TIN TỨC

Nối tiếp

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-25 10:16:55
mail facebook google pos stwis
542 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

Bài thơ “Chuyện riêng ở binh đoàn” của thi sĩ, bác sĩ Tố Hoài, có đề từ: Tặng các chiến sĩ nữ Quân y 19 – Binh đoàn 70. Anh viết sau chiến dịch phá cuộc “Hành quân Lam Sơn 719” năm 1971 và Chiến dịch đường 9, Nam Lào” năm 1972 lúc đang phục vụ ở mặt trận Quảng Trị :
 

CHUYỆN RIÊNG Ở BINH ĐOÀN
 

Chiến dịch đi, nối tiếp những binh đoàn

Nối tiếp Trường Sơn, nối dài chiến thắng

Có một không gian trong bề dày trận đánh

Trận xong rồi lại chuyện kể tư, riêng.

 

Chuyện rất gần... áp sát tiền duyên

Về mỗi chiến công lập trong âm thầm lặng lẽ

Bằng mũi chỉ, đường dao an lành nhỏ bé

Mang tình người thấm đậm tự trong tim.

 

Tát nước đến cùng giành tín hiệu hồi sinh

Nụ cười em - Vỡ òa cơn nín thở

Trang bệnh án gấp vào và trang đời bật mở

Trời xanh hơn! Mầu áo cũng xanh hơn!

 

Ơi em gái quân y giữa rừng Trường Sơn

Những cánh lá tay xòe che biêng biếc

Quả nhân hậu kết mùa thơm thanh khiết

Em chia đều dịu bớt mỗi lần đau!

 

Lời chân tình – Tròn vạnh quả cau

Lòng yêu thương – Lá trầu tươi nhỏ

Đã quyện lại, rực lên mầu thắm đỏ

Giọt máu đồng đội tôi san sẻ chan hòa.

 

Hoa nở bông ngan ngát vườn nhà

Cây tình yêu lá xanh, bền rễ!

Chuyện lính trẻ chúng tôi, khoảng trời riêng be bé

Chiến dịch đi, nối tiếp những binh đoàn...!
 

Quảng Trị 16/4/1972.

Bài thơ thể tự do, phảng phất biền ngẫu. Ngay khổ đầu bài thơ, dễ nhận ra thế trận “chiến dịch” ở giai đoạn tác chiến hợp đồng binh chủng: bộ binh, thiết giáp, pháo binh hạng nặng, pháo phòng không... với những binh đoàn của nửa đầu thập niên 70 thế kỉ trước; làm nên bài ca hùng tráng, khẩn trương của đoàn quân vào chiến dịch “Nối tiếp Trường sơn... nối tiếp những binh đoàn” và để “nối dài chiến thắng”. Âm vang câu thơ, cảm nhận như hành khúc nhịp đi 2/4 rung động người đọc sau nửa thế kỉ trôi qua.

Đồng thời với đoàn quân là hành trang, những căn hầm nhỏ bé giáp tiền phương, các chiến sĩ quân y vũ khí là bơm tiêm, dao kéo... mang ý chí “...tình người thấm đậm tự trong tim”. Chiến tuyến là bờ sinh - tử ở đó không kém phần khẩn trương, kiên định “Tát nước đến cùng, giành tín hiệu hồi sinh”. Họ đã chiến đấu với tử thần, cũng giằng co, cũng hồi hộp, nén thở nắm bắt thời cơ và hi vọng giành sự sống cho đồng đội. Cuối cùng, tín hiệu thắng lợi được đánh giá bằng “nụ cười”, “vỡ òa” giải tỏa những lắng lo chờ đợi.

Sau tầm bom rơi đạn nổ tử - sinh, khi “Trang bệnh án gấp vào và trang đời bật mở” một hiệu ứng xanh của sự sống thanh bình: “Trời xanh hơn! Mầu áo cũng xanh hơn”. Và làm “dịu bớt mỗi lần đau” chính là “Em chia đều” “Quả nhân hậu kết mùa thơm thanh khiết”! Bởi lòng chân tình, tạo ra yêu thương mà liệu pháp “lá trầu, quả cau” là sự ghi nhận một tình yêu thắm đỏ!

Bài thơ, từ “nối tiếp” được lặp lại hai lần rồi gắn tiếp từ “nối dài” tạo hiệu ứng sức mạnh vô tận, mở ra khí thế hào hùng. Đó là sức mạnh trùng điệp của đoàn quân, sức mạnh của lòng yêu nước ẩn trong sức mạnh Việt Nam. Từ “nối tiếp” được lặp lại lần thứ ba ở đoạn kết. Là lời khẳng định mạch nguồn cha ông đến hiện tại. Hôm nay, hơn nửa thế kỉ trôi qua, mạch nguồn đó vẫn duy trì tiếp tục...

Thực tế chiến trường:

Bài thơ ra đời vào Ngày truyền thống Quân y 16 tháng Tư. Lúc ấy chiến dịch xuân hè 1972 đã đến giai đoạn 2; sau 6 ngày Quân giải phóng miền nam Việt Nam tiến chiếm sân bay Ái Tử và đánh sập cầu Quảng Trị (10/4/1972), nối tiếp bằng các trận đánh giằng co để nối dài vào giai đoạn 3, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị (02/5/1972). Đại úy Bác sĩ quân y Nguyễn Tố Hoài (tên thật của Nhà văn khoa học Tố Hoài), trưởng khoa ngoại kiêm y vụ của Bệnh viện quân y dã chiến 19 -B70, lại tiếp tục vào cuộc chiến đỏ lửa mùa Hè 81 ngày đêm Thành Cổ Quảng Trị.

Bệnh viện dã chiến nằm trong các căn hầm nối liền nhau bằng giao thông hào. Trung tâm là hầm phẫu thuật rộng trung bình chục mét vuông, đủ bố trí bàn mổ, hòm dụng cụ quân y, dinamo quay tay phát điện chỉ đủ sáng cho vết mổ, một giá treo dịch chuyền và một máy đo huyết áp loại cơ khí, khi áp huyết đủ sẽ tiến hành mổ... Không có đủ máu để truyền nên thường lấy máu từ vết mổ truyền lại cho thương binh đang mổ. Phòng hậu phẫu là căn hầm có 3 chỗ nằm. Thương binh ổn định chuyển về hầm chữ A, mỗi hầm 2 thương binh. Quân y viện Lấy lá cây làm chiếu trên nền áo mưa lót chống ẩm, lâu dần lá khô sẽ ấm hơn. Khi thương binh lên cơn sốt, rét run, các chiến sĩ quân y phải ôm để dùng chính hơi ấm của mình sưởi cho thương binh.

Cạnh hầm mổ có hầm chụp X-quang nhưng không thể in được phim. Chỉ là đầu dò phát tia x để bác sỹ thấy vị trí mảnh đạn, bom trong cơ thể thương binh hiện lên ở màn hình nhỏ, giúp vết mổ chính xác. Hầm xét nghiệm có chai lọ đựng hóa chất, ống nghiệm và một kính hiển vi thường. Máy nổ phát điện dùng cho chụp X-quang rất nặng đi kèm với xăng dễ cháy; các ống nghiệm, cốc, chai lọ thủy tinh dễ vở phải bọc vải khi di chuyển địa điểm… Tất cả vật tư, máy móc của quân y viện có cơ số tối thiểu, trông cậy vào đội ngũ quân y để phục vụ tối đa, trong hoàn cảnh chật hẹp tối đa hơn mức đơn giản. 

Bếp ăn cũng dưới hầm và chỉ đủ cho 3 người cùng ăn nên phải ăn nhanh để thay phiên nhau. Mọi sinh hoạt chủ yếu ở dưới hầm tối....

Tuy hoạt động chủ yếu diễn ra trong các hầm, không có nghĩa là an toàn. Trong tiểu thuyết Hoàng hôn dát đỏ (Tạp chí Văn Nghệ Quân đội liên kết xuất bản) Tố Hoài đã viết rất sinh động về quân y giai đoạn chiến trường rực lửa Quảng Trị từ năm 1971, chiến dịch Đường 9, nam Lào mà anh là bác sĩ quân y. Trạm quân y tiền phương của anh đã gánh chịu sự khốc liệt do bom nhồi, pháo kích. Thực ra, ở chiến trường không đâu là tiền phương hay hậu phương. Bởi họ phải luôn bám sát mặt trận và không chỗ nào an toàn ngoài tầm bom đạn. Chi tiết người lính quân y sau 4 kíp mổ xuyên đêm, sáng ra, đói quá, tìm nước pha bát sữa uống, bị bom đánh trúng hầm và ruột vướng vào cành cây. Nhiều kiểu hy sinh của các chiến sỹ quân y diễn ra trước mắt; nhưng họ vẫn phải gồng mình đứng vững làm điểm tựa cuối cùng cho bộ đội chiến đấu.

Thuốc men, trang thiết bị y tế luôn thiếu thốn... các y bác sĩ ngoài nhiệm vụ cứu chữa, điều trị thương bệnh binh, kịp thời trả lại sức chiến đấu cho chiến trường, họ còn nhọc nhằn cho mỗi bữa ăn thiếu thốn hàng ngày, việc dành khẩu phần ăn ít ỏi cho thương binh lúc cạn lương thực, xảy ra thường xuyên lúc địch đánh phá ác liệt cắt đường tiếp vận.

Dạo ấy, tham gia chiến trường, các chiến sĩ nữ thường biên chế ở bộ phận hậu cần mà chủ yếu các nữ y bác sĩ ở bệnh viện, đội điều trị dã chiến. Song họ góp phần không nhỏ vào công tác phục vụ chữa trị thương bệnh binh. Mỗi cử chỉ, lời nói hiền dịu của họ như “Quả nhân hậu ... thơm thanh khiết” đem “chia đều dịu bớt mỗi lần đau! Đó cũng là liều thuốc chữa trị vô cùng hiệu quả.

Suy tưởng - ảnh Lê Thanh Huệ, xử lý đồ họa bởi thạc sỹ Hà Việt Hùng

Đóng góp của bộ phận văn học lãng mạn cách mạng

Tố Hoài là nhà văn quân đội, anh viết văn và viết báo ngay thời kì anh là chiến sĩ quân y ở chiến trường Quảng Trị. Trong gần chục tiểu thuyết của anh, hầu như tiểu thuyết nào cũng dính dáng đến hiện thực chiến tranh, tới quân nhân cách mạng. Cái lãng mạn trong từng tư duy, trong từng hành động của nhân vật là một tấm gương sáng trong tu dưỡng và rèn luyện vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ. Và ngay cả khi xây dựng các mối tình thì đều tích cực và trong sáng hướng về chân thiện mĩ.

Cho nên bài thơ “Chuyện riêng ở binh đoàn” cũng có thể xếp vào loại văn học lãng mạn. Giữa mặt bằng chiến tranh đâu chỉ có chết chóc đạn bom mà vẫn có chỗ thanh bình nảy nở “Hoa nở bông ngan ngát vườn nhà” của sự sống “Cây tình yêu lá xanh, bền rễ” hồi sinh. Sâu sắc hơn, hình tượng lá trầu, quả cau như một lương duyên. Là “Chuyện lính trẻ chúng tôi, khoảng trời riêng be bé” nhưng tồn tại theo “Chiến dịch đi” và luôn luôn “nối tiếp những binh đoàn...!”

Không khó để tìm thấy các tác phẩm văn chương thuộc thể loại văn học lãng mạn cách mạng. Nếu tính cả những tác phẩm ít nhiều có tính chất lãng mạn cách mạng; bộ phận này làm nên dòng chủ lưu của văn học nghệ thuật cách mạng sinh ra trong hoàn cảnh chiến tranh.

Lí do

Các tác giả của bộ phận văn học cách mạng trong thời kì chiến tranh đều lăn lộn ở các chiến trường ác liệt nhất và nhiều văn nghệ sĩ đã hi sinh. Họ có đầy đủ vốn sống, tư liệu chiến tranh với cấp độ ác liệt, phức tạp không thể hư cấu nổi...

Văn nghệ sĩ nhận thức rõ đối phương có sức mạnh về quân sự, khoa học kĩ thuật và kinh nghiệm tác chiến cao hơn; do đó những người cách mạng không có cách nào khác là phải hi sinh xương máu nhiều hơn, và luôn rút kinh nghiệm từ gian khổ hi sinh để tìm ra cách đánh phù hợp hơn, quyết tâm chiến đấu cho đến ngày toàn thắng.

Từ đó, các tác giả dồn tình cảm, trí tuệ vào sáng tác để nâng đỡ tinh thần cho nhân dân và chiến sĩ trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn nếu không nói là vô vọng trong mắt một số người nước ngoài cùng thời.

Khi đất nước qua cơn binh đao, những văn nghệ sĩ còn sống nối tiếp tác phẩm; đi vào địa hạt văn học hiện thực cách mạng để vinh danh, góp phần nối dài hòa bình cho đất nước và nhân loại.

Sài Gòn, tháng 02 năm 2026

L.T.H

(Bài đăng Văn nghệ Online)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ba dòng chảy một thành phố - Chùm thơ Bùi Đức Hiền
Chùm thơ của Bùi Đức Hiền đi từ cái nhìn hợp nhất đến những lát cắt đời sống, để thấy: giữa đổi thay, “đất mới” vẫn nở những mùa hoa của tình người.
Xem thêm
Những mùa hoa trên đất mới – Chùm thơ Huỳnh Minh Tâm
Chùm thơ của Huỳnh Minh Tâm đi từ những vùng đất cụ thể đến một “quê hương mới” trong cảm nhận, nơi đô thị không chỉ là bê tông mà còn là những mùa hoa của con người, ký ức và sự sống.
Xem thêm
Từ biển xanh đến đô thị mới – Chùm thơ Lê Vinh Dự
Hồ Tràm – Xuyên Mộc trong thơ Lê Vinh Dự hiện lên không chỉ là một vùng đất đang đổi thay, mà còn là nơi đặt ra những câu hỏi về ký ức, về con người và “linh hồn của đô thị mới”. Một chùm thơ có ý thức tư tưởng rõ, kết nối giữa sóng biển, chiến tranh và nhịp sống hiện đại.
Xem thêm
Khi thời gian lên tiếng – Chùm thơ Mai Hoa
Chùm thơ của Mai Hoa là những góc nhìn giàu cảm xúc về ký ức, lịch sử và những miền sống đang dịch chuyển trong tâm tưởng.
Xem thêm
Dấu chân trong miền vắng - Chùm thơ Khuê Việt Trường
Ba bài thơ của Khuê Việt Trường là những lát cắt lặng về người đi – người về, về ký ức và những miền chưa kịp gọi tên. Ít lời mà dư âm ở lại.
Xem thêm
Nguyễn Đăng Khương và chùm thơ Ngược xuôi sương khói
ằng những lời thơ gợi lên hình ảnh mong manh, hoài niệm, câu thơ này thể hiện sự níu giữ những giấc mơ, ký ức hư ảo, phản ánh tâm trạng trữ tình, sâu lắng của người viết. Với ngôn từ đầy diễn cảm, làm toát lên trạng thái tâm lý đặc biệt của tác giả, nơi ranh giới giữa giấc mơ và đời thực trở nên mong manh, khiến con người hành động như đang thức nhưng tâm trí lại chìm trong tiềm thức…Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh xin giới thiệu chùm thơ Nguyễn Đăng Khương – Ngược xuôi sương khói.
Xem thêm
Khói bay, lời ở lại – Chùm thơ Bùi Xuân Tứ
Mở đầu cho loạt tác phẩm qua vòng sơ khảo, Ban Tổ chức xin giới thiệu chùm thơ của tác giả Bùi Xuân Tứ – những câu thơ đi ra từ miền núi, mang theo lời ru, bếp lửa và mùi khói, như một cách nhắc nhớ: trong hành trình bước vào đô thị, con người vẫn luôn cần một nơi để trở về.
Xem thêm
Thi ca điểm hẹn: Mai Thị Thu Cúc với hành trình gánh thơ đi xa
Văn chương TPHCM trân trọng giới thiệu chương trình Thi ca điểm hẹn “Mai Thị Thu Cúc với hành trình gánh thơ đi xa” do nhà báo BTV Nam Hiệp (VOH) thực hiện.
Xem thêm
Nỗi niềm tháng Tư - Chùm thơ Lê Thi
Với những lời thơ mộc mạc nhưng giàu hình ảnh, lối khắc họa nhẹ nhàng nhưng tinh tế, Lê Thi đã mang những cảm xúc sâu lắng của tháng Tư vào những câu thơ, với nhịp rung động của những người vợ tiễn chồng ra trận, sẵn sàng đánh đổi máu xương để dành độc lập hòa bình. Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh xin giới thiệu chùm thơ Nỗi niềm tháng Tư của tác giả Lê Thi.
Xem thêm
Đời lính - Chùm thơ Nguyễn Văn Trạch
Trong ký ức của những người lính từng đi qua chiến tranh, có những chi tiết nhỏ bé mà ám ảnh suốt đời – một đêm rừng, một tiếng súng, hay một nắp bình sữa chia nhau giữa lúc sinh tử.
Xem thêm
Anh ở đâu trong tim em – Chùm thơ Chu Phương Thảo
Bằng tâm hồn nhạy cảm và lãng mạn, với những xúc cảm tình yêu cuộc sống tha thiết, khao khát đến cháy bỏng nhưng cũng mềm mại nữ tính. Tác giả đã mang nét đẹp của hoài niệm đầy chân thành đến với người đọc trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, là những bồi hồi khi nhắc về người yêu thương. Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh xin giới thiệu chùm thơ Anh ở đâu trong tim em – Tác giả Chu Phương Thảo.
Xem thêm
Giới thiệu chùm thơ Nguyễn Hữu Quý đoạt Giải Nhất Cuộc thi Thơ “Xuân mới” 2026
Đại tá, nhà thơ Nguyễn Hữu Quý là cây bút kỳ cựu của quân đội, ông có thời gian dài công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện là Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Quảng Trị. Với chùm thơ 3 bài ‘Viết lại hòn vọng phu’, ‘Sông Hồng’, ‘Ta như nguyên đán của nhau’, ông vừa được trao Giải Nhất Cuộc thi Thơ ‘Xuân mới’ do Chi hội Nhà văn Công an tổ chức tại Hà Nội. Văn chương TPHCM xin trân trọng giới thiệu chùm thơ đến bạn đọc.
Xem thêm
Vương Sỹ Thanh Chương và chùm thơ Về xứ Đoài
Với thể thơ lục bát và cách gieo vần mượt mà, mang dáng vẻ tự nhiên dân dã trong phong cách truyền thống, vừa mang nét trữ tình thấm đẫm. Vương Sỹ Thanh Chương thổi hồn vào những câu thơ từ những hình ảnh đầy màu sắc, sống động và linh hoạt của quê nhà, nơi mang lại bình yên và những kỷ niệm của những người con xa quê. Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh xin giới thiệu chùm thơ Về xứ Đoài của tác giả Vương Sỹ Thanh Chương.
Xem thêm
Phép màu – Chùm thơ Dương Xuân Linh
Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin giới thiệu chùm thơ như một lời tự nhắc nhẹ nhàng về cách sống giữa những được – mất của đời thường.
Xem thêm
Tổ quốc tôi – Chùm thơ Lê Thi
Với lời thơ giàu cảm xúc trữ tình, tả thực sinh động, Lê Thi đã mang những hình ảnh của một Tổ quốc hào hùng trong tiếng gọi hồn thiêng sông núi, qua những gian khó hồi sinh, hay hình ảnh người mẹ tần tảo cõng nắng cõng rét, chở cả yêu thương cho con trong đoạn đường lớn lên, trưởng thành! Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh xin giới thiệu chùm thơ Tổ quốc tôi – Tác giả Lê Thi.
Xem thêm
Với tháng Ba - Chùm thơ Ngọc Tình
Như những lời thì thầm giữa cuộc sống, nơi cất vào đó những nỗi nhớ xưa cũ, của những hoài niệm và những ngày đi qua nhau, nơi giữ lại những ký ức của một phong thư hay những câu chuyện còn bỏ ngỏ. Những hoài niệm sâu lắng nhưng cũng mộc mạc qua từng câu thơ, mang lại sự nhẹ nhàng gần gũi cho người đọc, để ai cũng thấy có một chút gì của mình trong đó. Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh xin giới thiệu chùm thơ “Với tháng Ba” của nhà thơ Ngọc Tình.
Xem thêm
Chu Phương Thảo và chùm thơ Thủy táng đợi chờ
Bằng những lời thơ nhẹ nhàng, bồng bềnh đầy cảm xúc, tác giả Chu Phương Thảo đã chuyển tải những nỗi niềm sâu lắng của yêu thương vào từng nốt lặng, hiện lên trong nỗi băn khoăn, vào những ước mong bình dị, đầy nét trong trẻo dịu dàng. Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh xin giới thiệu chùm thơ Chu Phương Thảo – Thủy táng đợi chờ.
Xem thêm
Lời chúc phúc cho con | Nhạc và lời: Hoàng Quý
Không chỉ làm thơ, nhà thơ Hoàng Quý còn tự phổ nhạc cho những lời thơ của mình. “Lời chúc phúc cho con” là một trong những ca khúc như thế và là bản tình ca gia đình mộc mạc và tha thiết – nơi lời chúc của cha mẹ dành cho con hóa thành giai điệu.
Xem thêm
Thi ca điểm hẹn: Ruổi rong cùng những dấu chân thơ Trần Kim Dung
Nhà thơ, nhà giáo Trần Kim Dung từng có nhiều năm gắn bó với bục giảng ở quê hương Hải Phòng. Sau khi nghỉ hưu, bà vào sinh sống tại thành phố biển Vũng Tàu rồi dừng chân tại TPHCM để theo đuổi niềm đam mê sáng tác.
Xem thêm