TIN TỨC

Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh tìm dấu thời gian xa làng Gạo

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-08-27 11:47:28
mail facebook google pos stwis
1697 lượt xem

LÊ THIẾU NHƠN

Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh ngoảnh lại tháng ngày rời khỏi làng Gạo chôn nhau cắt rốn ở Hải Phòng, bằng nhiều tâm tư gửi gắm trong tập thơ ‘Dấu thời gian’.


Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh.

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh có nhiều năm tung hoành trong hai lĩnh vực báo chí và pháp luật, trước khi đến với thi ca. Sau tập thơ “Miền hoa phượng”, nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh biết cách tung tẩy chữ nghĩa hơn trong tập thơ “Dấu thời gian” vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành.

Vốn sống trải nghiệm và kỹ năng quan sát trở thành hành trang sở trường để ông viết những vần điệu day dứt thời cuộc, như một lần “Về quê” ngậm ngùi “Lợi danh thành khói hư không/ Thả hồn theo cánh gió đồng bao la”.

Bước đi từ làng Gạo (xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh đã đến nhiều nơi, đã gặp nhiều người. Thế nhưng, thành phố hoa phượng đỏ vẫn tích tụ và nhen nhóm cảm hứng mạnh mẽ nhất cho thơ ông. Xoay hướng nào và nhìn phía nào, ông cũng thấy mảnh đất chôn nhau cắt rốn luôn trào dâng vui buồn không dễ nguôi ngoai. Vì vậy, hình ảnh chủ đạo trong thơ Nguyễn Văn Mạnh là nhịp thở Hải Phòng, vừa dữ dội vừa bình yên, vừa náo nhiệt vừa mộng mị.

Hải Phòng tràn vào thơ Nguyễn Văn Mạnh những bóng dáng riêng tư. Đó là một đảo xa giăng mắc xao động “Cát Bà nhỏ như chiếc cúc/ Trên mình đất nước ngàn năm/ Tiếng reo một thời thắng giặc/ Còn treo đầu sóng vang lừng/… Tụ lửa của lòng dân biển/ Thắp lên ngọn đuốc ven trời”.

Đó là một mái trường bồi hồi kỷ niệm chìm khuất “Nơi phượng vĩ châm lửa vào giấy trắng/ Đại dương thầm thì vẫy gọi ở xa xôi”.

Đó là những màu sắc trắng, nâu, vàng chen lẫn choáng ngợp của một bức tranh đô thị bên bờ sóng bộn bề: “Hải Phòng của những ngày đổi gió/ Cánh cò bay trắng cả triền đê/ Người áo nâu khơi dòng phù sa đỏ/ Dệt những thảm vàng lấp lánh đồng quê”.

Nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh chú trọng chi tiết, và luôn chủ động gom nhặt thật nhiều chi tiết cho mỗi bài thơ. Ưu điểm ấy khiến độc giả có sự thú vị được dự phần cùng ông khám phá thế giới xung quanh. Tuy nhiên, khi và chỉ khi những chi tiết tương tác nỗi bịn rịn hay niềm chua xót, thì mới có thể bật ra câu thơ lay động người đọc.

Đôi lần, ông nhúng chi tiết vào miền day dứt để bái vọng chân dung người cha gánh vác không ít khổ đau: “Tiếng rít điếu cày như quất vào đêm/ Khói thuốc phả vào sương mù mịt/ Ổ rơm mỏng, tấm chăn đơn rách/ Cha lặng im trong hun hút gió lùa”, hoặc ông nhúng chi tiết vào cõi mơ màng để phát hiện gạch nối giữa ánh trăng và hồ sen có phút giây xao xuyến “Con cá chép ngẩng đầu nghe kinh/ Lời giáo huấn rụng đầy mặt biếc”.


Tập thơ "Dấu thời gian" do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành.

Thơ Nguyễn Văn Mạnh có ý thức né tránh những đong đưa thù tạc, mà ưa chuộng những suy tư lắng đọng. Ở nghĩa địa làng buổi chiều, ông thảng thốt trước nhân sinh vô thường: “Kiếp phù du ngỡ như không/ Chẳng tan hóa hết chất chồng đắng cay/ Trăm ngàn duyên nợ trả vay/ Để trên mặt đất găm đầy chân mưa”. Còn đứng trước sóng gió biển Đông cồn cào, ông trầm ngâm trước thái độ thét gào tham vọng chiếm hữu vô cớ: “Gửi câu hỏi này vào Thái Bình Dương/ Rằng đã có ai tìm ADN cho biển/ Trái tim tôi âu lo thắc thỏm/ Sao câu trả lời vẫn cứ ở mênh mông”.

Mặc dù chưa đủ mềm mại và lắt léo, mảng thơ tình của Nguyễn Văn Mạnh vẫn đắn đo nhiều giải pháp để tỏ bày tơ vương. Bài thơ “Chiều Chi Lăng em hát” cơi nới thẩm mỹ “Đá như mềm đi trong không gian tẩm mật/ Em hóa vầng trăng hiền dịu giữa chiến hào”, hoặc bài thơ “Lỡ hẹn” xoa dịu trách móc “Nâng tay đội nón cho chiều/ Không em chỉ thấy bao nhiêu gió đùa”.

Trong tập thơ “Dấu thời gian”, nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh xác tín sự thật khá ung dung để ôm ấp hoài vọng trìu mến. Dù sòng phẳng “Nghĩ trước cổng chùa” hiện trạng đầy băn khoăn “Hình như Phật bỏ về trời/ Ở đây toàn sư gõ mõ” thì ông không do dự dành một góc trân trọng cho sự tử tế bất tận: “Vẫn cảm tạ những gì không vĩnh viễn/ Những biến hóa tụ tan giữa cõi vô thường/ Những phút cởi lòng mở gió yêu thương/ Những năm tháng hồn nghẹn ngào uất hận”.

Nguồn: https://nongnghiep.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm