TIN TỨC

Người mang tiếng hát vượt Trường Sơn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-05-11 07:48:16
mail facebook google pos stwis
2017 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

NGUYỄN MINH NGỌC

Mỗi khi nói đến Đoàn Văn công Quân Giải phóng miền Nam (nay là Đoàn Văn công Quân khu 7), nhiều người vẫn thường nhắc đến một nữ diễn viên đa tài với tất cả tình cảm yêu mến, cảm phục, xen lẫn sự tiếc thương. Đó là chị Nguyễn Thị Kim Yến, người được sinh trưởng trong một gia đình trí thức lớn của đất nước. Chị là con thứ hai của Giáo sư - Bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng, quê ở tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang) và dược sĩ Mai Thị Tùng Thọ. Sau ngày toàn quốc kháng chiến (12/1946), Cục phó Cục Quân y Nguyễn Tấn Gi Trọng được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trọng trách Tổng giám đốc Nha thông tin tuyên truyền. Ông là đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đặc biệt, bác sĩ Trọng là một trong những thầy thuốc bên cạnh Bác Hồ, chăm lo sức khỏe cho Người. Mới 2 tuổi, Kim Yến được cha mẹ đưa lên chiến khu Việt Bắc. Và nhờ vậy, cô bé có may mắn được sống trong tình thương bao la của vị Cha già dân tộc. Một lần Kim Yến được Người bón cơm và nghệ sĩ nhiếp ảnh đã ghi lại được khoảnh khắc kỳ diệu ấy. Lên 5-6 tuổi, nhiều lần Kim Yến được theo cha vào gặp Bác Hồ và hát cho Người nghe.


Bác Hồ bón cơm cho bé Yến (TL).

Sau ngày hòa bình lập lại (1954), Kim Yến theo gia đình về Hà Nội. Học hết phổ thông, chị thi vào trường âm nhạc. Là một cô gái thông minh, xinh đẹp và hiếu động, sở hữu giọng hát thiên phú từ tấm bé, Kim Yến còn học cả accordéon. Tốt nghiệp âm nhạc, Kim Yến học tiếp trường nghệ thuật kịch nói Việt Nam, cùng khóa với nữ diễn viên Trà Giang… Năm 1964, tốt nghiệp hạng ưu, với điều kiện thuận lợi của gia đình, con đường tu nghiệp ở nước ngoài đang rộng mở thênh thang trước mắt chị. Nhưng nghĩ đất nước còn bị chia cắt, Kim Yến gia nhập Đoàn Văn công của Sư đoàn 330 để có cơ hội trở về Nam phục vụ đồng bào và chiến sĩ, góp phần giải phóng quê hương. Chị đã cùng các đồng nghiệp mang lời ca tiếng hát vào tuyến lửa Quảng Bình và tuyến đường Trường Sơn, dưới tầm pháo bầy và bom B52 rải thảm, bất chấp biệt kích địch và cả hàng rào điện tử McNamara…

Đầu năm 1969, Tổng cục Chính trị quyết định bổ sung cho Đoàn Văn công Quân giải phóng một đội hình được đào tạo chính quy, cùng một số diễn viên của Sư đoàn 330. Trong số này có cặp vợ chồng trẻ Tiến Hiển, diễn viên kịch và Kim Yến. Để ghi dấu đoàn nghệ thuật thứ hai chi viện cho tiền tuyến lớn, nên đoàn này có tên là Z2. Từ Hà Nội, xe chở đoàn tới làng Ho, miền tây Quảng Bình, nơi đặt Binh trạm 27 của Bộ Tư lệnh 559. Thử thách đầu tiên là vượt dốc Cổng Trời cả ngàn thước, bắt đầu chặng hành trình dặc dài, gian khổ. Đi bộ, trèo đèo, lội suối, xuyên dải Trường Sơn hùng vĩ. Nhằm bảo đảm kế hoạch hành quân, chi bộ Đảng họp ra nghị quyết: đảng viên, đoàn viên phải gương mẫu, quyết tâm về tới nơi an toàn. Tuyệt đối, các cặp vợ chồng trẻ không ai được có bầu dọc đường! Với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, các thành viên trong đoàn đều tự nguyện gác lại tình riêng.

Cứ thế ngày đi, đêm nghỉ. Đến mỗi binh trạm là Đoàn Z2 lại tổ chức biểu diễn. Có trạm chỉ vỏn vẹn vài người, song đoàn vẫn tổ chức trọn vẹn một chương trình. Trải nhiều cung đường, mệt bở hơi tai, nhưng hễ cứ gặp bộ đội Công binh mở đường hoặc Thanh niên xung phong, là đoàn liền dừng lại phục vụ. Lời ca, tiếng hát trong trẻo của văn công thực sự mang lại niềm lạc quan tin tưởng vô bờ bến cho những người đang ở tuyến trước. Là “đào kép” chính, Kim Yến đảm nhận nhiều vai nòng cốt. Đó là người mẹ trong vở kịch “Đâu có giặc là ta cứ đi” của Nguyễn Vũ (Ngô Y Linh), rồi “Em bé giao liên”… được bộ đội hoan nghênh nhiệt liệt. Thoắt cái, chị đã sôi nổi, dịu dàng trong vũ điệu “Cô gái Uzbekistan”. Kim Yến say sưa kéo phong cầm cho tiết mục tấu vui nhộn “Anh hùng đâu cứ phải mày râu”. Thông thường, mỗi chương trình, bao giờ chị cũng phải xuất hiện với tần suất 4-5 lần. Lắm khi bị cơn sốt hành hạ, song chị Kim Yến vẫn cố vượt lên để không bị rớt lại, kịp biểu diễn phục vụ bộ đội.

Dọc đường hành quân, tình cảm lứa đôi đã khiến Kim Yến “vỡ kế hoa5ch”. Chi đoàn thanh niên họp kiểm điểm và thi hành kỷ luật, khai trừ Tiến Hiển - Kim Yến ra khỏi Đoàn. Một quyết định có phần thái quá, để lại kỷ niệm buồn cho những người trong cuộc, khiến họ về sau mãi vẫn còn ân hận. Không hề nản chí, cặp vợ chồng trẻ vẫn cùng đồng đội hành quân.

Ròng rã gần 6 tháng trời, Đoàn Z2 mới vào đến miền Đông Nam bộ, về căn cứ Chàng Riệc, Tây Ninh. Chưa kịp nghỉ ngơi lấy sức, Kim Yến cùng các đồng nghiệp bắt tay vào luyện tập. Sau khi ổn định nơi ăn chốn ở cho anh chị em trong đoàn, Đoàn Văn công Quân Giải phóng xây dựng chương trình mới phục vụ các cánh quân chủ lực đang hoạt động ở Phân khu 6 và Long An, đồng thời phục vụ Đại hội tổng kết của Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền.

Mùa mưa. Trong cánh rừng già, khắp nơi một không khí ẩm ướt, những tán lá ủ nước nặng trĩu suốt ngày đêm, hiếm khi có được một lúc khô ráo. Bệnh sốt rét bùng phát và gần như không chừa một ai. Có điều, không gì có thể quật ngã được ý chí và nghị lực của những người nghệ sĩ - chiến sĩ. Tháng 10/1969, những cơn mưa lê thê vẫn kéo giằng dai. Khắp vùng, những trảng cỏ, có nơi nước ngập đến bụng, đến ngực. Lãnh đạo, chỉ huy Đoàn Văn công Quân Giải phóng quyết định lên đường đi biểu diễn phục vụ các “đám giỗ”([1]). Anh chị em trong đoàn ai cũng háo hức. Trước giờ xuất phát, chị Kim Yến lên cơn sốt rét. Nhưng niềm ao ước được ra quân cùng đồng đội khi về đến chiến trường miền Đông đã khiến chị cố giấu và nói nhẹ để được đi. Cả đoàn, ai cũng thương ai cũng quý người con gái tài hoa, xinh đẹp. Quân y đơn vị đã tập trung thuốc men ưu tiên cứu chữa cho Kim Yến, song cơn sốt quái ác dường như không hề có dấu hiệu thuyên giảm. Sau khi hội ý chớp nhoáng, lãnh đạo đoàn đi đến quyết định tạm gửi bệnh nhân ở lại hậu cứ.

Và đoàn lên đường. Phương tiện di chuyển là lội bộ, khuân vác, đội mưa mà đi. Cứ thế, đến ngày thứ ba thì đến được Lò Gò. Trong khi cả đoàn tạm nghỉ chuẩn bị vượt sông Vàm Cỏ, thì chiến sĩ trinh sát chạy đến thông báo: từ hai ngày nay có một “cái đuôi” bám theo rất đáng ngờ. Nghe vậy, chỉ huy đoàn liền cử một tổ bí mật quay lại. Nửa giờ sau, anh em dẫn về một cô gái mặt mày tái nhợt, người ướt sũng từ đầu đến chân. Đó là Kim Yến. Cả đoàn sững sờ trước ý chí không gì lay chuyển nổi của chị. Lập tức, các đồng nghiệp nam chặt cây dựng cột và quây chiếc lều tạm bằng nilon. Cánh nữ xúm lại dìu Kim Yến vào trong lều chăm sóc và ủ ấm cho chị. Nằm trên võng, Kim Yến khóc tức tưởi: “Các anh chị định bỏ em, nhưng làm sao em có thể ở nhà được khi mà đợt ra quân đầu tiên của đoàn đến với các chiến sĩ Quân giải phóng. Em không thể yên lòng khi các bạn em đi về gần quê hương yêu dấu”.


Gia đình chị Kim Yến (TL).

Đoàn trưởng Vũ Thành bố trí người dìu Kim Yến, cả đoàn tiếp tục hành quân. Các thành viên khỏe mạnh thì dùng tấm nilon bọc quần áo làm phao để vượt sông, chỉ mượn được một chiếc xuồng nhỏ ưu tiên cho người ốm và chở nhạc cụ nặng. Sang sông trót lọt, đi thêm hai ngày nữa thì Kim Yến sốt hầm hập và hôn mê. Đoàn cử người khiêng cáng đưa chị tới trạm phẫu tiền phương. Nhưng vì thuốc men hạn chế, nên các thầy thuốc ở đây đành bó tay. Anh em tiếp tục dò đường chuyển Kim Yến đến bệnh viện đa khoa của Mặt trận do bác sĩ Thúy Ba phụ trách. Gần 9 giờ đêm, cáng thương mới tới nơi. Song tất cả đà quá muộn. Nhiều ngày dầm mình trong mưa lạnh và lội nước đã khiến Kim Yến không giữ được cái bào thai. Do không có bác sĩ chuyên khoa sản, nên chị bị sót nhau rồi nhiễm trùng nặng. Nửa đêm hôm ấy, Kim Yến ra đi ở tuổi 25 mà không kịp trối lại một lời. Người chiến sĩ - nghệ sĩ đa tài ấy mất đi để lại niềm tiếc thương không gì bù đắp nổi trong lòng anh chị em của Đoàn Văn công Quân Giải phóng miền Nam.

Là phó bí thư chi bộ, nhạc sĩ Vũ Thành đề nghị phục hồi danh dự đoàn viên cho Kim Yến - Tiến Hiển, để chị ra đi được thanh thản. Cấp ủy nhất trí, chi bộ tán thành. Anh em trong đoàn gạt nước mắt đưa thi hài Kim Yến vượt sông Vàm Cỏ trở về đất mẹ Việt Nam. Để đánh dấu, mộ chị được đặt nằm cạnh một gốc cây khế gần cánh rừng Lò Gò, giữa bến Ra, bên dòng sông rì rầm ru hát. Sau ngày đất nước thống nhất, anh em đồng đội trở lại tìm mộ chị Kim Yến, nhưng cả khu vực đã bị bom Mỹ đào xới nát. Cho đến 34 năm sau (7/2003), hài cốt của chị mới được tìm thấy và đưa về Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh.

Người con gái sông Tiền, một nghệ sĩ tài hoa và anh dũng, với những vai diễn để đời, đã dâng hiến trọn tuổi thanh xuân cho Tổ quốc. Nhưng thật đáng buồn là cho đến nay, chị vẫn chưa hề được nhận bất kỳ một danh hiệu nào. Nhưng tên tuổi của chị mãi lưu danh cùng Đoàn Văn công Quân Giải phóng, một đạo quân nghệ thuật trên chiến trường. Vâng, chị là Nguyễn Thị Kim Yến!


[1]  Đám giỗ: Mật danh chỉ các cuộc họp quan trọng của Trung ương Cục, của Quân ủy Miền và của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm