TIN TỨC

Về nương bậu cửa kiếm tìm an yên

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-09-05 08:40:05
mail facebook google pos stwis
1044 lượt xem

BÙI PHAN THẢO

(Bài viết cho cuộc ra mắt tập thơ “Lục bát chân mây” của Võ Miên Trường)


Nhà thơ Bùi Phan Thảo tại cuộc ra mắt tập thơ "Lục bát chân mây", sáng 04/9/2024 - Ảnh Nguyên Hùng.

Với tập thơ mới nhất, “Lục bát chân mây” – NXB Hội Nhà văn -2024, một lần nữa Võ Miên Trường cho thấy chọn lối vào trái tim bạn đọc đông đảo thì lục bát là một phương tiện khả dĩ. Trên lối đi ấy, người sáng tạo dọn đường cho lục bát không chỉ hoa cỏ xôn xao mà cả mây trời lắng lại; những chiều hôm quạnh quẽ hành trình hay sớm tinh mơ bừng một niềm tin về một chân lý đã xác tín, một bổn phận đã hoàn thành hay sứ mạng phải mang vác.

Nặng trĩu hoặc nhẹ tênh không còn quan trọng nữa, bởi vì lòng người đã an yên sau những tháng năm dài dấn mình vào đời sống. Thơ, lúc này như một vỗ về, một hòa âm dịu ngọt để ru người và cả ru mình: “Chân mây lục bát đa đoan/ em lần từng hạt đa mang dỗ mình”.

Chân mây đó, được thắp nắng, rọi vào những xa xanh, ngỡ như vượt thoát khỏi những tục lụy, vướng víu, ngỡ như đã “trút hết phân vân”, “trả đêm thăm thẳm”, thế nhưng:

Em về duyên trốn theo cùng/ cưu mang em lại đành bồng bế duyên/ mốt mai ước trước cửa thiền/ chạm anh – đừng chạm lại miền nhau xưa” (Thắp nắng chân mây)

Ước nguyện trước cửa thiền của nhà thơ nghe qua thấy có phần khác người và dường như phi lý: “chạm anh – đừng chạm lại miền nhau xưa”. “Chạm” và “anh” đều là thực thể; “miền nhau xưa” cũng là thực thể song có khi chỉ là một phần trong tâm thức, còn lại đã biến tan. Nhưng đời sống và tình yêu có những điều không cần luận giải, chính cái ngỡ đã biến tan mới là cái mãi còn, chất chứa những gì đẹp nhất, lung linh nhất, là cõi mộng của một thời…

Trong tập thơ này, Miên Trường nói nhiều về sự “vỡ”. Đó là nắng vỡ “chạm nhau nắng vỡ trên nhành gió lơi”, là sương vỡ “giọt sương vỡ tiếng nghe rằm gọi trăng”, là “vỡ tôi”:

Nứt chiều vỡ ngọn heo may/ rừng cây vỡ biếc tôi đây vỡ gì/ lá vàng vỡ tiễn mùa đi/ dốc quanh vỡ vạt cúc quỳ vàng bông/ một ngày sóng vỡ thành sông/ chảy xuôi về phía hư không vỡ sầu/ nghiêng rằm vỡ mảnh trăng đau/… phủi tay hạt bụi lập trình vỡ tôi”…

Chất nghiệm sinh trong thơ lục bát của Miên Trường cứ thấm dần trong những câu thơ tự tình. Đâu đây nghe ra tiếng vỡ của nhận thức “với tay chạm cánh cửa thiền/ thoảng hồi chuông đổ vỡ miền tử sinh”; “đêm khan vỡ tiếng rao mời/ ai mua tôi bán lãi lời dại khôn”.

Trên hành trình cuộc sống, trên hành trình thơ, Miên Trường chọn tâm thế nhập cuộc, cả thực và mơ đều không khoác lên chiếc áo lộng lẫy hay lời ru mị, không dệt nên cổ tích để cùng mơ mà chọn sự vừa đủ để gọi là nhiều và trọn vẹn:

Từ người bẻ nhớ làm đôi/ giấu vào bề bộn mùa trôi sóng chờ/… từ em mang nhớ ra hong/ dắt trang quá khứ đi vòng lối ai/… mùa em cổ tích thiếu thừa/ khoác tràn vai nắng đủ vừa chiêm bao/ người đi sỏi đá xanh xao/ em về ga cuối vẫy chào miền không” (Đủ vừa chiêm bao)

Với tập thơ này, Miên Trường đã tung tẩy hơn với chữ nghĩa, có những sáng tạo trong thi ảnh, gieo vần, đem lại lớp nghĩa mới cho từ ngữ:

Ừ thôi duyên nợ buộc ràng/ thương hoàng hôn cạn chiều dang dở từng”

“Từng tinh khôi – từng cùng ai/ và từng thương mãi những dài dặc đêm”

“Người từ nỗi nhớ cài then/ mười năm lận đận tình lem lấm buồn”…

Thường người khác hay viết “đầy tay”, Miên Trường dùng “gầy tay” lại hóa ra đắt trong ngữ cảnh:

Câu thơ em gãy – chùng chình từ say/ khát khao em hứng gầy tay” (Đôi lời với biển)

Nhiều người làm thơ về cúc họa mi, thơ Miên Trường về loài hoa này có những dấu ấn sáng tạo riêng khi sắc trắng được “dâng”, được “rót”:

Họa mi khép những cồn cào/ dâng vào trắng đến xôn xao đất trời/…bao nhiêu tinh khiết tảo tần/ rót vào trắng đến ngại ngần rằm hương” (Cúc họa mi)

Cũng nói về thân phận đàn bà, sự trớ trêu của tạo hóa, sự bạc bẽo của số phận, Miên Trường thấu cảm, bao dung:

Đổ thừa trăng chẳng chịu tròn/ đàn bà tôi những mỏi mòn bủa vây/ đàn bà em rút sợi ngày/ nối đêm vá mảnh chăn vay nhà người” (Tôi –em – đàn bà)

Rút sợi ngày nối đêm, để vá mảnh chăn vay, diễn đạt như thế là mới và lưu dấu trong tâm trí người đọc. Thôi thì thả tình cuối bến, về nương bậu cửa, tìm chút an yên.

Trên đường thiên lý, bước về phía mặt trời, thấy bóng mình, bóng người, tay níu cõi không, thấy lẽ vô thường hiện hữu:

Thấy người trong cõi mênh mông/ cúi chào nhau giữa tịnh không ngỡ ngàng/ xuống dòng một dấu chấm than/ có – không khép lại một trang viết mình” (Dấu chấm than)

Và ta nghe đâu đây có tiếng chuông chùa ngân lên, xoa dịu hết những nỗi niềm vọng động...

Quang cảnh buổi ra mắt tập thơ mới của Võ Miên Trường - Ảnh NH.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm