TIN TỨC

Nguyễn Thanh Quang - Giọng thơ trầm lắng từ miền sông nước An Giang

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-22 20:47:01
mail facebook google pos stwis
459 lượt xem

PHAN THÀNH ĐẠT

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong bản đồ văn học đương đại Việt Nam, mỗi vùng đất đều mang trong mình một mạch nguồn riêng, âm thầm mà bền bỉ, lặng lẽ mà dai dẳng như chính nhịp sống của con người nơi đó. Và trong không gian thi ca rộng lớn ấy, An Giang như một miền phù sa bồi đắp bởi nhánh sông Hậu, bởi dãy Thất Sơn thâm u, bởi những cánh đồng lúa bát ngát, bởi mênh mang sóng biển và bởi những phận người chất phác, luôn có một sắc thái thi ca rất riêng. Đó là vẻ đẹp của sự hiền hòa xen chút sắc bén, của nỗi lặng thầm pha chút đa đoan, của những suy tư tưởng như bình dị mà lại chứa cả thẳm sâu nhân thế.

Giữa những giọng thơ ấy, thơ Nguyễn Thanh Quang hiện lên như một tiếng nói bền bỉ và đằm sâu. Thơ ông không ồn ào, không sắc cạnh, không chủ trương gây chú ý, nó giống như một dòng sông lặng lẽ chảy qua những xóm làng, thấm dần vào lòng người bởi sự chân thành và độ lắng của cảm xúc. Ở đó, ta thấy bóng dáng của một người nghệ sĩ “ăn đời ở kiếp” với quê hương, gìn giữ từng nhịp thở của đất trời, từng chuyển động rất nhỏ của đời sống, để rồi kết tinh lại thành những vần thơ mộc mạc mà thấm đượm triết lý nhân sinh.

Với Nguyễn Thanh Quang, thi ca không phải là chiếc áo khoác để phô bày hay là một cuộc dạo chơi nhất thời. Thi ca là cách ông ghi nhớ cuộc đời, là cách ông trò chuyện với chính mình và với những phận người đã đi ngang tuổi trẻ, tuổi nghề. Từ vệt nắng trên mặt ruộng, tiếng mái dầm khuya, cho đến nỗi bất trắc và vô thường lẩn khuất trong đời sống, tất cả đều đi vào thơ ông một cách tự nhiên, dịu nhẹ mà đầy thi vị.

Trên hành trình sáng tạo ấy, ông đã lặng lẽ vun trồng một đời thơ bằng sự chân tình, bằng lòng thủy chung với màu đất quê, và bằng khát vọng gửi lại cho đời những câu thơ biết xoa dịu, biết sẻ chia, biết nhắc con người thương nhau hơn giữa những bề bộn, đa đoan của kiếp người. Bởi thế, trong dòng chảy thi ca An Giang nói riêng và văn học Nam Bộ nói chung, thơ Nguyễn Thanh Quang là một trong những giọng thơ mang lại cảm giác vừa gần gũi vừa sâu xa, một giọng thơ mà càng đọc càng nhận ra phần bề sâu của đất đai, của đời sống, của tâm hồn người viết.

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Thanh Quang

 

Nhà thơ Nguyễn Thanh Quang
 
 
Sinh ra vào tháng 12 năm Giáp Thìn (1964) tại Thị trấn Cái Dầu, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang (nay là xã Châu Phú, tỉnh An Giang), nhà thơ Nguyễn Thanh Quang có một sự gắn bó máu thịt với mảnh đất này. Giống như cây bút được nuôi dưỡng bởi phù sa, thơ ông mang trong mình cái hồn của đồng bằng Nam Bộ, dung dị, gần gũi nhưng ẩn chứa những suy tư sâu sắc về đời người. Ông là một gương mặt quen thuộc, một người giữ lửa cho đời sống văn học nghệ thuật quê hương, góp phần làm phong phú thêm cho vườn thơ An Giang.

Bước chân vào con đường văn chương từ những năm 90 của thế kỷ trước, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang sớm tìm thấy nhịp điệu tâm hồn của riêng mình. Từ những ngày đầu cầm bút, ông đã lựa chọn cho thơ một lối đi không ồn ã, một lối đi đầy trữ tình, suy nghiệm và thấm đẫm hơi thở nhân sinh miền Tây. Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn, thơ ông đã tạo được dấu ấn, lặng lẽ tìm đường đến với độc giả qua nhiều tờ báo, tạp chí uy tín cả trong và ngoài tỉnh. Từ Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), Áo Trắng, Giác Ngộ, đến các tạp chí văn nghệ của những huyện thị quê nhà như Châu Phú, Châu Đốc, Phú Tân…, tiếng thơ của ông luôn xuất hiện như một người bạn thủy chung, kể lại những câu chuyện đời thường mà lại thấm đẫm nỗi buồn nhân thế: chuyện phận người, chuyện quê hương, chuyện những lặng lẽ mà chỉ có thi ca mới cất lời được.

Không chỉ viết, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang còn dành nhiều tâm huyết cho hoạt động hội, một phần quan trọng trong đời sống văn nghệ địa phương. Ông là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, hội viên Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh An Giang và Hội Văn học Nghệ thuật huyện Châu Phú. Trong nhiều năm, ông đảm nhiệm vai trò Ủy viên Ban Chấp hành Hội VHNT Châu Phú, đồng thời giữ chức Chủ nhiệm Câu lạc bộ Thơ Châu Phú. Với ông, đây không chỉ là những chức danh; đó là nơi ông chia sẻ đam mê, kết nối bạn viết, truyền lửa cho những người trẻ và chung tay giữ gìn đời sống văn hóa tinh thần của quê hương.

Những đóng góp lặng lẽ nhưng bền bỉ ấy đã được ghi nhận một cách xứng đáng. Ngày 15/5/2020, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang được trao Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam”, một dấu mốc khắc ghi hơn ba mươi năm lao động nghệ thuật nghiêm cẩn, một phần thưởng dành cho người đã chọn thi ca như cách để sống, để yêu và để trả nghĩa lại mảnh đất đã nuôi dưỡng tâm hồn mình.

 

Hai tập thơ Lãng đãng nhân gian và Trao người một đóa vô thường của nhà thơ Nguyễn Thanh Quang - Ảnh: Phan Đạt
 
Phong cách thơ nhẹ mà thấm, sâu mà lắng

Thơ của Nguyễn Thanh Quang mang một vẻ dung dị, mộc mạc, như chính vùng đất An Giang, nơi phù sa bồi đắp, nơi con người hiền hòa, chân chất và bình dị. Nhưng đằng sau sự giản đơn ấy là chiều sâu của tâm tư, của những chiêm nghiệm tinh tế về đời sống và con người. Thơ ông không hề cầu kỳ, không ồn ào, không màu mè; nó lặng lẽ, thấm dần, giống như dòng sông miệt vườn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, thấm vào lòng người bằng sự chân thành và cảm xúc thật.

Những vần thơ của ông không chỉ đi vào những đề tài lớn lao, nhân tình thế thái, kiếp người, quy luật vô thường, mà còn chan chứa những trải nghiệm đời thường: tình yêu quê hương, nỗi nhớ sông nước, những xao xuyến và thăng trầm trong cuộc đời đã đi qua nhiều biến động. Từng câu chữ như được tôi luyện từ những trải nghiệm thật, không hư cấu, không tô vẽ; nhịp điệu câu thơ mềm mại nhưng thấm đượm, vừa đẹp vừa buồn, như lời thủ thỉ kín đáo giữa tác giả và đời sống.

Trong thơ Nguyễn Thanh Quang, hình ảnh thiên nhiên và đời sống thường nhật luôn hòa quyện tinh tế với suy tư nhân sinh, ánh nắng trên mặt ruộng, tiếng mái dầm khuya, dòng nước chảy qua đồng, cánh cò lặng lẽ bay về, tất cả đều trở thành chất liệu thi ca. Nhưng chất liệu ấy không chỉ để miêu tả, mà để phản chiếu cảm xúc, để gửi gắm những trăn trở về cuộc đời, về con người và số phận. Thơ ông "nhẹ mà thấm, đẹp mà buồn", mời gọi người đọc không chỉ thưởng thức âm điệu, hình ảnh mà còn lắng nghe chính nội tâm mình, để tự chiêm nghiệm, tự cảm nhận.

Điều đặc biệt trong phong cách của ông là sự dung hòa giữa sự giản dị và chiều sâu, giữa cảm xúc riêng tư và những suy tư về nhân sinh. Thơ ông vừa là bản ghi của cảm xúc đời thường, vừa là không gian để trăn trở về cuộc sống, để suy tư về nhân tình thế thái và những quy luật vô thường của đời người. Chính sự cân bằng tinh tế này khiến mỗi vần thơ trở nên gần gũi mà vẫn thấm đẫm triết lý, nhẹ nhàng mà vẫn vươn tới những tầng ý nghĩa sâu xa.

Với Nguyễn Thanh Quang, thơ không chỉ là câu chữ, nó là cách ông gửi gắm tâm hồn, ghi nhớ cuộc đời, trao gửi cảm xúc và kết nối với bạn đọc. Những vần thơ của ông, dù dung dị, bình thản, vẫn có sức nặng riêng, khiến người đọc khi lật từng trang lại thấy lòng rung động, thấy mình dừng lại, thấy đời sống trở nên sâu sắc hơn. Nhờ vậy, ông đã xây dựng cho mình một giọng thơ riêng biệt.

Người thơ và những mối duyên

Không chỉ là tiếng thơ riêng lẻ, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang còn có những mối duyên đặc biệt trong đời sống văn nghệ, tiêu biểu là mối quan hệ với nhà thơ Trịnh Bửu Hoài, người anh rể của ông, một gương mặt lớn trong thi ca Việt Nam. Hành trình nghệ thuật của ông không phải lúc nào cũng trải dài phẳng lặng. Trong một tâm sự, ông từng chia sẻ rằng đã có một giai đoạn, vì những bận rộn của cuộc sống, của công việc và trách nhiệm nuôi dạy con cái, ông đã tạm rời xa những vần thơ, tâm hồn có phần lơ đãng với nghiệp viết. Chính trong thời điểm đó, sự động viên, chỉ bảo và tình cảm thi vị từ nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã trở thành ngọn lửa sưởi ấm, tiếp thêm sức mạnh để ông quay trở lại với đam mê. Mối quan hệ này vượt ra ngoài khuôn khổ tình cảm gia đình thông thường để trở thành một sự dẫn dắt nghệ thuật sâu sắc. Sự hun đúc ấy không chỉ giúp ông vượt qua giai đoạn trầm lắng mà còn góp phần định hình nên sự trọn vẹn trong đời sống nghệ thuật, hun đúc cho những vần thơ của Nguyễn Thanh Quang thêm phần sâu sắc và thấm đượm nhân sinh.

Với hành trình hơn 30 năm miệt mài với văn chương, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang đã chứng minh một cách thuyết phục về sự kiên trì và niềm đam mê nghiêm túc của mình đối với thi ca. Và chắc chắn rằng, ông sẽ tiếp tục góp phần làm phong phú thêm đời sống văn học nghệ thuật quê hương, giữ gìn và phát huy màu sắc thơ đặc trưng của vùng đất đầy phù sa và nhân nghĩa.

P.T.Đ

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm