TIN TỨC

Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh tìm dấu thời gian xa làng Gạo

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-08-27 11:47:28
mail facebook google pos stwis
1353 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh ngoảnh lại tháng ngày rời khỏi làng Gạo chôn nhau cắt rốn ở Hải Phòng, bằng nhiều tâm tư gửi gắm trong tập thơ ‘Dấu thời gian’.


Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh.

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh có nhiều năm tung hoành trong hai lĩnh vực báo chí và pháp luật, trước khi đến với thi ca. Sau tập thơ “Miền hoa phượng”, nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh biết cách tung tẩy chữ nghĩa hơn trong tập thơ “Dấu thời gian” vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành.

Vốn sống trải nghiệm và kỹ năng quan sát trở thành hành trang sở trường để ông viết những vần điệu day dứt thời cuộc, như một lần “Về quê” ngậm ngùi “Lợi danh thành khói hư không/ Thả hồn theo cánh gió đồng bao la”.

Bước đi từ làng Gạo (xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh đã đến nhiều nơi, đã gặp nhiều người. Thế nhưng, thành phố hoa phượng đỏ vẫn tích tụ và nhen nhóm cảm hứng mạnh mẽ nhất cho thơ ông. Xoay hướng nào và nhìn phía nào, ông cũng thấy mảnh đất chôn nhau cắt rốn luôn trào dâng vui buồn không dễ nguôi ngoai. Vì vậy, hình ảnh chủ đạo trong thơ Nguyễn Văn Mạnh là nhịp thở Hải Phòng, vừa dữ dội vừa bình yên, vừa náo nhiệt vừa mộng mị.

Hải Phòng tràn vào thơ Nguyễn Văn Mạnh những bóng dáng riêng tư. Đó là một đảo xa giăng mắc xao động “Cát Bà nhỏ như chiếc cúc/ Trên mình đất nước ngàn năm/ Tiếng reo một thời thắng giặc/ Còn treo đầu sóng vang lừng/… Tụ lửa của lòng dân biển/ Thắp lên ngọn đuốc ven trời”.

Đó là một mái trường bồi hồi kỷ niệm chìm khuất “Nơi phượng vĩ châm lửa vào giấy trắng/ Đại dương thầm thì vẫy gọi ở xa xôi”.

Đó là những màu sắc trắng, nâu, vàng chen lẫn choáng ngợp của một bức tranh đô thị bên bờ sóng bộn bề: “Hải Phòng của những ngày đổi gió/ Cánh cò bay trắng cả triền đê/ Người áo nâu khơi dòng phù sa đỏ/ Dệt những thảm vàng lấp lánh đồng quê”.

Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh chú trọng chi tiết, và luôn chủ động gom nhặt thật nhiều chi tiết cho mỗi bài thơ. Ưu điểm ấy khiến độc giả có sự thú vị được dự phần cùng ông khám phá thế giới xung quanh. Tuy nhiên, khi và chỉ khi những chi tiết tương tác nỗi bịn rịn hay niềm chua xót, thì mới có thể bật ra câu thơ lay động người đọc.

Đôi lần, ông nhúng chi tiết vào miền day dứt để bái vọng chân dung người cha gánh vác không ít khổ đau: “Tiếng rít điếu cày như quất vào đêm/ Khói thuốc phả vào sương mù mịt/ Ổ rơm mỏng, tấm chăn đơn rách/ Cha lặng im trong hun hút gió lùa”, hoặc ông nhúng chi tiết vào cõi mơ màng để phát hiện gạch nối giữa ánh trăng và hồ sen có phút giây xao xuyến “Con cá chép ngẩng đầu nghe kinh/ Lời giáo huấn rụng đầy mặt biếc”.


Tập thơ "Dấu thời gian" do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành.

Thơ Nguyễn Văn Mạnh có ý thức né tránh những đong đưa thù tạc, mà ưa chuộng những suy tư lắng đọng. Ở nghĩa địa làng buổi chiều, ông thảng thốt trước nhân sinh vô thường: “Kiếp phù du ngỡ như không/ Chẳng tan hóa hết chất chồng đắng cay/ Trăm ngàn duyên nợ trả vay/ Để trên mặt đất găm đầy chân mưa”. Còn đứng trước sóng gió biển Đông cồn cào, ông trầm ngâm trước thái độ thét gào tham vọng chiếm hữu vô cớ: “Gửi câu hỏi này vào Thái Bình Dương/ Rằng đã có ai tìm ADN cho biển/ Trái tim tôi âu lo thắc thỏm/ Sao câu trả lời vẫn cứ ở mênh mông”.

Mặc dù chưa đủ mềm mại và lắt léo, mảng thơ tình của Nguyễn Văn Mạnh vẫn đắn đo nhiều giải pháp để tỏ bày tơ vương. Bài thơ “Chiều Chi Lăng em hát” cơi nới thẩm mỹ “Đá như mềm đi trong không gian tẩm mật/ Em hóa vầng trăng hiền dịu giữa chiến hào”, hoặc bài thơ “Lỡ hẹn” xoa dịu trách móc “Nâng tay đội nón cho chiều/ Không em chỉ thấy bao nhiêu gió đùa”.

Trong tập thơ “Dấu thời gian”, nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh xác tín sự thật khá ung dung để ôm ấp hoài vọng trìu mến. Dù sòng phẳng “Nghĩ trước cổng chùa” hiện trạng đầy băn khoăn “Hình như Phật bỏ về trời/ Ở đây toàn sư gõ mõ” thì ông không do dự dành một góc trân trọng cho sự tử tế bất tận: “Vẫn cảm tạ những gì không vĩnh viễn/ Những biến hóa tụ tan giữa cõi vô thường/ Những phút cởi lòng mở gió yêu thương/ Những năm tháng hồn nghẹn ngào uất hận”.

Nguồn: https://nongnghiep.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm