TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Đọc Người xa lạ của Albert Camus bằng chiếc gương soi của chủ nghĩa hiện sinh

Đọc Người xa lạ của Albert Camus bằng chiếc gương soi của chủ nghĩa hiện sinh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-05-29 09:54:17
mail facebook google pos stwis
3296 lượt xem

Giàu Dương Nếu triết học cổ điển đề cao bản chất và dấn thân vào việc tìm kiếm những định nghĩa về bản chất, thì trào lưu hiện sinh tập trung vào sự tồn tại của bản thể, lấy đó làm điểm khởi nguyên cho mọi sự phóng chiếu vào thực tại khách quan. Người xa lạ (L’Étranger) của Albert Camus ra đời như một dấu ấn sâu sắc của triết thuyết hiện sinh ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XX. Là một triết gia, nhà văn tài hoa, Camus đã mở ra những cánh cửa để người đọc bước vào thế giới của “kẻ xa lạ” Meursault – một người đàn ông tự mình chọn lấy thế đứng bên lề của xã hội. Hành trình của Meursault không đi tìm một kết luận duy nhất của sự tồn tại mà chỉ trình bày sự tồn tại như nó vốn là.

Tác phẩm đã khắc họa một con người triết học đơn độc, với những chiêm nghiệm về sự sống và cái chết, với nỗi chơi vơi trong sự hiện hữu của chính mình, khắc hoải về bản ngã và ái ngại về tha nhân. Đọc Người xa lạ bằng chiếc gương soi của chủ nghĩa hiện sinh để lắng nghe lời thỏ thẻ của cuộc đời phi lý, thấu hiểu về cõi người và để thấy rằng Camus đã tạo ra một thế giới mà trong đó, tồn tại không chỉ là một sự thật tối thượng mà còn là một vấn đề đầy nghệ thuật và triết lý.

Cuộc đời phi lý: Chấp nhận hay phản kháng?

“To be, or not to be?” (W. Shakespeare) – “Tồn tại hay không tồn tại?” là câu hỏi cứ bảng lảng, rập rờn trong từng câu chữ, từng trang viết của Camus. Tác phẩm của ông lột tả chân thật đến rợn ngợp trải nghiệm của những cơn khủng hoảng thân phận của con người trong một cuộc đời phi lý, một xã hội phi lý. Trong tình thế đó, sự từ chối từ cộng đồng hay từ chối chấp nhận chính mình chính là sự triệt tiêu bản thể, tạo nên những thổn thức hiện sinh. Với “cái chết của bản thể”, con người trở thành thứ trùng khít với cái biểu nghĩa (signifier), như thể ký hiệu cho một sinh thể sống vì đã bị tước bỏ hoàn toàn những giá trị người. Bấy giờ, cái chết tự nhiên đối với họ như là đoạn kết tất yếu, là một sự giải thoát khỏi bi kịch của sự vong thân, vong bản. Cuộc kiếm tìm bản thể và khẳng định sự tồn tại, khẳng định quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc trong Người xa lạ được kể với một thứ văn xuôi rõ ràng, thoát thai từ nhiều chiều kích của ngôn ngữ, được rèn giũa tỉ mẩn đến độ không còn thấy dấu vết của sự dụng công nghệ thuật nào.

Chủ nghĩa phi lý (absurdism, đối lập với rationalism – chủ nghĩa duy lý) là một đặc trưng của chủ nghĩa hiện sinh. Các nhà hiện sinh coi mọi tồn tại đều là phi lý. Nếu Soren Kierkegaard cho rằng sự phi lý của một số sự thật tôn giáo (religious truths) đã ngăn cản chúng ta tới gần Thượng Đế, Jean-Paul Sartre nhận thức sự phi lý trong các kinh nghiệm cá nhân (individual experiences) thì Albert Camus được nhắc đến với sự “nghịch lý của phi lý” (the paradox of the absurd). Sự hiện diện của con người, ngay từ bản chất, được coi là một hiện tượng phi lý. Mỗi cá nhân chỉ đơn thuần được “ném” vào thế giới, tồn tại tại thời điểm và không gian cụ thể này, mà không có một ý định rõ ràng hay lý do chính xác cho việc đó.

 Đối với Mersault, bản thân xã hội, cuộc đời và những hệ thống của nó không hoàn toàn phi lý. Ngay từ đầu, nhân vật vẫn là kẻ tuân thủ những quy ước cộng đồng khi tham gia vào vòng quay lao động, sinh hoạt, tang ma, ái tình,…, thậm chí đến lúc bị tống giam, kết án, anh ta vẫn biết rõ: mình mang tội. Là nghịch lý của phi lý, nên chính trong sự bình thường ấy, Meursault được khắc họa là một người thậm chí dửng dưng trước tin mẹ của mình qua đời; đi tắm biển với người tình rồi “ngẫu nhiên” phạm tội giết người. Một vụ hạ sát hoàn toàn vô nghĩa, không có động cơ cụ thể. “Bị kết án giết người nhưng xử tử vì tội không khóc trong tang lễ của mẹ thì quan trọng quái gì?” Ngay cả khi đối diện với án tử, Meursault cũng chỉ mong có thật nhiều người tới xem buổi hành hình và chửi rủa.

“… Mẹ đã luôn nghĩ thế và nhắc đi nhắc lại rằng, rốt cục người ta cũng phải thích nghi với mọi thứ” – lời của mẹ Mersault được anh nhớ lại trong thời khắc đã phải ở trong tù như một sự chấp nhận thực tại, chấp nhận sự phi lý của thực tại. Mọi sự phủ định và phản kháng của nhân vật chính, cũng như mọi tội lỗi của anh ta, bắt nguồn từ việc chính anh đã từ chối tham gia vào “trò chơi cuộc đời”. Trò chơi đầy nghiệt ngã và giả dối đó cần có luật lệ để vận hành, nhưng Meursault lại không thể hiểu được chúng. Hoặc có thể anh hiểu, nhưng lòng yêu sự sống chân thật đến tuyệt vọng, chán ngán của anh không thể hoà nhập vào. Với anh, quyền lựa chọn không chỉ riêng ý thức mà còn là một sức mạnh của vô thức, một nguồn động lực mạnh mẽ ẩn tàng. Trong cuộc vẫy vùng khỏi vòng xoáy phi lý của cuộc đời và con người, Mersault lạc lõng và cô đơn ngay giữa cộng đồng người quanh anh. Sự cô đơn của một thân thể trần trụi với nỗi khắc khoải về sự hiện hữu nguyên khôi của chính mình.

Tác giả Giàu Dương

Chọn lựa và tự do

Trong mọi lựa chọn của đời mình, Meursault luôn trung thành với quyền chọn lựa cá nhân. Với anh, mọi sự áp đặt từ bên ngoài trở nên không có ý nghĩa, thậm chí bị phủ nhận bởi sự hoài nghi sâu sắc về mục đích của chúng. Meursault cho rằng chân lý có thể chỉ thuộc về cá nhân, được xây dựng từ kinh nghiệm thực tế, không chỉ là các quy tắc của một tổ chức hay chế độ. Anh chính là một con người tự do tuyệt đối với những lựa chọn của riêng mình.

Có thể nói, sự hoài nghi, chối từ của Meursault đối với những điều được xem là lớn lao của con người: hôn nhân, đạo đức, pháp luật… là biểu hiện cho ý niệm trở thành một bản thể tự do, một khát khao giải phóng con người khỏi những rào luật và định kiến. Hành động phạm tội của Meursault không chỉ đơn thuần là biểu thị tội ác. Bên cạnh sự phản kháng, đó còn là lựa chọn của một hữu thể nhỏ nhoi chống chọi lại với “ách phi lý” của cuộc đời.

Meursault không có đức tin, hoài nghi con người và từ chối cộng đồng. “Ngày hôm nay thế là xong hết rồi, anh phản Chúa ạ”. Anh duy chỉ tin vào tự do và lựa chọn của riêng mình. Thế nên suy cho cùng, khi bị buộc mất đi tự do vì tội lỗi, anh đã nhận ra hình phạt của mình, cái chết đã hiện rõ và bản án đã ở ngay trước anh,, trước cả khi bị kết án bởi phiên tòa. “Tôi từng đọc nhiều rằng, ở trong tù người ta rốt cục sẽ mất đi khái niệm thời gian. Nhưng chuyện đó chẳng liên quan lắm đến tôi. Tôi từng không hiểu làm sao một ngày lại có thể vừa ngắn vừa dài. Dài hẳn nhiên để sống, nhưng đằng đẵng tới độ ngày nọ tràn lên ngày kia thì chúng đã mất đi ý nghĩa. Tôi chỉ còn khái niệm về ngày hôm qua và ngày mai nữa thôi”.

Tự do theo triết lý hiện sinh được hiểu là khả năng lựa chọn chủ quan của cá nhân, không bị ràng buộc bởi bất kỳ quy định nào từ bên ngoài. Đây là sự tự do tuyệt đối, không bị chi phối bởi phong tục, tập quán, giá trị đạo đức, hay các quy tắc xã hội. Trong bối cảnh triết lý hiện sinh vô thần, không có Thượng đế để định hình hành vi hoặc quy định đạo đức con người, tạo điều kiện cho sự tự do tuyệt đối trong mọi tình huống. Meursault là một con người như thế. Anh không đặt bất kỳ nguyên tắc nào lên quyết định của mình. Sự suy ngẫm của Meursault về tự do không phụ thuộc vào những giá trị ngoại vi, mà thay vào đó, anh tìm kiếm sự tự do từ bên trong, gắn chặt với những lo âu, trăn trở của bản thể.

Quan điểm tự do theo triết lý hiện sinh là quan điểm tự do cá nhân cực đoan, không bị ảnh hưởng bởi người khác hay các yếu tố xã hội. Những lựa chọn gắn với tự do của Meursault thường đi kèm với sự cô đơn và trăn trở về ý nghĩa của cuộc sống. Anh không chấp nhận một cái nhìn lạc quan, mà thay vào đó, thường xuyên nhìn nhận thế giới xung quanh một cách bi quan, từ chối ý tưởng về hạnh phúc và một thực tại ngập tràn ý niệm vô nghĩa, trống rỗng.

Memento mori[1] – hãy nhớ mi sẽ chết!

“Hình như tôi đã hiểu ra vì sao đến cuối đời, mẹ lại kiếm cho mình một “bạn đời”, vì sao mẹ lại muốn khởi sự tất cả một lần nữa”… Tôi chỉ còn mong mỏi có thật nhiều khán giả tới xem buổi hành hình và chửi rủa, để tôi không cảm thấy lẻ loi, để mọi điều trọn vẹn”. Mỗi một thời khắc hiện hữu, mỗi một sát na ta sống đều xứng đáng được trân trọng. Chính vì cuộc đời đã phi lý ngay từ khi con người được sinh ra, nên thay vì buông xuôi nó, chống cự nó, ta chấp nhận và “hòa giải” với nó. Những chiêm nghiệm về cái chết trong Người xa lạ cho người đọc cái nhìn vô cùng chân thật về một cõi tha nhân hỗn độn và bất khả tri. Vậy, liệu cuộc sống này có ý nghĩa khi chúng ta bị bao phủ bởi sự phi lý? Meursault đã trải qua những khoảnh khắc hoàn toàn lạc lõng, ngay giữa những con người (tưởng chừng là thân thuộc), trên mảnh đất quen thuộc – quê hương của mình. Khi chấp nhận cái chết như một phần không thể tránh khỏi của số phận, những suy tư của anh ta cho người đọc cảm thức về sự tái sinh bởi cuộc quay về với bản thể sơ nguyên nhất của con người. Dường như tồn tại không gì khác hơn là khả năng quay trở về với bản ngã và khởi nên ý niệm về một thế giới nguyên sơ.

Meursault không chối bỏ cái chết, mà chấp nhận nó như một điều không thể tránh khỏi và nhìn nhận nó một cách hết sức bình thản. Sự nhận thức về cái chết đã dẫn Meursault vượt lên trên xã hội nhưng cũng khiến anh ta trở nên xa lạ với xã hội. Chính trong những thời khắc ấy, Meursault cũng nhận ra sự lạnh lùng của thế giới. Anh ta thấu hiểu rằng, cũng giống như bản thân mình, thế giới này không tránh được sự phán xét, không kiểm soát được những biến cố của cuộc sống con người. Tuy vậy, Meursault không chìm đắm trong tuyệt vọng với số phận của mình. Điều cuối cùng anh ta trải nghiệm “Trước cái đêm đầy sao và những dấu hiệu khác thường, lần đầu tiên tôi mở lòng mình trước sự vô tình êm ái của thế giới. Và, cảm thấy thế giới cũng giống như tôi, như anh em với tôi, tôi thấy tôi đã hạnh phúc và vẫn đang hạnh phúc.”

 Nhân vật tự đặt mình nằm ngoài những vòng tròn của tha nhân, những cuộc đối thoại đầy nhiệt thành của tập thể. Chọn lựa ấy, khiến anh cũng trở thành người vắng mặt trong chính phiên tòa xử tội mình. Cái phi lý, một lần nữa, lại dấy lên bi kịch của tình trạng mất tiếng nói trầm trọng khi con người đã trở nên xa lạ ngay bên cạnh đồng loại. “Theo một cách nào đó thì có vẻ như người ta đang xử lý vụ này mà không có sự tham gia của tôi. […] Song nghĩ cho kĩ, tôi chẳng có gì để nói cả”. Một bản án vắng mặt dành cho một cuộc đời đã tự phân tách mình khỏi một cộng đồng mà anh ta không còn đức tin, không còn cảm hứng và hoàn toàn mất khả năng đối thoại. Phải chăng ấy cũng chính là cái chết, một cái cúi đầu truy điệu cho sự vong bản của một con người.

“Trên đời chỉ có những kẻ được hưởng đặc quyền. Những kẻ khác, một ngày nào đó cũng sẽ bị kết án”. Văn chương Camus vì thế là một trò chơi, một cái cười khẩy, một sự phản kháng, chống trả với những khắc nghiệt của cõi trần ai bằng một thế giới hoang tưởng ngập tràn ý niệm về sự phi lý. Mỗi nhân vật là một âm bản, mỗi trang viết là một lát thái ngang cuộc đời, mỗi câu thoại là một lần nhân vật được mổ xẻ, phơi ra những chấn thương, đau đớn đến kiệt cùng của một kiếp người. Vậy phải chăng đi đến tận cùng cố niệm của sự hiện hữu là một cách buông bỏ triệt để, chữa lành sâu gốc cho những hữu thể chằng chéo những vết xước của cuộc sinh tồn? Hay là một cái cúi đầu truy điệu những bản thể đã vong thân ở phía xa xăm, nơi không còn nhìn thấy nữa?

Song, bạn đọc nên chuẩn bị cho mình một tâm thế vững vàng và một tinh thần tỉnh táo khi đến với vũ trụ của Người xa lạ, nghĩa là không để những phi lý, những ảm đạm của tội lỗi và cái chết trùm lấy tâm hồn. Bởi lẽ bên cạnh phơi lộ lương tâm của con người, đặt sự tồn tại của con người rọi dưới ánh sáng của triết học, chủ nghĩa hiện sinh cũng rất dễ dẫn đến những “con đường lầm lạc”. Chính vì vậy, độc giả cần nâng tầm đón nhận, trang bị cho mình những “màng lọc” để chắt chiu lấy tinh hoa của một tác phẩm vừa gây sững sờ, kinh ngạc, vừa xoa dịu và nâng đỡ con người.

Giàu Dương

[1] Memento mori là một câu thành ngữ, tiếng Latin có nghĩa là “Hãy nhớ rằng ngươi sẽ phải chết”, là một lời nhắc nhở mang tính nghệ thuật hoặc biểu tượng về việc không thể tránh khỏi cái chết. Thời La Mã cổ đại, câu này được nói trong buổi lễ long trọng đón những người chiến thắng trở về. Ngồi sau lưng vị tướng thắng trận trở về là một nô lệ có nhiệm vụ thường xuyên nhắc cho người chiến thắng biết rằng dù vinh quang có lên đến tận mây xanh thì cũng đừng quên rằng anh là con người và anh sẽ phải chết.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc việt nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ phải được coi trọng nhằm tạo lập được cơ sở xã hội vững chắc để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng của đất nước để góp phần “quốc tế hóa” các giá trị văn hóa Việt Nam và “Việt Nam hóa” các giá trị văn hóa quốc tế.
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm