TIN TỨC

Nguyễn Thanh Quang - Giọng thơ trầm lắng từ miền sông nước An Giang

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-22 20:47:01
mail facebook google pos stwis
584 lượt xem

PHAN THÀNH ĐẠT

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Trong bản đồ văn học đương đại Việt Nam, mỗi vùng đất đều mang trong mình một mạch nguồn riêng, âm thầm mà bền bỉ, lặng lẽ mà dai dẳng như chính nhịp sống của con người nơi đó. Và trong không gian thi ca rộng lớn ấy, An Giang như một miền phù sa bồi đắp bởi nhánh sông Hậu, bởi dãy Thất Sơn thâm u, bởi những cánh đồng lúa bát ngát, bởi mênh mang sóng biển và bởi những phận người chất phác, luôn có một sắc thái thi ca rất riêng. Đó là vẻ đẹp của sự hiền hòa xen chút sắc bén, của nỗi lặng thầm pha chút đa đoan, của những suy tư tưởng như bình dị mà lại chứa cả thẳm sâu nhân thế.

Giữa những giọng thơ ấy, thơ Nguyễn Thanh Quang hiện lên như một tiếng nói bền bỉ và đằm sâu. Thơ ông không ồn ào, không sắc cạnh, không chủ trương gây chú ý, nó giống như một dòng sông lặng lẽ chảy qua những xóm làng, thấm dần vào lòng người bởi sự chân thành và độ lắng của cảm xúc. Ở đó, ta thấy bóng dáng của một người nghệ sĩ “ăn đời ở kiếp” với quê hương, gìn giữ từng nhịp thở của đất trời, từng chuyển động rất nhỏ của đời sống, để rồi kết tinh lại thành những vần thơ mộc mạc mà thấm đượm triết lý nhân sinh.

Với Nguyễn Thanh Quang, thi ca không phải là chiếc áo khoác để phô bày hay là một cuộc dạo chơi nhất thời. Thi ca là cách ông ghi nhớ cuộc đời, là cách ông trò chuyện với chính mình và với những phận người đã đi ngang tuổi trẻ, tuổi nghề. Từ vệt nắng trên mặt ruộng, tiếng mái dầm khuya, cho đến nỗi bất trắc và vô thường lẩn khuất trong đời sống, tất cả đều đi vào thơ ông một cách tự nhiên, dịu nhẹ mà đầy thi vị.

Trên hành trình sáng tạo ấy, ông đã lặng lẽ vun trồng một đời thơ bằng sự chân tình, bằng lòng thủy chung với màu đất quê, và bằng khát vọng gửi lại cho đời những câu thơ biết xoa dịu, biết sẻ chia, biết nhắc con người thương nhau hơn giữa những bề bộn, đa đoan của kiếp người. Bởi thế, trong dòng chảy thi ca An Giang nói riêng và văn học Nam Bộ nói chung, thơ Nguyễn Thanh Quang là một trong những giọng thơ mang lại cảm giác vừa gần gũi vừa sâu xa, một giọng thơ mà càng đọc càng nhận ra phần bề sâu của đất đai, của đời sống, của tâm hồn người viết.

Tiểu sử nhà thơ Nguyễn Thanh Quang

 

Nhà thơ Nguyễn Thanh Quang
 
 
Sinh ra vào tháng 12 năm Giáp Thìn (1964) tại Thị trấn Cái Dầu, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang (nay là xã Châu Phú, tỉnh An Giang), nhà thơ Nguyễn Thanh Quang có một sự gắn bó máu thịt với mảnh đất này. Giống như cây bút được nuôi dưỡng bởi phù sa, thơ ông mang trong mình cái hồn của đồng bằng Nam Bộ, dung dị, gần gũi nhưng ẩn chứa những suy tư sâu sắc về đời người. Ông là một gương mặt quen thuộc, một người giữ lửa cho đời sống văn học nghệ thuật quê hương, góp phần làm phong phú thêm cho vườn thơ An Giang.

Bước chân vào con đường văn chương từ những năm 90 của thế kỷ trước, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang sớm tìm thấy nhịp điệu tâm hồn của riêng mình. Từ những ngày đầu cầm bút, ông đã lựa chọn cho thơ một lối đi không ồn ã, một lối đi đầy trữ tình, suy nghiệm và thấm đẫm hơi thở nhân sinh miền Tây. Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn, thơ ông đã tạo được dấu ấn, lặng lẽ tìm đường đến với độc giả qua nhiều tờ báo, tạp chí uy tín cả trong và ngoài tỉnh. Từ Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), Áo Trắng, Giác Ngộ, đến các tạp chí văn nghệ của những huyện thị quê nhà như Châu Phú, Châu Đốc, Phú Tân…, tiếng thơ của ông luôn xuất hiện như một người bạn thủy chung, kể lại những câu chuyện đời thường mà lại thấm đẫm nỗi buồn nhân thế: chuyện phận người, chuyện quê hương, chuyện những lặng lẽ mà chỉ có thi ca mới cất lời được.

Không chỉ viết, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang còn dành nhiều tâm huyết cho hoạt động hội, một phần quan trọng trong đời sống văn nghệ địa phương. Ông là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, hội viên Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh An Giang và Hội Văn học Nghệ thuật huyện Châu Phú. Trong nhiều năm, ông đảm nhiệm vai trò Ủy viên Ban Chấp hành Hội VHNT Châu Phú, đồng thời giữ chức Chủ nhiệm Câu lạc bộ Thơ Châu Phú. Với ông, đây không chỉ là những chức danh; đó là nơi ông chia sẻ đam mê, kết nối bạn viết, truyền lửa cho những người trẻ và chung tay giữ gìn đời sống văn hóa tinh thần của quê hương.

Những đóng góp lặng lẽ nhưng bền bỉ ấy đã được ghi nhận một cách xứng đáng. Ngày 15/5/2020, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang được trao Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam”, một dấu mốc khắc ghi hơn ba mươi năm lao động nghệ thuật nghiêm cẩn, một phần thưởng dành cho người đã chọn thi ca như cách để sống, để yêu và để trả nghĩa lại mảnh đất đã nuôi dưỡng tâm hồn mình.

 

Hai tập thơ Lãng đãng nhân gian và Trao người một đóa vô thường của nhà thơ Nguyễn Thanh Quang - Ảnh: Phan Đạt
 
Phong cách thơ nhẹ mà thấm, sâu mà lắng

Thơ của Nguyễn Thanh Quang mang một vẻ dung dị, mộc mạc, như chính vùng đất An Giang, nơi phù sa bồi đắp, nơi con người hiền hòa, chân chất và bình dị. Nhưng đằng sau sự giản đơn ấy là chiều sâu của tâm tư, của những chiêm nghiệm tinh tế về đời sống và con người. Thơ ông không hề cầu kỳ, không ồn ào, không màu mè; nó lặng lẽ, thấm dần, giống như dòng sông miệt vườn lặng lẽ chảy qua những xóm làng, thấm vào lòng người bằng sự chân thành và cảm xúc thật.

Những vần thơ của ông không chỉ đi vào những đề tài lớn lao, nhân tình thế thái, kiếp người, quy luật vô thường, mà còn chan chứa những trải nghiệm đời thường: tình yêu quê hương, nỗi nhớ sông nước, những xao xuyến và thăng trầm trong cuộc đời đã đi qua nhiều biến động. Từng câu chữ như được tôi luyện từ những trải nghiệm thật, không hư cấu, không tô vẽ; nhịp điệu câu thơ mềm mại nhưng thấm đượm, vừa đẹp vừa buồn, như lời thủ thỉ kín đáo giữa tác giả và đời sống.

Trong thơ Nguyễn Thanh Quang, hình ảnh thiên nhiên và đời sống thường nhật luôn hòa quyện tinh tế với suy tư nhân sinh, ánh nắng trên mặt ruộng, tiếng mái dầm khuya, dòng nước chảy qua đồng, cánh cò lặng lẽ bay về, tất cả đều trở thành chất liệu thi ca. Nhưng chất liệu ấy không chỉ để miêu tả, mà để phản chiếu cảm xúc, để gửi gắm những trăn trở về cuộc đời, về con người và số phận. Thơ ông "nhẹ mà thấm, đẹp mà buồn", mời gọi người đọc không chỉ thưởng thức âm điệu, hình ảnh mà còn lắng nghe chính nội tâm mình, để tự chiêm nghiệm, tự cảm nhận.

Điều đặc biệt trong phong cách của ông là sự dung hòa giữa sự giản dị và chiều sâu, giữa cảm xúc riêng tư và những suy tư về nhân sinh. Thơ ông vừa là bản ghi của cảm xúc đời thường, vừa là không gian để trăn trở về cuộc sống, để suy tư về nhân tình thế thái và những quy luật vô thường của đời người. Chính sự cân bằng tinh tế này khiến mỗi vần thơ trở nên gần gũi mà vẫn thấm đẫm triết lý, nhẹ nhàng mà vẫn vươn tới những tầng ý nghĩa sâu xa.

Với Nguyễn Thanh Quang, thơ không chỉ là câu chữ, nó là cách ông gửi gắm tâm hồn, ghi nhớ cuộc đời, trao gửi cảm xúc và kết nối với bạn đọc. Những vần thơ của ông, dù dung dị, bình thản, vẫn có sức nặng riêng, khiến người đọc khi lật từng trang lại thấy lòng rung động, thấy mình dừng lại, thấy đời sống trở nên sâu sắc hơn. Nhờ vậy, ông đã xây dựng cho mình một giọng thơ riêng biệt.

Người thơ và những mối duyên

Không chỉ là tiếng thơ riêng lẻ, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang còn có những mối duyên đặc biệt trong đời sống văn nghệ, tiêu biểu là mối quan hệ với nhà thơ Trịnh Bửu Hoài, người anh rể của ông, một gương mặt lớn trong thi ca Việt Nam. Hành trình nghệ thuật của ông không phải lúc nào cũng trải dài phẳng lặng. Trong một tâm sự, ông từng chia sẻ rằng đã có một giai đoạn, vì những bận rộn của cuộc sống, của công việc và trách nhiệm nuôi dạy con cái, ông đã tạm rời xa những vần thơ, tâm hồn có phần lơ đãng với nghiệp viết. Chính trong thời điểm đó, sự động viên, chỉ bảo và tình cảm thi vị từ nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã trở thành ngọn lửa sưởi ấm, tiếp thêm sức mạnh để ông quay trở lại với đam mê. Mối quan hệ này vượt ra ngoài khuôn khổ tình cảm gia đình thông thường để trở thành một sự dẫn dắt nghệ thuật sâu sắc. Sự hun đúc ấy không chỉ giúp ông vượt qua giai đoạn trầm lắng mà còn góp phần định hình nên sự trọn vẹn trong đời sống nghệ thuật, hun đúc cho những vần thơ của Nguyễn Thanh Quang thêm phần sâu sắc và thấm đượm nhân sinh.

Với hành trình hơn 30 năm miệt mài với văn chương, nhà thơ Nguyễn Thanh Quang đã chứng minh một cách thuyết phục về sự kiên trì và niềm đam mê nghiêm túc của mình đối với thi ca. Và chắc chắn rằng, ông sẽ tiếp tục góp phần làm phong phú thêm đời sống văn học nghệ thuật quê hương, giữ gìn và phát huy màu sắc thơ đặc trưng của vùng đất đầy phù sa và nhân nghĩa.

P.T.Đ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm