TIN TỨC

Những giải mã thú vị, khoa học của một người đọc tri âm

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-02-28 20:29:11
mail facebook google pos stwis
3647 lượt xem

NGUYỄN VĂN HÒA
(Nhân đọc tập Đi tìm thanh âm đồng vọng của Trần Hoài Anh, Nxb Hội Nhà văn, 2023)

Đi tìm thanh âm đồng vọng là tập sách phê bình thứ 8 trong hành trình sáng tạo, nghiên cứu của PGS.TS Trần Hoài Anh. Đây là tập sách với nhiều những kiến thức chuyên sâu và thông tin bổ ích về những tác giả thơ, văn xuôi và cả sự cộng hưởng từ những trang lý luận phê bình.

Với kiến văn sâu rộng, sự nghiên cứu cẩn trọng mang tính học thuật cao, khai thác nhiều vấn đề tri thức lý luận mới mẻ; Trần Hoài Anh đã đem đến những trang viết tinh tế, khai mở nhiều điều lý thú và bổ ích.

Trong Lời thưa, mở đầu tập sách, Trần Hoài Anh cho rằng: “Đi tìm thanh âm đồng vọng ở văn chương theo thiển nghĩ của tôi là đi tìm tiếng nói đích thực của văn chương trong sáng tác và tiếp nhận, làm thế nào để văn chương tiệm cận với chân lý nghệ thuật và chân lý đời sống, trong hành trình “lương thiện hóa” con người cả về bình diện tư tưởng và đạo lý giữa chốn nhân gian còn đầy dẫy cái ác, cái phi nhân tính, bởi nói như Taine: “Những nguyên tắc của đạo lý là những chân lý tuyệt đối” của cuộc sống. Ở một thế giới luôn tiềm ẩn những điều bất an và những biến đổi không phải lúc nào cũng theo hướng tích cực, việc văn chương xác lập được một tiếng nói nhân bản làm cơ sở tư tưởng để hướng con người đến Chân - Thiện - Mỹ là điều vô cùng quan thiết. Và đây cũng là hệ giá trị chủ âm của văn chương trong việc “thanh lọc” nhân cách con người như Pascal xác quyết: “Tất cả phẩm cách của ta nằm trong tư tưởng. Vậy hãy luyện tập tư tưởng đúng: Đó là nguyên tắc của đạo lý”.

Những thanh âm từ cuộc đời bao giờ cũng là tiếng vọng dội vào tâm thức nhà văn để tạo nên những dự phóng sáng tạo. Không có sự vang vọng này nhà văn sẽ không thể viết và như thế, không thể sáng tạo được tác phẩm văn chương. Và đến lượt mình, người đọc (trong đó có nhà phê bình, một loại người đọc đặc biệt), bằng tất cả sự tinh tế, mẫn tiệp của mình phải khám phá “tiếng vọng” từ cuộc đời được nhà văn thể hiện trong tác phẩm văn chương, để tạo nên một thanh âm đồng vọng giữa Nhà văn - Cuộc đời - Người đọc. Đây là yếu tính cũng là đích đến của hoạt động sáng tạo và cảm nhận văn chương. Như vậy, thanh âm đồng vọng trong văn chương chính là sự hợp hôn diệu kỳ và mầu nhiệm giữa những sự vang vọng của nhà văn, người đọc với cuộc đời... Cuối cùng, cái đích đến của văn chương vẫn là tìm cho được những thanh âm đồng vọng giữa văn chương với cuộc đời qua sự giao tiếp nghệ thuật mang tính đối thoại giữa người sáng tạo và người tiếp nhận văn chương. Không có được thanh âm đồng vọng này, mọi sáng tạo văn chương cũng trở thành vô nghĩa cho dù trong tác phẩm văn chương đó dung chứa những tư tưởng “cao siêu”, “thần thánh” gì đi nữa”.

Sự thức nhận sâu sắc và có những cơ sở lý luận vững vàng đã giúp Trần Hoài Anh có một cái nhìn thấu suốt, biện chứng về văn chương, về con người trong nhiều mối quan hệ đa tầng của đời sống.

Đi tìm thanh âm đồng vọng, được bố cục gồm 3 phần chính và Khúc vĩ thanh (3 bài viết của Chữ Văn Long, Trần Bảo Định, Sao Khuê nhận định về tập sách Đi tìm mỹ cảm văn chương của Trần Hoài Anh).

Phần thứ nhất: Tiếng vọng từ những trang thơ. Có 20 bài viết. Trong đó có 18 bài nhận định về 17 nhà thơ trong nền văn học hiện đại. Đó là những tên tuổi có thành tựu và sức ảnh hưởng nhất định đối với nền văn học như: Tế Hanh, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Hoài Khanh, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoài Vũ, Đỗ Trung Lai, Tần Hoài Dạ Vũ, Khế Iêm, Trương Tuyết Mai, Lê Chí, Nguyễn Quang Hà, Trần Hoàng Phố, Tôn Nữ Thu Thủy, Bùi Minh Vũ, Tạ Văn Sĩ, Hoàng Thân. Ở mỗi tác giả, Trần Hoài Anh đều có nhận định xác đáng bằng tâm thế của một người phê bình có tâm, có sự liên thông, giao cảm đặc biệt. Bởi nhà nghiên cứu có sự vận dụng linh hoạt và nhuần nhuyễn lý thuyết tiếp nhận với từng tác giả, tác phẩm cụ thể. Điều này, không phải người viết phê bình nào cũng làm tốt như Trần Hoài Anh.

Chẳng hạn khi viết về thơ Hoài Vũ, nhà nghiên cứu Trần Hoài Anh bằng cảm quan và sự nhanh nhạy của mình đã phát hiện và gọi ra đúng cái hồn cốt, điều làm nên thương hiệu thơ Hoài Vũ. Một bài viết công phu, gợi ra được những điểm nổi bật trong thơ Hoài Vũ, đời thơ và đời người dường như có sự tương giao. Vận dụng lý thuyết phê bình sinh thái, Trần Hoài Anh chỉ ra: “Khát vọng tình yêu và cảm thức sinh thái - Sự hợp hôn diệu kỳ trong thơ Hoài Vũ”.

Ở bài viết “Hoàng Phủ Ngọc Tường: Người hái nỗi buồn trong cõi phù vân”, Trần Hoài Anh đã luận giải thấu đáo những khía cạnh trong thơ và đời của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ở đó là lời tuyên ngôn hùng hồn, đầy dũng khí, xuất phát từ trái tim chân thành và sự thẳng thắn của một người chiến sĩ/ thi sĩ: “Thơ cần phải trở về căn - nhà - ở - đời của nó là nỗi buồn. Một quyền của thi sĩ là quyền được buồn”.  Những thăng trầm, ẩn ức đã khơi mở ý thức dấn thân tranh đấu đến dự cảm về sự hư ảo của kiếp nhân sinh. Để rồi từ đó Hoàng Phủ Ngọc Tường có những thay đổi về quan niệm nhân sinh trong thơ và đời. Điểm nổi bật nhất là: “Cảm thức về nỗi buồn trong cõi phù hư có thể xem là phẩm tính thi ca đậm chất nhân văn chi phối hành trình sáng tạo thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường sau những năm tháng giã từ cuộc chiến, trở về cuộc sống đời thường với bao lo toan của kiếp người, nhất là những năm tháng khó khăn của đất nước thời hậu chiến”.

Ở phần này, Trần Hoài Anh còn có 2 bài viết đầy tâm huyết liên quan đến thơ, đến trách nhiệm và sứ mệnh của người cầm bút.

Phần thứ hai: Tiếng vọng từ những trang văn. Vẫn nhất quán với lý thuyết tiếp nhận hiện đại, Trần Hoài Anh gợi mở và phân tích trong cái nhìn từ bao quát đến cụ thể, đôi lúc chỉ khai thác trên một bình diện nào đó của tác giả, tác phẩm nhưng rất có lý, có tình. 6 bài viết rất công phu, đánh giá công tâm, ghi nhận sự nghiệp và những đóng góp của các nhà văn, nhà thơ trong tiến trình phát triển của văn học hiện đại. Nhà văn Lan Khai trong tâm thức con trai Nguyễn Lan Phương; Cảm quan văn hóa sinh thái Tây Nam Bộ trong sáng tác Trần Bảo Định từ góc nhìn phê bình sinh thái; Văn học đương đại Bình Định: Sự kết tinh từ một vùng văn hóa; Nhà văn và chữ tình gởi lại - khúc vĩ thanh còn mãi;  Cảm thức về Tình yêu và Thân phận trong truyện Nguyễn Thị Lê Na; Nhà thơ Quang Dũng và hình ảnh nghệ sĩ trong tâm thức Trần Ngọc Trác.

Phần thứ ba: Tiếng vọng từ những trang lý luận phê bình. Ở phần này Trần Hoài Anh đem đến cho người đọc những bài nghiên cứu chuyên sâu: khám phá, khai thác, phát hiện ở những khía cạnh mới của vấn đề. Bài viết nào cũng giàu trữ lượng kiến thức và triển khai một cách có hệ thống, lý luận, khoa học. Bạn đọc có một cái nhìn đa chiều và thích thú khi được tiếp nhận những thông tin, ý tưởng mới từ những trang viết đầy trách nhiệm của Trần Hoài Anh. Có lẽ, trong 6 bài viết ở phần này, điều để lại cho tôi ấn tượng nhất là bài nghiên cứu về nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Viết về thơ Hồ Xuân Hương, nghiên cứu về thơ Hồ Xuân Hương thì đã có rất nhiều công trình, bài viết kỹ lưỡng, sâu sắc nhưng nghiên cứu về Hồ Xuân Hương ở bài viết: “Quê hương, cuộc đời, thân phận Hồ Xuân Hương trong cảm thức của các nhà nghiên cứu văn học miền Nam 1954 -1975 của Trần Hoài Anh trong tập sách này phải chăng là một hướng tiếp cận, giải mã mới có ý nghĩa thiết thực và bổ ích. Trường hợp đặc biệt như thi sĩ Hồ Xuân Hương dưới cái nhìn quán chiếu của Trần Hoài Anh thì thật đáng để chúng ta suy ngẫm. Nhìn nhận và đánh giá Hồ Xuân Hương như thế mới thấy được một hồn thơ chứa đựng những tầng sâu văn hóa với những mỹ cảm văn chương giàu tính dân tộc, tính nhân bản và tinh thần khai phóng. Vì thế, thơ Hồ Xuân Hương sẽ bất tử với thời gian. “... Dù đã trải qua hàng trăm năm mà âm vang thơ Hồ Xuân Hương vẫn vang vọng trong tâm thức chúng ta về tính hiện đại và tư tưởng “cách mạng”, vượt thời đại của nó”.

Trần Hoài Anh rất khéo và nhanh nhạy trong cách tiếp cận, lý giải vấn đề; ở mỗi tác giả, tác phẩm hay mỗi giai đoạn văn học anh đều phát hiện ra những nét độc đáo riêng bằng một góc nhìn sắc sảo, ấn tượng. Đọc thơ Hoàng Cầm, Trần Hoài Anh phát hiện và đưa ra nhận định khá xác đáng: “Với Hoàng Cầm, sự hợp hôn diệu kỳ giữa cái đẹp Mùa xuân và Tình yêu trong thơ là kết tinh lý tưởng thẩm mỹ của một nghệ sĩ mà ở đó cái Đẹp được Hoàng Cầm tôn thờ như một Tôn giáo để suốt đời ôn tự nguyện dấn thân như một tín đồ ngoan đạo. Đến với cái đẹp của Mùa xuân và Tình yêu trong thơ Hoàng Cầm là đến với những vẻ đẹp mang tính tương giao giữa con người và vũ trụ...”.

Là người nghiên cứu chuyên sâu và đặc biệt quan tâm đến sự vận động, ứng dụng lý thuyết tiếp nhận trong quá trình hội nhập với văn chương toàn cầu; Trần Hoài Anh đã chia sẻ và gợi mở nhiều vấn đề tri thức quan trọng, mới mẻ, thổi vào luồng sinh khí mới cho tiến trình phát triển của văn chương đương đại nhất là ở lĩnh vực lý luận phê bình. Điều đáng trân trọng ở Trần Hoài Anh, đó là việc nhận định về tác giả, tác phẩm trên tinh thần khoa học, nhưng bên cạnh đó vẫn thể hiện sự đồng cảm, sẻ chia, ưu ái và tri âm đặc biệt. Ở đó, người đọc nhận ra một Trần Hoài Anh rất quý trọng người sáng tạo ra tác phẩm, bởi đó là một công việc nhọc nhằn, người viết phải lao tâm khổ tứ, vắt kiệt sức mình để sản sinh ra đứa con tinh thần ấy.

Đi tìm thanh âm đồng vọng là tư liệu quý cho những ai nghiên cứu, quan tâm và yêu thích văn chương. Tôi tin, qua tập sách này, người đọc không chỉ hiểu mà còn thật sự yêu thích bởi những điều mà PGS -TS. Trần Hoài Anh đã nêu ra với tư cách là một người đọc tri âm đặc biệt.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm