TIN TỨC

Người mang tiếng hát vượt Trường Sơn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-05-11 07:48:16
mail facebook google pos stwis
1943 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

NGUYỄN MINH NGỌC

Mỗi khi nói đến Đoàn Văn công Quân Giải phóng miền Nam (nay là Đoàn Văn công Quân khu 7), nhiều người vẫn thường nhắc đến một nữ diễn viên đa tài với tất cả tình cảm yêu mến, cảm phục, xen lẫn sự tiếc thương. Đó là chị Nguyễn Thị Kim Yến, người được sinh trưởng trong một gia đình trí thức lớn của đất nước. Chị là con thứ hai của Giáo sư - Bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng, quê ở tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang) và dược sĩ Mai Thị Tùng Thọ. Sau ngày toàn quốc kháng chiến (12/1946), Cục phó Cục Quân y Nguyễn Tấn Gi Trọng được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trọng trách Tổng giám đốc Nha thông tin tuyên truyền. Ông là đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đặc biệt, bác sĩ Trọng là một trong những thầy thuốc bên cạnh Bác Hồ, chăm lo sức khỏe cho Người. Mới 2 tuổi, Kim Yến được cha mẹ đưa lên chiến khu Việt Bắc. Và nhờ vậy, cô bé có may mắn được sống trong tình thương bao la của vị Cha già dân tộc. Một lần Kim Yến được Người bón cơm và nghệ sĩ nhiếp ảnh đã ghi lại được khoảnh khắc kỳ diệu ấy. Lên 5-6 tuổi, nhiều lần Kim Yến được theo cha vào gặp Bác Hồ và hát cho Người nghe.


Bác Hồ bón cơm cho bé Yến (TL).

Sau ngày hòa bình lập lại (1954), Kim Yến theo gia đình về Hà Nội. Học hết phổ thông, chị thi vào trường âm nhạc. Là một cô gái thông minh, xinh đẹp và hiếu động, sở hữu giọng hát thiên phú từ tấm bé, Kim Yến còn học cả accordéon. Tốt nghiệp âm nhạc, Kim Yến học tiếp trường nghệ thuật kịch nói Việt Nam, cùng khóa với nữ diễn viên Trà Giang… Năm 1964, tốt nghiệp hạng ưu, với điều kiện thuận lợi của gia đình, con đường tu nghiệp ở nước ngoài đang rộng mở thênh thang trước mắt chị. Nhưng nghĩ đất nước còn bị chia cắt, Kim Yến gia nhập Đoàn Văn công của Sư đoàn 330 để có cơ hội trở về Nam phục vụ đồng bào và chiến sĩ, góp phần giải phóng quê hương. Chị đã cùng các đồng nghiệp mang lời ca tiếng hát vào tuyến lửa Quảng Bình và tuyến đường Trường Sơn, dưới tầm pháo bầy và bom B52 rải thảm, bất chấp biệt kích địch và cả hàng rào điện tử McNamara…

Đầu năm 1969, Tổng cục Chính trị quyết định bổ sung cho Đoàn Văn công Quân giải phóng một đội hình được đào tạo chính quy, cùng một số diễn viên của Sư đoàn 330. Trong số này có cặp vợ chồng trẻ Tiến Hiển, diễn viên kịch và Kim Yến. Để ghi dấu đoàn nghệ thuật thứ hai chi viện cho tiền tuyến lớn, nên đoàn này có tên là Z2. Từ Hà Nội, xe chở đoàn tới làng Ho, miền tây Quảng Bình, nơi đặt Binh trạm 27 của Bộ Tư lệnh 559. Thử thách đầu tiên là vượt dốc Cổng Trời cả ngàn thước, bắt đầu chặng hành trình dặc dài, gian khổ. Đi bộ, trèo đèo, lội suối, xuyên dải Trường Sơn hùng vĩ. Nhằm bảo đảm kế hoạch hành quân, chi bộ Đảng họp ra nghị quyết: đảng viên, đoàn viên phải gương mẫu, quyết tâm về tới nơi an toàn. Tuyệt đối, các cặp vợ chồng trẻ không ai được có bầu dọc đường! Với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, các thành viên trong đoàn đều tự nguyện gác lại tình riêng.

Cứ thế ngày đi, đêm nghỉ. Đến mỗi binh trạm là Đoàn Z2 lại tổ chức biểu diễn. Có trạm chỉ vỏn vẹn vài người, song đoàn vẫn tổ chức trọn vẹn một chương trình. Trải nhiều cung đường, mệt bở hơi tai, nhưng hễ cứ gặp bộ đội Công binh mở đường hoặc Thanh niên xung phong, là đoàn liền dừng lại phục vụ. Lời ca, tiếng hát trong trẻo của văn công thực sự mang lại niềm lạc quan tin tưởng vô bờ bến cho những người đang ở tuyến trước. Là “đào kép” chính, Kim Yến đảm nhận nhiều vai nòng cốt. Đó là người mẹ trong vở kịch “Đâu có giặc là ta cứ đi” của Nguyễn Vũ (Ngô Y Linh), rồi “Em bé giao liên”… được bộ đội hoan nghênh nhiệt liệt. Thoắt cái, chị đã sôi nổi, dịu dàng trong vũ điệu “Cô gái Uzbekistan”. Kim Yến say sưa kéo phong cầm cho tiết mục tấu vui nhộn “Anh hùng đâu cứ phải mày râu”. Thông thường, mỗi chương trình, bao giờ chị cũng phải xuất hiện với tần suất 4-5 lần. Lắm khi bị cơn sốt hành hạ, song chị Kim Yến vẫn cố vượt lên để không bị rớt lại, kịp biểu diễn phục vụ bộ đội.

Dọc đường hành quân, tình cảm lứa đôi đã khiến Kim Yến “vỡ kế hoa5ch”. Chi đoàn thanh niên họp kiểm điểm và thi hành kỷ luật, khai trừ Tiến Hiển - Kim Yến ra khỏi Đoàn. Một quyết định có phần thái quá, để lại kỷ niệm buồn cho những người trong cuộc, khiến họ về sau mãi vẫn còn ân hận. Không hề nản chí, cặp vợ chồng trẻ vẫn cùng đồng đội hành quân.

Ròng rã gần 6 tháng trời, Đoàn Z2 mới vào đến miền Đông Nam bộ, về căn cứ Chàng Riệc, Tây Ninh. Chưa kịp nghỉ ngơi lấy sức, Kim Yến cùng các đồng nghiệp bắt tay vào luyện tập. Sau khi ổn định nơi ăn chốn ở cho anh chị em trong đoàn, Đoàn Văn công Quân Giải phóng xây dựng chương trình mới phục vụ các cánh quân chủ lực đang hoạt động ở Phân khu 6 và Long An, đồng thời phục vụ Đại hội tổng kết của Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền.

Mùa mưa. Trong cánh rừng già, khắp nơi một không khí ẩm ướt, những tán lá ủ nước nặng trĩu suốt ngày đêm, hiếm khi có được một lúc khô ráo. Bệnh sốt rét bùng phát và gần như không chừa một ai. Có điều, không gì có thể quật ngã được ý chí và nghị lực của những người nghệ sĩ - chiến sĩ. Tháng 10/1969, những cơn mưa lê thê vẫn kéo giằng dai. Khắp vùng, những trảng cỏ, có nơi nước ngập đến bụng, đến ngực. Lãnh đạo, chỉ huy Đoàn Văn công Quân Giải phóng quyết định lên đường đi biểu diễn phục vụ các “đám giỗ”([1]). Anh chị em trong đoàn ai cũng háo hức. Trước giờ xuất phát, chị Kim Yến lên cơn sốt rét. Nhưng niềm ao ước được ra quân cùng đồng đội khi về đến chiến trường miền Đông đã khiến chị cố giấu và nói nhẹ để được đi. Cả đoàn, ai cũng thương ai cũng quý người con gái tài hoa, xinh đẹp. Quân y đơn vị đã tập trung thuốc men ưu tiên cứu chữa cho Kim Yến, song cơn sốt quái ác dường như không hề có dấu hiệu thuyên giảm. Sau khi hội ý chớp nhoáng, lãnh đạo đoàn đi đến quyết định tạm gửi bệnh nhân ở lại hậu cứ.

Và đoàn lên đường. Phương tiện di chuyển là lội bộ, khuân vác, đội mưa mà đi. Cứ thế, đến ngày thứ ba thì đến được Lò Gò. Trong khi cả đoàn tạm nghỉ chuẩn bị vượt sông Vàm Cỏ, thì chiến sĩ trinh sát chạy đến thông báo: từ hai ngày nay có một “cái đuôi” bám theo rất đáng ngờ. Nghe vậy, chỉ huy đoàn liền cử một tổ bí mật quay lại. Nửa giờ sau, anh em dẫn về một cô gái mặt mày tái nhợt, người ướt sũng từ đầu đến chân. Đó là Kim Yến. Cả đoàn sững sờ trước ý chí không gì lay chuyển nổi của chị. Lập tức, các đồng nghiệp nam chặt cây dựng cột và quây chiếc lều tạm bằng nilon. Cánh nữ xúm lại dìu Kim Yến vào trong lều chăm sóc và ủ ấm cho chị. Nằm trên võng, Kim Yến khóc tức tưởi: “Các anh chị định bỏ em, nhưng làm sao em có thể ở nhà được khi mà đợt ra quân đầu tiên của đoàn đến với các chiến sĩ Quân giải phóng. Em không thể yên lòng khi các bạn em đi về gần quê hương yêu dấu”.


Gia đình chị Kim Yến (TL).

Đoàn trưởng Vũ Thành bố trí người dìu Kim Yến, cả đoàn tiếp tục hành quân. Các thành viên khỏe mạnh thì dùng tấm nilon bọc quần áo làm phao để vượt sông, chỉ mượn được một chiếc xuồng nhỏ ưu tiên cho người ốm và chở nhạc cụ nặng. Sang sông trót lọt, đi thêm hai ngày nữa thì Kim Yến sốt hầm hập và hôn mê. Đoàn cử người khiêng cáng đưa chị tới trạm phẫu tiền phương. Nhưng vì thuốc men hạn chế, nên các thầy thuốc ở đây đành bó tay. Anh em tiếp tục dò đường chuyển Kim Yến đến bệnh viện đa khoa của Mặt trận do bác sĩ Thúy Ba phụ trách. Gần 9 giờ đêm, cáng thương mới tới nơi. Song tất cả đà quá muộn. Nhiều ngày dầm mình trong mưa lạnh và lội nước đã khiến Kim Yến không giữ được cái bào thai. Do không có bác sĩ chuyên khoa sản, nên chị bị sót nhau rồi nhiễm trùng nặng. Nửa đêm hôm ấy, Kim Yến ra đi ở tuổi 25 mà không kịp trối lại một lời. Người chiến sĩ - nghệ sĩ đa tài ấy mất đi để lại niềm tiếc thương không gì bù đắp nổi trong lòng anh chị em của Đoàn Văn công Quân Giải phóng miền Nam.

Là phó bí thư chi bộ, nhạc sĩ Vũ Thành đề nghị phục hồi danh dự đoàn viên cho Kim Yến - Tiến Hiển, để chị ra đi được thanh thản. Cấp ủy nhất trí, chi bộ tán thành. Anh em trong đoàn gạt nước mắt đưa thi hài Kim Yến vượt sông Vàm Cỏ trở về đất mẹ Việt Nam. Để đánh dấu, mộ chị được đặt nằm cạnh một gốc cây khế gần cánh rừng Lò Gò, giữa bến Ra, bên dòng sông rì rầm ru hát. Sau ngày đất nước thống nhất, anh em đồng đội trở lại tìm mộ chị Kim Yến, nhưng cả khu vực đã bị bom Mỹ đào xới nát. Cho đến 34 năm sau (7/2003), hài cốt của chị mới được tìm thấy và đưa về Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh.

Người con gái sông Tiền, một nghệ sĩ tài hoa và anh dũng, với những vai diễn để đời, đã dâng hiến trọn tuổi thanh xuân cho Tổ quốc. Nhưng thật đáng buồn là cho đến nay, chị vẫn chưa hề được nhận bất kỳ một danh hiệu nào. Nhưng tên tuổi của chị mãi lưu danh cùng Đoàn Văn công Quân Giải phóng, một đạo quân nghệ thuật trên chiến trường. Vâng, chị là Nguyễn Thị Kim Yến!


[1]  Đám giỗ: Mật danh chỉ các cuộc họp quan trọng của Trung ương Cục, của Quân ủy Miền và của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm