riêng loại hình dịch vụ này mỗi năm cũng có nguồn thu hàng trăm triệu đồng.” Ngồi nghe và nở nụ cười mãn nguyện, Thào A Say mới hé lộ có cậu trai út cùng đồng hành và kế nghiệp cha trong công việc mới mẻ này. Mừng cho ông và càng mừng cho Sán Trá đang thoát dần ra khỏi cái vòng kim cô “bán không mua, mua không bán” truyền kiếp.

Đường trở về phần xuôi dốc, phần phấn chấn mà thấy êm thuận hơn. Ngắm những cọc tiêu cắm mốc lộ giới chuẩn bị cho việc mở đường cùng hàng cây cột bê tông Điện lực đã dựng và kéo dây chờ đóng điện bỗng mường tượng cái ngày cả Sán Trá bừng sáng. Nhớ lại lời mời trở lại ăn Tết mừng cơm mới cùng gia đình của Thào A Say, tôi hỏi Hờ A Xà về phong tục và cách thức tổ chức của người Mông. Chẳng phải nghĩ ngợi lâu, vị cán bộ văn hóa xã phát vanh vách như bản tin học thuộc: Nào là cái Tết của người Mông thường kéo dài hàng tháng trời sau khi thu hoạch xong vụ Đông. Từ ngày 26-11 Âm lịch, người dân đã bắt đầu nghỉ làm nương rẫy để mua sắm chuẩn bị cho Tết truyền thống. Mỗi người mỗi việc, phụ nữ miệt mài hoàn thiện đường thêu, nút chỉ trên bộ váy áo mới để cho người thân trong gia đình diện Tết. Đàn ông tất bật đi mua sắm đồ hay thịt lợn, gà làm bữa cơm thịnh soạn cho gia đình. Bây giờ nghe lời Đảng và Chính phủ chỉ tổ chức ba ngày trùng Tết Nguyên đán của người Kinh song lệ bộ thì vẫn phải đủ như trang trí bàn thờ, mổ ba con gà trống để cúng tổ tiên, ông bà cùng bố mẹ. Cỗ cúng được bày vào chiếc mâm đóng bằng gỗ đặt dưới tờ giấy thờ dán trên vách, ngoài con gà trống còn có thịt lợn, bánh giày, bánh gù, gạo nếp, gạo tẻ, muối trắng… Mỗi hộ trong thôn chọn một ngày trong ba ngày Tết để mổ gà cúng tổ tiên và đón năm mới vào nhà. Hộ nào giàu thì mổ lợn, dê, bò… nhưng gà thì không thể thiếu. Riêng hộ Thào A Say năm nào cũng ăn Tết to để ông bà, cháu con hội tụ nhớ về các bậc tiền nhân và mời bạn bè. Biết là chưa thể quay lại Tết này, song tôi hẹn với Hờ A Xà vào dịp đường mới đã thông, điện lưới quốc gia thắp sáng mọi nhà sẽ cùng về thăm “người giỏi Sán Trá”, uống bữa rượu mừng quê núi đổi thay.

Thế Quynh/Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm