TIN TỨC

Quang Chuyền: Sáng một tấm lòng lành

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-08-29 23:59:00
mail facebook google pos stwis
1558 lượt xem

Bùi Phan Thảo

Với nhà thơ Quang Chuyền, đã có rất nhiều báo, đài dựng chân dung, phỏng vấn, viết về ông và thơ của ông. Những trình bày của tôi hôm nay, chỉ là góp thêm một góc nhìn về một đời người, một đời thơ khá đồ sộ, một sự nghiệp thơ vững vàng, đáng ngưỡng mộ.

Điểm nổi bật dễ thấy nhất của “Quang Chuyền – thơ và đời” là đậm tình. Đó là những tình cảm sâu sắc, đậm đà, cái tình chung bao la mà cũng là tình riêng nặng nghĩa. Tình trải trong không gian bao la của những vùng miền, đi qua thời gian của đời người thấu tỏ hết buồn vui, sướng khổ. Tình trong thơ đã được câu chữ làm cho mềm mại đi, như một lời tự sự, thủ thỉ chuyện trò nhưng cũng đầy nồng ấm như ngọn lửa trong bóng đêm, cho người về ngồi bên, hơ bàn tay lạnh giá sau quãng đường dài lữ hành…

Nhiều bạn bè, đồng nghiệp đến chúc mừng nhà thơ Quang Chuyền trong buổi ra mắt tác phẩm "Quang Chuyền - Thơ Và Đời"

Có người sẽ hỏi, cái tình ấy có gì mà lạ? Đúng là không lạ, rất quen nữa là khác. Nhưng cái tình là cái kết nối, đưa người đọc đến với tác phẩm. Tình làm cho thơ của Quang Chuyền đầy đặn lên và ý nghĩa hơn.

Tôi không hàm ý so sánh nhưng vẫn muốn nói rằng, Quang Chuyền viết thơ theo lối cổ điển và đơn sơ, không màu mè, làm dáng hay khoe khoang rối rắm. Có nhiều bài thơ viết theo lối hiện đại có hay và tình không? Có chứ. Nhưng cái tình nếu có trong những bài thơ này dữ dội quá, trần trụi quá, riết róng quá, có khi đầy những lập ngôn ngạo mạn nên không dễ để cảm thụ, sẻ chia, ít đi vào tâm trí người đọc. Nên tôi vẫn chọn thơ Quang Chuyền, cổ điển (classic), vẫn mang một nghĩa khác là mẫu mực, thơ chuyên chở tình đi như con thuyền trên sông và lắng nghe âm vọng đôi bờ.

Thơ Quang Chuyền từ đó lan tỏa, thấm sâu, soi vào bản ngã nội tâm. Hành trình thơ Quang Chuyền cho thấy ông luôn xốc vác, sẵn sàng nhập cuộc, đồng hành. Hành trình thơ và đời đúc kết lại, dù đầy những biến động, chênh chao, thì vẫn một tấc lòng chân thật.

Hãy xem chân dung tự họa của ông:

“Ta là một gã nhà quê/ bước đời không định, lạc về phố đông/ nắm tay vào có vào không/ những mong tóc ướp hương đồng đừng phai/ những mong bè bạn hơn tài/ cho ta tìm học thêm vài điều hay” (Tự họa)

Và ông tự nhận “tôi là gió thổi giữa đồng đất quê”. Gió hồn nhiên, phóng khoáng, người bộc bạch chân thành.

Ta sẽ gặp lại ông trong những câu thơ ông viết về đời sống, để thấy rõ hơn chân dung một nhà thơ nồng ấm nghĩa tình. Với ông, không chỉ là những con người ông gặp trên đường đời mà những miền quê ông qua ông sống, đều đọng lại ân tình yêu thương. Đó là miền quê Vĩnh Phúc nơi ông sinh ra, thành Tuyên ông sống thời niên thiếu, là vùng Việt Bắc thuở thanh niên trước khi đi bộ đội vào Nam: “Kỷ niệm đời ta là dòng sông long lanh/ lời hát những cánh rừng Việt Bắc”… Ông nhớ Hà Nội: “Tôi từ đi đứng chiêm bao/ đứng đi Hà Nội lối nào cũng em/ tôi từ ít nhớ nhiều quên/ sân ga lẻ bóng mình lên một tàu” (Thoáng qua Hà Nội). Ông yêu Sài Gòn: “Người đến Sài Gòn không lo áo rét/ người xa Sài Gòn có gió đi theo/ Sài Gòn đấy với tôi bến đỗ/ từ nơi này tôi đi đến trăm sông” (Có một Sài Gòn).

Nhà thơ Bùi Phan Thảo tham gia tọa đàm trong buổi ra mắt tác phẩm "Quang Chuyền - Thơ Và Đời"

Ông cảm về chợ nổi miền Tây Nam Bộ: “Người quê buôn bán kiểu quê/ nói năng thường ít so kè thiệt hơn/ chung nhau chớp bề mưa nguồn/ đổi trao cái khổ cái buồn cho nhau” (Chợ miền sông nước). Và phải yêu, phải là người quê mới có thể viết được những câu thơ da diết, cháy lòng: “Sầu đau cất kín trong nhà/ ước mơ, khao khát phơi ra đồng làng” (Người quê).

Thơ Quang Chuyền còn nặng những nỗi đau đời. Đời riêng của ông, thủy chung nhân hậu. Người con gái ước thề với ông bị tai nạn lao động nặng, lúc đó gần như tàn phế, ông vẫn một lòng cùng bà lập gia thất và trời như thấu lòng ông, hiền thê của ông khỏe mạnh dần lên, cùng ông dựng mái ấm gia đình, đi qua bao nhọc nhằn của cuộc mưu sinh, nhất là những khi ông bị bủa vây bởi những tệ bạc thói đời, rồi ông bà vượt qua, để hôm nay chúng ta có một Quang Chuyền với thơ và đời nặng trĩu trên tay, ấm cả lòng người.

Đời riêng là vậy, nên ông sống nhân từ, khoan hòa, thơ ông cũng hướng về cuộc sống với lòng bao dung cũng là lẽ đương nhiên. Những biến thiên thời cuộc và cả cảnh vật, cũng thường tình, song ông dễ rung động thiết tha. Ông xót xa khi bến phà xưa đã dựng một cây cầu: “Nước cứ chảy, sóng hôn bờ bãi/ thương trăng khuya qua bến lạnh một mình” (Bến lạnh). Khi những giếng khoan thay thế giếng đào, cỏ rêu chen lấp lối chân xưa, ông viết: “Giếng làng từ ấy mồ côi/ đêm đêm chỉ có trăng soi lạnh buồn” (Tiếng gàu giếng thơi).

Chỉ một bông mía, ông nghĩ về sự tận hiến, đưa người đọc đến những chân trời liên tưởng:

“Lơ phơ mía trổ trắng bông/ lòng cây trống rỗng, rỗng không còn gì/ bao nhiêu mát ngọt cho đi/ thân sơ ruột bấc, bấc vì hoa thôi” (Bông mía)

Phải có sự tận hiến, cho đi mới có những ngọt ngào nhận về. Ở phía trống rỗng không còn gì đó, lòng người đọc cũng nương theo mà trắng cùng những bông mía phờ phạc trên đồng.

Dẫn ra những câu thơ trên, tôi cũng muốn nói rằng, viết theo lối cổ điển dung dị đó thôi, song thực ra vẫn rất mới. Mới ở cách nhìn, cách diễn đạt. Trong bài thơ “Phú Quốc một mùa trăng”, “hôm nay tìm em lại lạc vào ngày trước/ gặp núi hoang sơ như gặp thuở ban đầu”, như trò chơi ú tìm trẻ dại, em đã đem vầng trăng đi đâu. Bài thơ sáng lên bởi cái tứ bất ngờ, thơ viết ở đảo và “Tôi thành đảo/ giữa trùng khơi vời vợi/ ngắm biển, nhìn trời, chỉ thấy sắc trong veo”. Mấy ai ra Phú Quốc mà bỗng chòng chành, thấy mình thành đảo như ông, nếu không là thi sĩ?

Tứ thơ về một nửa nhiều người khai thác, nhưng với “Nửa trời trăng khuyết”, Quang Chuyền đưa ánh sáng câu thơ đi vào những một nửa để lòng người cứ cồn cào bởi quá nhiều dang dở, buồn thương:

“Từ ngày vắng bặt tin anh/ hình như một nửa trời xanh bạc màu/ chiến trường khuất nửa xa sâu/ mây đêm vương nửa khuyết vào vầng trăng/ nhà ta nửa lệch nửa bằng/ nắng chênh nửa sáng sương giăng nửa chiều/ cây nhang cháy nửa liêu xiêu/ tóc em bạc nửa vì nhiều buồn đau”…

“Nhà chia nửa sáng nửa chiều/ mới qua được nửa kiếp nghèo rạ rơm/ giá mà còn đủ mặt con/ mẹ đâu nên nỗi nữa buồn nửa lo”

Là một người lính, một nhà báo, một nhà thơ, và hơn hết là một người yêu quê, quê hương nơi chôn nhau cắt rốn, nơi trưởng thành và cả quê hương Việt Nam trong lòng người dân Việt để luôn đau đáu tự hào, luôn phập phồng từng nhịp thở theo dòng thời sự, theo những nỗi niềm thế sự trầm luân.

Những đổi thay trong đời sống, sinh hoạt, lòng người, những bữa cơm nhà ít dần, máy lạnh đi vào từng ngõ xóm, đẩy nóng nực, nắng mưa ra ngoài đồng quê thì nhà thơ cũng thốt lên: “Từ ngày lối phố rộng ra/ nghĩa tình hẹp lại, ngõ xa nhà gần”

Bây giờ chỉ còn kỷ niệm quân ngũ, bạn bè người hy sinh, người mất liên lạc, người đau yếu bệnh tật, người nghèo khó triền miên, rồi câu thơ chùng xuống:

“Bây giờ nhìn ngược nhìn xuôi/ sao ngỡ mắt nhìn khập khiễng/ ai người kiếm ăn từng miếng/ ai dư của nả chất chồng/ bây giờ chỉ còn mong ước/ kiếp người bớt chút manh mong” (Thấp thoáng suy tư)

Những suy tư chắt lọc trong những bài thơ 4 câu, kiệm lời sâu ý, nhiều tầng cảm xúc:

“Tôi thường lục nhớ trong quên/ lắng nghe Thạch Hãn ngày đêm gọi về/ người nằm trong đất thành quê/ người nằm trong sóng biết về nơi đâu?” (Người nằm trong sóng)

Trồng cây, trồng người đều khó, nên “Ta vun vén một đời dâu bể/ để cuối cùng/ thấy lá toát mồ hôi” (Lá toát mồ hôi)

Có những điều ngỡ đơn sơ mà cùng nhà thơ ngẫm ngợi, lại thấy phải giật mình sau hồi chuông vọng mà không nghe không hay:

“Giật mình nghe tiếng sét/ giật mình nghe tiếng gà/ giật mình không nghe tiếng/ chuông gọi về phía ta” (Giật mình)

Cũng trong ý tưởng không thể thành lời là ý thơ chưng cất qua một diễn ngôn nhẹ nhàng, thấp thoáng một nụ cười, dù là nỗi đau:

“Cái đau không nói thành lời/ cái đau nép ở đứng ngồi lặng thinh/ cái đau khuất chỗ vô tình/ người đau không tự biết mình đang đau” (Cái đau)

Cũng như bao người yêu thơ khác, tôi khâm phục Quang Chuyền bởi ông viết lục bát rất hay rất đẹp. Với người làm thơ, viết một bài lục bát làng nhàng không khó song đời người làm thơ thành công, có khi chỉ một vài bài lục bát mà thôi. Còn với Quang Chuyền, đời thơ của ông lục bát chiếm dung lượng lớn, lại là những bài chất lượng đồng đều, hầu hết đều hay, nhiều bài rất hay, tạo nên thương hiệu thơ Quang Chuyền và ông đóng dấu triện đỏ chói bằng nhiều bài thơ lục bát.

Bao năm qua, sông Lô xanh ngắt đã đi vào thi ca nhạc họa. Sông Lô vào thơ Quang Chuyền nhiều thi ảnh đẹp, nhất là trong chiều mưa nhớ người:

“Giọt mưa sao lại phập phồng/ vỗ trên mặt sóng, lặn trong mắt người/ từ sau ngày ấy tôi đi/ mang theo cả tiếng thầm thì trong mưa” (Bóng người bên sông)

Những bến sông trong thơ ông được khắc ghi bằng lục bát như chẳng muốn con thuyền rời đi, mái chèo dùng dằng. Nhưng đời trai phải dấn bước, kỷ niệm xa xăm và hình bóng mơ hồ:

“Tôi đi từ bấy chưa về/ thành ra lỗi một lời thề với sông/ người xưa thì đã theo chồng/ còn đâu đò chở những dòng ca dao/ cầu vồng bắc nối chiêm bao/ bến quê từ ấy khuất vào dòng sông” (Bến quê)

Có những câu chữ thoạt nghe bình dị, vào thơ Quang Chuyền lại đẹp hơn lên, bởi tình thơ, tiếng lòng người thơ đằm thắm mà xao động:

“Lại nghe trăm ngả đường yêu/ đi đâu cũng gặp tím chiều em qua” (Sóng vỗ bên trời)

Trong nhịp chuông chùa, nhà thơ lắng nghe, luận giải về lẽ sống với những yên lành, xót xa, thiệt hơn, mất còn, trước sau trong kiếm tìm của lẽ phù sinh, và vọng âm từ lòng người trong những đêm đen:

“Chuông gần nối sóng chuông xa/ đường về cát bụi, cũng là đường chung/ ai nghe tiếng vọng chuông lòng/ thường đêm đổ nhịp lẫn trong chuông chùa” (Trong nhịp chuông chùa)

Thì vậy, giữ cho nhau tiếng lòng, nghe cho nhau tiếng vọng. Thấm cho nhau một câu thơ, một bài thơ, đã là tri âm. Thơ Quang Chuyền, vì thế, đi vào người đọc và ở lại, một cách lành hiền như con người ông. Để có buồn bao nhiêu đi nữa, cũng vượt qua, để sống, để nghĩ về đời với sự biết ơn và cầm bút, như để trả những món nợ ân tình.

B.P.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm