TIN TỨC

Nối tiếp

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-25 10:16:55
mail facebook google pos stwis
93 lượt xem

LÊ THANH HUỆ

Bài thơ “Chuyện riêng ở binh đoàn” của thi sĩ, bác sĩ Tố Hoài, có đề từ: Tặng các chiến sĩ nữ Quân y 19 – Binh đoàn 70. Anh viết sau chiến dịch phá cuộc “Hành quân Lam Sơn 719” năm 1971 và Chiến dịch đường 9, Nam Lào” năm 1972 lúc đang phục vụ ở mặt trận Quảng Trị :
 

CHUYỆN RIÊNG Ở BINH ĐOÀN
 

Chiến dịch đi, nối tiếp những binh đoàn

Nối tiếp Trường Sơn, nối dài chiến thắng

Có một không gian trong bề dày trận đánh

Trận xong rồi lại chuyện kể tư, riêng.

 

Chuyện rất gần... áp sát tiền duyên

Về mỗi chiến công lập trong âm thầm lặng lẽ

Bằng mũi chỉ, đường dao an lành nhỏ bé

Mang tình người thấm đậm tự trong tim.

 

Tát nước đến cùng giành tín hiệu hồi sinh

Nụ cười em - Vỡ òa cơn nín thở

Trang bệnh án gấp vào và trang đời bật mở

Trời xanh hơn! Mầu áo cũng xanh hơn!

 

Ơi em gái quân y giữa rừng Trường Sơn

Những cánh lá tay xòe che biêng biếc

Quả nhân hậu kết mùa thơm thanh khiết

Em chia đều dịu bớt mỗi lần đau!

 

Lời chân tình – Tròn vạnh quả cau

Lòng yêu thương – Lá trầu tươi nhỏ

Đã quyện lại, rực lên mầu thắm đỏ

Giọt máu đồng đội tôi san sẻ chan hòa.

 

Hoa nở bông ngan ngát vườn nhà

Cây tình yêu lá xanh, bền rễ!

Chuyện lính trẻ chúng tôi, khoảng trời riêng be bé

Chiến dịch đi, nối tiếp những binh đoàn...!
 

Quảng Trị 16/4/1972.

Bài thơ thể tự do, phảng phất biền ngẫu. Ngay khổ đầu bài thơ, dễ nhận ra thế trận “chiến dịch” ở giai đoạn tác chiến hợp đồng binh chủng: bộ binh, thiết giáp, pháo binh hạng nặng, pháo phòng không... với những binh đoàn của nửa đầu thập niên 70 thế kỉ trước; làm nên bài ca hùng tráng, khẩn trương của đoàn quân vào chiến dịch “Nối tiếp Trường sơn... nối tiếp những binh đoàn” và để “nối dài chiến thắng”. Âm vang câu thơ, cảm nhận như hành khúc nhịp đi 2/4 rung động người đọc sau nửa thế kỉ trôi qua.

Đồng thời với đoàn quân là hành trang, những căn hầm nhỏ bé giáp tiền phương, các chiến sĩ quân y vũ khí là bơm tiêm, dao kéo... mang ý chí “...tình người thấm đậm tự trong tim”. Chiến tuyến là bờ sinh - tử ở đó không kém phần khẩn trương, kiên định “Tát nước đến cùng, giành tín hiệu hồi sinh”. Họ đã chiến đấu với tử thần, cũng giằng co, cũng hồi hộp, nén thở nắm bắt thời cơ và hi vọng giành sự sống cho đồng đội. Cuối cùng, tín hiệu thắng lợi được đánh giá bằng “nụ cười”, “vỡ òa” giải tỏa những lắng lo chờ đợi.

Sau tầm bom rơi đạn nổ tử - sinh, khi “Trang bệnh án gấp vào và trang đời bật mở” một hiệu ứng xanh của sự sống thanh bình: “Trời xanh hơn! Mầu áo cũng xanh hơn”. Và làm “dịu bớt mỗi lần đau” chính là “Em chia đều” “Quả nhân hậu kết mùa thơm thanh khiết”! Bởi lòng chân tình, tạo ra yêu thương mà liệu pháp “lá trầu, quả cau” là sự ghi nhận một tình yêu thắm đỏ!

Bài thơ, từ “nối tiếp” được lặp lại hai lần rồi gắn tiếp từ “nối dài” tạo hiệu ứng sức mạnh vô tận, mở ra khí thế hào hùng. Đó là sức mạnh trùng điệp của đoàn quân, sức mạnh của lòng yêu nước ẩn trong sức mạnh Việt Nam. Từ “nối tiếp” được lặp lại lần thứ ba ở đoạn kết. Là lời khẳng định mạch nguồn cha ông đến hiện tại. Hôm nay, hơn nửa thế kỉ trôi qua, mạch nguồn đó vẫn duy trì tiếp tục...

Thực tế chiến trường:

Bài thơ ra đời vào Ngày truyền thống Quân y 16 tháng Tư. Lúc ấy chiến dịch xuân hè 1972 đã đến giai đoạn 2; sau 6 ngày Quân giải phóng miền nam Việt Nam tiến chiếm sân bay Ái Tử và đánh sập cầu Quảng Trị (10/4/1972), nối tiếp bằng các trận đánh giằng co để nối dài vào giai đoạn 3, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị (02/5/1972). Đại úy Bác sĩ quân y Nguyễn Tố Hoài (tên thật của Nhà văn khoa học Tố Hoài), trưởng khoa ngoại kiêm y vụ của Bệnh viện quân y dã chiến 19 -B70, lại tiếp tục vào cuộc chiến đỏ lửa mùa Hè 81 ngày đêm Thành Cổ Quảng Trị.

Bệnh viện dã chiến nằm trong các căn hầm nối liền nhau bằng giao thông hào. Trung tâm là hầm phẫu thuật rộng trung bình chục mét vuông, đủ bố trí bàn mổ, hòm dụng cụ quân y, dinamo quay tay phát điện chỉ đủ sáng cho vết mổ, một giá treo dịch chuyền và một máy đo huyết áp loại cơ khí, khi áp huyết đủ sẽ tiến hành mổ... Không có đủ máu để truyền nên thường lấy máu từ vết mổ truyền lại cho thương binh đang mổ. Phòng hậu phẫu là căn hầm có 3 chỗ nằm. Thương binh ổn định chuyển về hầm chữ A, mỗi hầm 2 thương binh. Quân y viện Lấy lá cây làm chiếu trên nền áo mưa lót chống ẩm, lâu dần lá khô sẽ ấm hơn. Khi thương binh lên cơn sốt, rét run, các chiến sĩ quân y phải ôm để dùng chính hơi ấm của mình sưởi cho thương binh.

Cạnh hầm mổ có hầm chụp X-quang nhưng không thể in được phim. Chỉ là đầu dò phát tia x để bác sỹ thấy vị trí mảnh đạn, bom trong cơ thể thương binh hiện lên ở màn hình nhỏ, giúp vết mổ chính xác. Hầm xét nghiệm có chai lọ đựng hóa chất, ống nghiệm và một kính hiển vi thường. Máy nổ phát điện dùng cho chụp X-quang rất nặng đi kèm với xăng dễ cháy; các ống nghiệm, cốc, chai lọ thủy tinh dễ vở phải bọc vải khi di chuyển địa điểm… Tất cả vật tư, máy móc của quân y viện có cơ số tối thiểu, trông cậy vào đội ngũ quân y để phục vụ tối đa, trong hoàn cảnh chật hẹp tối đa hơn mức đơn giản. 

Bếp ăn cũng dưới hầm và chỉ đủ cho 3 người cùng ăn nên phải ăn nhanh để thay phiên nhau. Mọi sinh hoạt chủ yếu ở dưới hầm tối....

Tuy hoạt động chủ yếu diễn ra trong các hầm, không có nghĩa là an toàn. Trong tiểu thuyết Hoàng hôn dát đỏ (Tạp chí Văn Nghệ Quân đội liên kết xuất bản) Tố Hoài đã viết rất sinh động về quân y giai đoạn chiến trường rực lửa Quảng Trị từ năm 1971, chiến dịch Đường 9, nam Lào mà anh là bác sĩ quân y. Trạm quân y tiền phương của anh đã gánh chịu sự khốc liệt do bom nhồi, pháo kích. Thực ra, ở chiến trường không đâu là tiền phương hay hậu phương. Bởi họ phải luôn bám sát mặt trận và không chỗ nào an toàn ngoài tầm bom đạn. Chi tiết người lính quân y sau 4 kíp mổ xuyên đêm, sáng ra, đói quá, tìm nước pha bát sữa uống, bị bom đánh trúng hầm và ruột vướng vào cành cây. Nhiều kiểu hy sinh của các chiến sỹ quân y diễn ra trước mắt; nhưng họ vẫn phải gồng mình đứng vững làm điểm tựa cuối cùng cho bộ đội chiến đấu.

Thuốc men, trang thiết bị y tế luôn thiếu thốn... các y bác sĩ ngoài nhiệm vụ cứu chữa, điều trị thương bệnh binh, kịp thời trả lại sức chiến đấu cho chiến trường, họ còn nhọc nhằn cho mỗi bữa ăn thiếu thốn hàng ngày, việc dành khẩu phần ăn ít ỏi cho thương binh lúc cạn lương thực, xảy ra thường xuyên lúc địch đánh phá ác liệt cắt đường tiếp vận.

Dạo ấy, tham gia chiến trường, các chiến sĩ nữ thường biên chế ở bộ phận hậu cần mà chủ yếu các nữ y bác sĩ ở bệnh viện, đội điều trị dã chiến. Song họ góp phần không nhỏ vào công tác phục vụ chữa trị thương bệnh binh. Mỗi cử chỉ, lời nói hiền dịu của họ như “Quả nhân hậu ... thơm thanh khiết” đem “chia đều dịu bớt mỗi lần đau! Đó cũng là liều thuốc chữa trị vô cùng hiệu quả.

Suy tưởng - ảnh Lê Thanh Huệ, xử lý đồ họa bởi thạc sỹ Hà Việt Hùng

Đóng góp của bộ phận văn học lãng mạn cách mạng

Tố Hoài là nhà văn quân đội, anh viết văn và viết báo ngay thời kì anh là chiến sĩ quân y ở chiến trường Quảng Trị. Trong gần chục tiểu thuyết của anh, hầu như tiểu thuyết nào cũng dính dáng đến hiện thực chiến tranh, tới quân nhân cách mạng. Cái lãng mạn trong từng tư duy, trong từng hành động của nhân vật là một tấm gương sáng trong tu dưỡng và rèn luyện vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ. Và ngay cả khi xây dựng các mối tình thì đều tích cực và trong sáng hướng về chân thiện mĩ.

Cho nên bài thơ “Chuyện riêng ở binh đoàn” cũng có thể xếp vào loại văn học lãng mạn. Giữa mặt bằng chiến tranh đâu chỉ có chết chóc đạn bom mà vẫn có chỗ thanh bình nảy nở “Hoa nở bông ngan ngát vườn nhà” của sự sống “Cây tình yêu lá xanh, bền rễ” hồi sinh. Sâu sắc hơn, hình tượng lá trầu, quả cau như một lương duyên. Là “Chuyện lính trẻ chúng tôi, khoảng trời riêng be bé” nhưng tồn tại theo “Chiến dịch đi” và luôn luôn “nối tiếp những binh đoàn...!”

Không khó để tìm thấy các tác phẩm văn chương thuộc thể loại văn học lãng mạn cách mạng. Nếu tính cả những tác phẩm ít nhiều có tính chất lãng mạn cách mạng; bộ phận này làm nên dòng chủ lưu của văn học nghệ thuật cách mạng sinh ra trong hoàn cảnh chiến tranh.

Lí do

Các tác giả của bộ phận văn học cách mạng trong thời kì chiến tranh đều lăn lộn ở các chiến trường ác liệt nhất và nhiều văn nghệ sĩ đã hi sinh. Họ có đầy đủ vốn sống, tư liệu chiến tranh với cấp độ ác liệt, phức tạp không thể hư cấu nổi...

Văn nghệ sĩ nhận thức rõ đối phương có sức mạnh về quân sự, khoa học kĩ thuật và kinh nghiệm tác chiến cao hơn; do đó những người cách mạng không có cách nào khác là phải hi sinh xương máu nhiều hơn, và luôn rút kinh nghiệm từ gian khổ hi sinh để tìm ra cách đánh phù hợp hơn, quyết tâm chiến đấu cho đến ngày toàn thắng.

Từ đó, các tác giả dồn tình cảm, trí tuệ vào sáng tác để nâng đỡ tinh thần cho nhân dân và chiến sĩ trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn nếu không nói là vô vọng trong mắt một số người nước ngoài cùng thời.

Khi đất nước qua cơn binh đao, những văn nghệ sĩ còn sống nối tiếp tác phẩm; đi vào địa hạt văn học hiện thực cách mạng để vinh danh, góp phần nối dài hòa bình cho đất nước và nhân loại.

Sài Gòn, tháng 02 năm 2026

L.T.H

(Bài đăng Văn nghệ Online)

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Ngựa chín hồng mao”: Bản tình ca đẹp về Mỵ Nương – Thủy Tinh
Bài hát “Ngựa chín hồng mao” của tác giả Bùi Khánh Nguyên, phổ nhạc bài thơ “Lời Mỵ Nương” của Đào Phong Lan đưa ra một góc lý giải mới mẻ khác về tình yêu.
Xem thêm
Tàn thuốc - Chùm thơ Vương Huy
Bằng những biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, lời thơ trong các bài thơ được phát họa mạnh mẽ nhưng cũng sâu lắng, mang đến cho người đọc sự chiêm nghiệm về cuộc đời, phận người với những day dứt, giữa hạnh phúc và ảo ảnh. Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh xin giới thiệu chùm thơ Vương Huy – Tàn thuốc.
Xem thêm
Hành trình đất nước trong thơ Hoàng Quý
Chùm 5 bài thơ được Văn chương TPHCM chọn giới thiệu dưới đây như những điểm dừng trên một hành trình lặng lẽ đi qua Tổ quốc — để cuối cùng trở về với nỗi thương mến dành cho con người và quê hương.
Xem thêm
Chùm thơ Lục bát cuối năm - Tác giả Hồ Xoa
Những ngày cuối năm luôn mang lại cho mỗi người những cảm xúc ngập tràn yêu thương và hoài niệm, những cảm xúc ẩn mình đâu đó nơi góc chùa xưa, nơi mảnh tình sót lại trong mùa trăng chín. Bằng lối miêu tả ẩn dụ, đã làm cho khung cảnh trở nên đẹp đẽ mỹ miều. Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh Xin giới thiệu chùm thơ lục bát cuối năm – Tác giả Hồ Xoa.
Xem thêm
Con tàu năm mới - Chùm thơ Trần Ngọc Phượng
Chùm thơ của nhà thơ CCB Trần Ngọc Phượng không tìm cách gây ấn tượng bằng thủ pháp hay hình thức mới, mà chọn đi con đường lặng hơn: trở về với ký ức.
Xem thêm
Hành trình lắng nghe từ ngủ đông đến xuân – Chùm thơ Nguyên Bình
Qua bốn bài thơ dưới đây, nhà thơ Nguyên Bình từ Bà Rịa – Vũng Tàu sẽ mở ra một hành trình nội tâm từ tĩnh lặng đến hồi sinh. Giọng thơ trầm, giàu liên tưởng và khuynh hướng chiêm nghiệm giúp chùm thơ tạo được dư âm lắng, phù hợp với nhịp đọc chậm của người yêu thơ. Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu cùng các bạn.
Xem thêm
Nơi cây nở hoa chậm - Chùm thơ Hà Thiên Sơn
Trong chùm thơ dưới đây, Hà Thiên Sơn chọn đi con đường lặng lẽ: từ cội mai quê nhà đến hoa chămpa xứ bạn, thơ anh gợi một vẻ đẹp âm thầm, bền bỉ và nhân hậu – nơi ký ức, đất đai và con người cùng nở hoa theo cách riêng của mình.
Xem thêm
Học yêu trong cõi đau – Chùm thơ Hoàng Quý
Nhà thơ Hoàng Quý từ Bà Rịa - Vũng Tàu trở lại với một chùm thơ trầm lắng và giàu suy tư, nơi tình yêu, nỗi đau và ý thức về thân phận con người được nhìn từ chiều sâu trải nghiệm.
Xem thêm
Thi ca điểm hẹn: Võ Thị Như Mai và hành trình kết nối thơ ca quốc tế
Nhà thơ, dịch giả Võ Thị Như Mai hiện là giáo viên tiểu học chính ngạch tại Tây Úc với hơn 20 năm kinh nghiệm giảng dạy chuyên nghiệp.
Xem thêm
Chốn quê nhà giấu một câu kinh – Chùm thơ Thùy Vy
Thơ Thùy Vy là những bước đi chậm vào miền ký ức, nơi quê nhà, tuổi thơ và con chữ trở thành chốn nương tựa tinh thần. Không ồn ào hay phô diễn, chùm thơ chọn cách thủ thỉ, chiêm nghiệm và buông xả, gợi lên vẻ đẹp lắng sâu của đời sống nội tâm và những giá trị bền bỉ của yêu thương.
Xem thêm
Lấy hư không làm vui - Chùm thơ Đinh Nho Tuấn
Chùm thơ mới của Đinh Nho Tuấn tiếp tục hành trình đi sâu vào những vùng trầm tích của đời sống nội tâm – nơi con người đối diện với thời gian, mất mát, tình yêu và sự chấp nhận. Thơ anh lắng, chậm, ít lời nhưng giàu suy tưởng, cho thấy một giọng điệu đã qua nhiều biến động để tìm đến sự an nhiên trong chiêm nghiệm.
Xem thêm
Dòng sông trong tôi - Chùm thơ Đặng Ân
Đặng Ân là nhà thơ trẻ nhất trong Ban Văn học thuộc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ). Tên thật là Đặng Hoàng Ân, sinh năm 1989, hiện thường trú tại phường Bà Rịa, TP. Hồ Chí Minh. Anh đang công tác tại Công ty CP Posco Yamato Vina – Phú Mỹ.
Xem thêm
Lê Hưng Tiến và chùm thơ Ngụ ngôn của dế
Với những câu thơ giàu biểu cảm nội tâm, như dòng chảy tự nhiên đầy trăn trở, thoát ra khỏi những âm thanh dồn nén của thực tại cuộc sống, nơi tiếp cận bằng sự cộng hưởng giữa cảm xúc và chiêm nghiệm. Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh xin giới thiệu chùm thơ Lê Hưng Tiến – Ngụ ngôn của dế.
Xem thêm
Mẹ tre và khoảng trời mồ côi - Thơ Cát Du
Văn chương TPHCM trân trọng mời độc giả cùng đọc và cảm nhận chất thơ đằm sâu, đậm bản sắc và có chiều sâu tâm linh của nữ nhà thơ từ Bình Dương cũ.
Xem thêm
Bác về Pác Pó – Chùm thơ Cẩm Thạch
Với những lời thơ dạt dào cảm xúc ghi nhớ về công ơn của Bác Hồ trong hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Nhân kỷ niệm Kỷ niệm 85 năm, ngày Bác Hồ về nước (28/1/1941 - 28/1/2026). Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh giới thiệu chùm thơ “Bác về Pác Pó” của tác giả Cẩm Thạch.
Xem thêm
Phan Thành Đạt và chùm thơ Xuân 1-2-3
Với cách biểu cảm ngôn ngữ sinh động mà cũng sâu lắng như tiếng lòng của tác giả, đau đáu nỗi niềm. Những thanh âm cuộc sống cuộn trào trong những dòng thơ, khơi gợi hình ảnh đa chiều của vạn vật. Ở nơi đó, dòng chảy thời gian được hòa quyện cùng sương khói, phiêu lãng và tĩnh lặng…Văn chương Thành phố Hồ Chí Minh xin giới thiệu chùm thơ Xuân 1-2-3 của tác giả Phan Thành Đạt.
Xem thêm
Những đêm không ngủ của một người đàn bà đã đi qua thời gian
Chùm thơ rút từ tập Đêm tròn mắt thức của Kiều Huệ
Xem thêm
Giữa dòng sông quê và miền hư không - Chùm thơ Huỳnh Văn Út
Từ Cà Mau, Huỳnh Văn Út mang đến một chùm thơ đậm hồn quê Nam Bộ, nơi dòng sông, đồng xanh, bếp lửa và ký ức gia đình hòa quyện trong giọng điệu trữ tình mộc mạc, lắng sâu. Từ tình yêu đôi bờ, nỗi nhớ quê nhà đến những suy tư hướng nội về phận người, thơ anh chọn sự hiền hòa và chân thành làm điểm tựa.
Xem thêm
Rừng giữ ký ức người – Chùm thơ Nguyễn Thánh Ngã
Chùm thơ về rừng là tiếng nói trữ tình – suy tưởng, nơi thiên nhiên không chỉ là không gian sinh thái mà còn là ký ức chiến tranh, là cội nguồn văn hóa và đạo lý gìn giữ sự sống.
Xem thêm