TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tản mạn về giải thưởng văn chương và Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2021

Tản mạn về giải thưởng văn chương và Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2021

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-04-23 23:10:33
mail facebook google pos stwis
2099 lượt xem

Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam là điểm cao trào cuối của những công cuộc thầm lặng diễn ra trong suốt một năm. Cái công cuộc ấy không phải chỉ là sáng tác, mà là nhìn nhận. Chừng nào giải thưởng còn mang lại một cảm giác chờ đợi và khai phá, chừng đó người ta còn tin tưởng vào một nền văn học lành mạnh.

Giải thưởng luôn là điều cần thiết cho văn chương, ở những lẽ sau đây. Thứ nhất, nó mang lại cho văn chương những lợi ích hữu hình. Song hành với giải thưởng là tiền bạc và danh vọng: với các nhà văn mới xuất hiện, đó là một sự công nhận và khích lệ; với các nhà văn đã thành danh, đó là sự củng cố và khẳng định. Mà nhiều khi, các nhà văn thành danh cũng cần khích lệ nữa, để tránh khỏi cái nguy cơ chán viết khi sự nghiệp đã đến đỉnh cao. Thứ hai, xét về lợi ích vô hình, giải thưởng là cái cớ để neo lại trong một dòng chảy văn chương, để công chúng và giới phê bình có thời gian nhìn nhận lại một đoạn đường đã qua. Cái dấu chân in lên của đoạn đường trước sẽ tạo nên hõm đất làm điểm bật cho chặng đi tiếp theo. Sức lan tỏa của một giải thưởng khả tín sẽ đầy sức khơi gợi. Người vô danh nhìn thấy một ngọn đuốc nhận đường mờ tỏ, cũng bước ra khỏi bóng tối để thi thố chữ nghĩa.


Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trao Giải thưởng Văn học trẻ cho các tác giả đoạt giải.

Giải thưởng cũng giải quyết cái cô đơn hiển nhiên của một nhà văn: cần được công nhận, và cần được thấy rằng rồi cũng sẽ được công nhận. Đừng ai nói rằng hội hè đình đám trong văn chương là không quan trọng. Ta chỉ tìm thấy đúng bản thân mình trong thế giới bên ngoài mà thôi: cái tôi đích xác tồn tại cho một lẽ cộng đồng, với thứ bậc, vị trí, uy tín xã hội và muôn vàn mối quan hệ tương giao.


Tiểu thuyết “Một ví dụ xoàng” của Nguyễn Bình Phương.

Trong văn chương, hào quang không phải là dĩ nhiên. Yêu mến văn chương Việt Nam thì sẽ nhìn thấy ngay: chỉ trong hai năm qua, các cuộc thi, cuộc vận động sáng tác, giải thưởng… có vẻ trở nên nhiều hơn, là để tìm kiếm một hào quang còn thiếu. Với những người làm công tác tổ chức hay quản lí về văn nghệ, họ kì vọng vào các cuộc thi, cuộc vận động và giải thưởng như những công cụ có thể giúp tìm ra những cây bút mới ngoài kia, nhất là khi không gian sinh hoạt văn hóa đã thay đổi nhiều so với trước đây, không còn dồn tụ lại ở một vài tờ báo lớn. Không có cuộc thi hay giải thưởng, sinh hoạt văn chương mất đi sinh khí, thậm chí là không có dáng hình. Ngày nay ai cũng có thể ra sách, và với một chút ngân sách tiếp thị, cùng sự ủng hộ khéo léo mang tính bằng hữu xã giao, người ta hoàn toàn có thể trở thành một tác giả có nhiều người để mắt. Nhưng ai sẽ đứng bên lề ghi lại những chuyển động của một nền văn chương – cái mà không gì khác, chính là tâm thức của một thời đại. Việc có các hệ thống giải thưởng văn chương làm cho nền văn học trở nên có xương sống. Xương sống tỏa nhánh ra từng đốt khâu, làm cho văn chương có hình hài và có quyền hi vọng được nâng tầm vóc.

Đương nhiên giải thưởng văn chương cũng có những mặt trái của nó. Giải thưởng cố định và hạn chế tác phẩm, vì dẫu sao, giải thưởng vẫn là những giá trị được khoác lên dựa trên quan điểm của một ban giám khảo. Giải thưởng cũng sinh ra những tác giả sống vì giải thưởng, vì ở họ, cái khát khao vui vầy trong một thế giới của những người cùng đam mê lại mạnh hơn khát khao sáng tạo. Người đoạt nhiều giải thưởng thường tư duy văn chương như một màn tiến thân: chinh phục cuộc nhỏ rồi mộng mơ cuộc lớn. Giải thưởng làm cho họ ngấm những khôn khéo kì cuộc, lại chuốc vào mình nụ cười mãn ý và hơi thở khinh bạc của kẻ hiểu sự, và rồi dẫu tỉnh ra nhưng không sao khác được, họ quên mất rằng sự nghiệp của một nhà văn là phải xây dựng thế giới quan đặc sắc và tìm ra chân lí riêng tư của những điều họ đặc biệt quan tâm. Cái bẫy danh vọng thì ở đâu cũng có, nhất là khi thế gian quá nhiều cuộc thi sẵn sàng trao cho nhà văn những tấm kỉ niệm chương chói lòa.


Tiểu thuyết “Nắng thổ tang” của Đinh Phương.

Nhưng giờ đây, các điểm yếu của những giải thưởng sẽ được bù lại bởi những tranh luận xung quanh nó: công chúng có cơ hội phản biện giải thưởng, đọc những tác phẩm bị loại và tái xếp hạng các tác phẩm theo quan điểm của riêng họ. Giải thưởng tạo dịp vui cho giám khảo trở thành độc giả và kích thích các độc giả trở thành giám khảo. Thế nên, việc xây dựng một giải thưởng văn chương với quy trình minh bạch, quan điểm rõ ràng cũng như phong cách sắc nét là điều tối quan trọng của những nhà tổ chức.

Mọi nhà văn đều không thiếu khôn ngoan để tránh những bẫy. Nhưng ở đây tôi muốn nói đến chiến lược tồn tại của một cây bút: một nhà văn giỏi sẽ biết khi nào họ thực sự cần giải thưởng, còn khi nào thì không. Họ cần giải thưởng vì họ cần một động lực để hoàn thành một tác phẩm nhọc nhằn. Họ cũng có thể cần giải thưởng vì điều đó sẽ mang lại những mối quan hệ mới, và mở ra một cánh cửa đi vào thế giới khác, giúp họ có thêm hơi thở đời sống để bật ngọn lửa sáng tạo. Mọi điều ấy đều quan trọng và chỉ có những cây bút hoặc với tài năng quá lớn hoặc với một mặc cảm của sự không được công nhận mới đi bỉ bôi các giải thưởng.

Những giải thưởng luôn có nhịp của nó. Chọn lựa của nó, phán quyết của nó không hẳn chỉ tác động đến sinh thể tác phẩm hay mạch ngầm của văn học, mà chính nó có lúc phải tiến lên táo bạo, sẵn sàng gây tranh cãi, hoặc lùi lại để chờ đợi, hoặc tìm một chỗ víu thật vững trước khi nhấc gót chân viễn dụ. Với sứ mệnh là một trong những giải thưởng lớn, mang tầm vóc của quốc gia và cho thấy lăng kính của một nền văn học, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam là điểm cao trào cuối của những công cuộc thầm lặng diễn ra trong suốt một năm. Cái công cuộc ấy không phải chỉ là sáng tác, mà là nhìn nhận. Chừng nào giải thưởng còn mang lại một cảm giác chờ đợi và khai phá, chừng đó người ta còn tin tưởng vào một nền văn học lành mạnh.

Kể từ năm 2021, Hội Nhà văn Việt Nam xây dựng các hạng mục giải thưởng riêng cho văn học thiếu nhi và tác giả trẻ, như là một động tác lấy lại thế đứng và điểm tựa cho một cú phóng đi trong tương lai gần. Những mơ ước về việc xuất khẩu văn học Việt Nam cũng như đưa tác phẩm tiệm cận đến các giải thưởng lớn trên thế giới hẳn không phải là một tầm nhìn thấp. Đó không phải là ước mơ về sự đổi mới hay cải cách, mà là hoa tiêu của việc tái ổn định. Bất cứ một xạ thủ nào muốn bắn vỡ tan một đích ngắm thì trước tiên cũng cần phải chọn chỗ thật đúng, lựa dáng đứng chuẩn theo lí thuyết và bình ổn tinh thần. Sau những mùa trao giải ít nhiều gây tranh cãi, giải thưởng của năm 2021, với Hội Nhà văn Việt Nam, thật sự gánh chịu nhiều áp lực. Đây không phải là một năm văn học Việt Nam nở rộ: người ta đi giữa khu vườn văn học, thấy xung quanh nhiều đốm sắc màu của những thứ kì hoa mới nở, nhưng đưa tay ra hái thì khó ngắt được một bông nào đã xòe cánh. Thế nhưng, để hiện thực hóa cái ước muốn khai phá thêm những tài năng mới, hoặc chỉ để lạnh lùng thầm thì rằng diện mạo của chúng ta đã khác rồi, cần phải có một năm bản lề.


Tiểu luận “Văn bản văn học và sự bất ổn của nghĩa” của Trương Đăng Dung.

Luôn luôn có những chuyển động rõ nét nếu ta thực sự muốn nắm bắt. Những quyển sách được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2021 – tất nhiên được xác quyết bởi bàn tay của những người chấm giải – tự thân nó ẩn chứa tâm thức của thời đại và diện mạo cũng như tinh thần hiện có của một nền sinh hoạt nghệ thuật. Khởi đi từ một (hay nhiều) cái chết, Nắng Thổ Tang (giải Tác giả trẻ) và Một ví dụ xoàng (giải hạng mục văn xuôi) bám lấy câu chuyện của những vụ án để từ từ khai mở những chuyện về đời sống trong thế giới hiện đại (Một ví dụ xoàng) hay trong quá khứ xa (Nắng Thổ Tang). Cả hai tác phẩm, tất nhiên được khởi viết trước năm 2021, trở về với lớp lang của tự sự thuần thành: không còn là cuộc chơi của mã hóa văn bản, ra đời với những cái tên giống như là ngón tay của tác giả chỉ định đích danh (“một ví dụ”, “Thổ Tang”). Dùng những sự kiện đã từng có thật, những phiên tòa với địa điểm đích xác, không mơ hồ… làm trung tâm, các nhà văn đưa ra diễn giải của mình và cho thấy bản chất xã hội của con người có thể giải thích được ở mức độ nào đó. Hai cuốn sách buộc ta phải đọc đến cuối để nắm được toàn bộ ngữ cảnh, xen giữa những câu chuyện chương hồi, những góc nhìn khác của người trong cuộc (bằng các hình thức như ghi chép, miên thoại với người chết, hay độc thoại nội tâm).

Đã đến lúc cần nhìn lại thực tại văn học, không phải vì đã có thêm nhiều gương mặt văn chương mới, mà là vì nhu cầu của nền văn chương tiếp tục cần nhà nghiên cứu phê bình nhập cuộc hết mình và kể được câu chuyện của họ, dẫu là một câu chuyện nhỏ.

Văn bản văn học và sự bất ổn của nghĩa (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2021 ở hạng mục nghiên cứu phê bình) tập hợp hơn hai mươi tiểu luận của Trương Đăng Dung. Trong hai năm qua có rất nhiều tập sách nghiên cứu phê bình ra đời, trong đó có những cuốn sách chín chắn xen lẫn cả những cuốn sách xuất hiện vội vàng. Đi vào cuốn sách của Trương Đăng Dung, ta có thể thấy bàn tay sắp xếp của người viết sách (và điều này mới xứng đáng làm nên giải thưởng: viết văn học và đọc văn học là gì nếu không phải là những động tác sắp xếp) cẩn trọng đến chừng nàọ Xuyên suốt hai mươi sáu chương, hiển lộ một người đang nhẫn nại làm rõ mồn một những hỗn loạn của lí thuyết: khoa học văn học là gì, đối tượng của nó là gì và có nên nhầm lẫn đối tượng của lí luận văn học với phê bình văn học hay không; chủ thể là gì và tại sao ta phải quan tâm đến cả chủ thể sáng tạo lẫn chủ thể tiếp nhận; văn bản – đối tượng của lí thuyết và tiếp nhận – là gì và không phải là gì, nó có thể chuyển động như thế nào và giới hạn của chúng ta đến đâu khi cố gắng xử lí nó… Tiếp đó, chúng ta đi đến những hệ thống mĩ học khác nhau trước khi bập vào một thế giới văn bản cụ thể: Franz Kafkạ Con đường lớp lang này xoay vòng quanh một trụ cột “sự bất ổn của nghĩa”.

Ba tác phẩm trên đây gặp nhau ở một sự kiện lớn của văn học Việt Nam 2021 phần nào tạo ra một mỏ neo vững chắc cho những hi vọng sắp tới của một nền văn học đang chuyển mình. Trên một tờ báo, sau khi Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2021 được trao, có độc giả nói như thế này: “Rất mừng là thời gian gần đây những giải thưởng cho văn học, cho sách đã ít nhiều tiệm cận giá trị”.

 Đức Anh/VNQĐ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm