TIN TỨC

Tên anh khắc vào đá núi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-10 06:49:28
mail facebook google pos stwis
2027 lượt xem

  CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

QUẾ HÀ

Ngày 2.8.1966, tại Khe Hương, Tân Thuận, Sơn Tân, Quế Sơn... (nay là xã Hiệp Thuận, Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam) một trận bom của địch bất ngờ đánh trúng vào vị trí đóng quân của Bệnh xá 33, Sư đoàn 2 (tiền thân của Đại đội 33 là Đội điều trị 6 từ Hà Nội vào Quân khu 5 tăng cường cho Sư đoàn 2). Tất cả 52 y bác sĩ, hộ lý, nhân viên phục vụ và thương binh đang có mặt trong lán hy sinh.

THẢM KỊCH

Sau khi phục vụ các trận đánh ở Quảng Ngãi, C33 được bổ sung lực lượng và đứng chân ở thôn Tân Thuận, nhận thương binh ở các chiến trường về điều trị. Ban chỉ huy và các thầy thuốc là y, bác sĩ, thương binh phần lớn người Quảng Nam, Quảng Ngãi và các tỉnh phía Nam.

Bệnh xá đứng chân trên một ngọn đồi hẻo lánh, cây cối um tùm, lán trại lợp bằng tranh. Tuy dã chiến nhưng C33 khá quy củ, có sức chứa cả trăm người, bác sĩ Nguyễn Công Vị làm Trạm trưởng, đồng chí Huỳnh Văn Được làm chính trị viên.

Vài tháng sau, tại Bệnh xá 33 có một biến cố kinh hoàng xảy ra. Hôm đó, bước vào ngày làm việc mới, bác sĩ Bệnh xá trưởng Mai Văn Châu nhắc nhở các y sĩ, y tá, hộ lý phát thuốc, chăm sóc vết thương cho thương binh nặng. Anh chị em phục vụ người nào việc ấy, người thì đi kiếm rau, măng rừng để cải thiện bữa ăn cho thương bệnh binh và cán bộ đơn vị, bởi trong thời điểm lúc đó vô cùng khó khăn và gian khổ.  

Khoảng 8 giờ sáng, tất cả cán bộ, y bác sĩ, nhân viên phục vụ và thương binh đang điều trị đã khỏe có mặt tại lán trung tâm bệnh xá để nghe Đại úy Huỳnh Văn Được - Chính trị viên đơn vị phổ biến tài liệu của Đảng. Có tiếng máy bay gầm rú.  Đúng lúc đó, mấy chiếc máy bay của Mỹ vút qua, thủ trưởng Huỳnh Văn Được hô to: “Các đồng chí chú ý, phản lực lên!”. Đại úy Huỳnh Văn Được vừa dứt lời, loạt bom B57 ầm ầm đổ xuống. Một quả nổ phía dốc Dinh cách chỗ họp hơn 200m, một quả nổ gần sát lán tập trung của bệnh xá đang học chính trị.

Dứt tiếng bom nổ, trong khói lửa mịt mù, mọi người trong đơn vị còn sống sót chạy nhanh tới lán thì bàng hoàng thấy cảnh tượng tan hoang, thảm khốc. Cả vạt rừng như bị phát quang, mái lán và căn hầm nửa chìm nửa nổi đã bay đâu mất, một hố bom sâu hoắm, cây rừng phát quang còn bén lửa.

Mọi người sửng sốt, nghẹn ngào chia nhau đi tìm kiếm đồng đội. Nhưng đau đớn tất cả 52 người gồm Bệnh xá trưởng Mai Văn Châu, đại úy - chính trị viên Huỳnh Văn Được, y sĩ trưởng Lê Văn Đức, nhiều y sĩ, y tá, dược tá, hộ lý, nhân viên hậu cần và các thương binh… đang có mặt trong lán đã hy sinh và điều đau đớn hơn nữa là hầu hết không còn nguyên vẹn thân thể. Thi thể chính trị viên - đại úy Huỳnh Văn Được quê Tiền Giang được nhận ra khi chỉ tìm được một bắp đùi, bởi ông là người cao to, vạm vỡ và có nhiều lông chân. Hộ lý Lê Thị Đúng và y tá Nguyễn Thị Bích Hợi cùng quê ở huyện Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), hai chị em đứng cạnh nhau thi thể không còn đầu và thiếu chân, chị Hợi mau mắn còn sống, nhưng bị thương rất nặng…  

Thành viên Ban liên lạc Cựu Quân y Sư đoàn 2, các cựu chiến binh Phan Tấn Măng ở Hiệp Thuận, Nguyễn Thị Ngọc Dậu - nguyên nhân viên dược của Bệnh xá Đại đội 33 hiện sống ở Đà Nẵng, chị Nguyễn Thị Bích Hợi ở Quảng Ngãi, anh Khiếu Tiến quê Thái Bình… và những người còn sống kể lại: “Ngày đó mất mát quá lớn và đau thương! Mọi người chia nhau tìm kiếm, gom nhặt từng mảnh thi thể và mai táng các liệt sĩ trên đồi gần trong khu vực bệnh xá đóng quân. Đồng đội cẩn thận chọn các viên đá to, bằng phẳng, đục, khắc tên các liệt sĩ trên những viên đá, một số tên liệt sĩ được ghi tên, bỏ vào trong lọ penixilin. Nơi an nghỉ của các liệt sĩ được đặt những viên đá bên mộ để làm dấu”.

Được biết, đơn vị C33 Quân y nguyên là Đội điều trị 6 ở miền Bắc do bác sĩ Nguyễn Công Vị là Đội trưởng được bổ sung vào chiến trường Khu 5 từ đầu năm 1965. Vào đến chiến trường, Đội được biên chế thuộc Cục Hậu cần Quân khu 5 kịp thời phục vụ Chiến dịch Ba Gia - Vạn Tường ở chiến trường Quảng Ngãi. Sau khi Sư đoàn 2 được thành lập tại vùng giải phóng Sơn - Cẩm - Hà (huyện Tiên Phước, Quảng Nam), cuối năm 1965, đơn vị đổi phiên hiệu thành C33 và chính thức biên chế cho Sư đoàn 2, Quân khu 5 là đơn vị Quân y của Sư đoàn chủ lực. Sau sự kiện ngày 2.8.1966, sự hy sinh của cán bộ, chiến sĩ C33 đã để lại sự tiếc thương, cảm động trong quần chúng nhân dân, dấy lên lòng căm phẫn quân thù, tạo nên khí thế thi đua lập công của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân huyện Hiệp Đức.      

TRI ÂN

Bia tưởng niệm 55 liệt sĩ Bệnh xá Đại đội 33 Sư đoàn 2 Quân khu 5


Những hòn đá núi khắc tên các liệt sĩ

Sự việc theo năm tháng qua đi cho đến ngày toàn thắng. Các liệt sĩ được địa phương dời về Nghĩa trang Liệt sĩ xã Quế Tân (hồi đó thuộc huyện Quế Sơn), rồi tiếp tục dời về Nghĩa trang Liệt sĩ xã Hiệp Thuận, huyện Hiệp Đức.

Di dời nhiều lần, các thông tin liên quan đến liệt sĩ khi chôn cất cũng như khi di dời do nhiều nguyên nhân không may bị thất lạc, các viên đá khắc tên đánh dấu đã để lại trong núi khi di dời lần thứ nhất. Vì vậy, nhiều liệt sĩ hiện nay tuy có mộ nhưng vô danh, may mắn chỉ có liệt sĩ Huỳnh Văn Được sau này gia đình đã đưa về quê hương Gò Công - Tiền Giang.

Ngày ấy đã trở thành ngày giỗ tập thể của 52 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh. Những đồng đội hôm nay đã làm tất cả những gì có thể để lưu thông tin từng người, mong sau này có cơ hội tìm lại. Nhưng khắc nghiệt của chiến tranh, thay đổi phiên hiệu đơn vị quân đội, chia tách hành chính và thời gian... gần như đã xóa nhòa tất cả.

Theo các cựu chiến binh, hơn 10 năm qua, cứ 2 năm một lần, Ban liên lạc tổ chức gặp mặt ngoài Bắc hoặc trong Nam. Mỗi lần như vậy họ lại tìm và bổ sung thông tin đồng đội đã ngã xuống ở Tân Thuận, nhờ đó 31 liệt sĩ đã được xác định có tên và quê quán. Gồm các liệt sĩ: Huỳnh Văn Được, quê Gò Công, Tiền Giang; Mai Văn Châu, quê Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Bình Dương; Lê Văn Đức, Nguyễn Văn Dể, Đỗ Văn Cường, Lê Văn Minh, Trần Công Xuất và Nguyễn Văn Quảng quê Thái Bình; Lê Văn Dưỡng, Nguyễn Văn Tơ, Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Thanh Miễn, Nguyễn Văn Sâm quê Hà Tây cũ (nay là Thủ đô Hà Nội), trong đó là 2 liệt sĩ là thương binh Nguyễn Văn Tơ, Nguyễn Văn Thuận, đơn vị E31; Nông Đức Mần và Nông Đức Huân (Cao Bằng); 2 liệt sĩ là thương binh ở đơn vị E21 là Ngô Chương và Vũ Thương ở Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh); Trần Văn Hiệu quê Nam Định, Trần Văn Minh quê Vĩnh Phúc và liệt sĩ tên Sơn quê Nghệ An. Ở huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi có 7 liệt sĩ: Lê Thị Vân, Nguyễn Thị Lê, Lê Thị Nẵng, Nguyễn Thị Đền, Lê Thị Đúng, Trần Thị Vân, Nguyễn Thị Tý; 4 liệt sĩ ở Quảng Nam (Võ Thị Sáu, Đỗ Thị Phấn, Nguyễn Văn Minh, Đỗ Thị Hai)...    

Trăn trở trước những mất mát hy sinh của đồng đội, các cựu chiến binh, cựu quân nhân, chính quyền, người dân địa phương đều mong có một bia tưởng niệm và ghi danh liệt sĩ ở Khe Hương - Hiệp Thuận. Cựu chiến binh Trần Thanh Hạ - Trưởng Ban Liên lạc cựu chiến binh Sư đoàn 2 (Quân khu 5), nguyên Phó Phòng Dân vận, Cục Chính trị Quân khu 5, nguyên Chủ nhiệm Quân y Sư đoàn 2 là người đau đáu với đồng đội đã hy sinh ngày 2.8.1966, dù thời điểm ấy, ông không có mặt. Vợ ông cũng là cựu chiến binh luôn động viên chồng, cùng với các đồng đội để chắp nối thông tin, liên lạc các nhân chứng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thái Bình, Nam Định, thành phố Hồ Chí Minh...

Và điều đặc biệt, con trai liệt sĩ - bác sĩ Mai Văn Châu từ thành phố Hồ Chí Minh và người con của đại úy - liệt sĩ Huỳnh Văn Được từ Thủ đô Hà Nội…  nhiều lần tìm về nơi cha mình hy sinh để viếng hương cha cùng đồng đội đã ngã xuống anh dũng trên mảnh đất này.

 Cựu chiến binh Trần Thanh Hạ cùng nhân chứng và đồng đội tuổi đã ngoài 70, sức khỏe suy giảm, thương tật bủa vây, chủ yếu sống bằng đồng lương hưu nhưng đã có trách nhiệm với đồng đội để làm làm sống lại một sự kiện bi tráng. Ông cùng Ban Liên lạc viết thư ngỏ gửi hơn 80 đơn vị và cá nhân ở khắp các miền Tổ quốc. Năm 2020, với sự vào cuộc của Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ Tư lệnh Quân khu 5, UBND tỉnh Quảng Nam, huyện Hiệp Đức… cùng các cựu chiến binh, cựu quân nhân sẵn sàng đóng góp, cùng với Ban Liên lạc… tổng số tiền các địa phương, đơn vị và cựu quân nhân Sư đoàn 2 ủng hộ xây dựng bia lên đến 400 triệu đồng.

Hội Cựu chiến binh xã Hiệp Thuận coi việc xây dựng Bia tưởng niệm của Sư đoàn 2 là nhiệm vụ chính trị quan trọng. Ông Đặng Đông, một người dân của xã tự nguyện hiến đất, chặt hết vườn keo gia đình rộng 300m2, ngay dưới chân đồi Khe Hương để xây dựng bia tưởng niệm.

Cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Nam được Ban Liên lạc tín nhiệm giao trọng trách thiết kế và trực tiếp thi công xây dựng công trình. Ông xác định, đây là công trình có ý nghĩa nhân văn đặc biệt, thể hiện đạo lý đền ơn đáp nghĩa, kinh phí xây dựng do tự nguyện đóng góp là chính, không đơn thuần là công trình để làm kinh tế. Vì vậy, cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Nam dành hết sức lực, tâm huyết thiết kế và thi công sao cho phù hợp với nguồn lực đầu tư, đảm bảo các yêu cầu bền vững về kết cấu, đẹp về mỹ thuật, phù hợp với tâm linh của người Việt Nam.

Sau hơn 2 tháng thi công liên tục, với sự đồng hành của chính quyền địa phương và các cựu chiến binh, ngày 26.7.2020, công trình mang tên “Bia tưởng niệm 52 liệt sĩ là các y bác sĩ, cán bộ chiến sĩ, thương binh...  đang điều trị tại Bệnh xá Đại đội 33, Sư đoàn 2, Quân khu 5 hy sinh ngày 2.8.1966” được khánh thành. Công trình gồm một nhà bia uy nghi và bia tưởng niệm ghi danh 52 liệt sĩ và 2 phần mộ tập thể mang tính biểu trưng ngay sau bia di tích. Tên tuổi các liệt sĩ ở phần mộ được khắc vào những phiến đá núi nhỏ được tìm kiếm và thu nhặt tại nơi các anh, chị hy sinh. Còn các hạng mục như phế tích hố bom, hầm phẫu, giếng nước, bếp Hoàng Cầm đã được xác định quy hoạch để có cơ sở sau này phục chế…

Từ năm 2020, theo quy định của Ban Liên lạc và thống nhất chung với Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân xã Hiệp Thuận đã chọn ngày 2.8 hằng năm là ngày “GIỖ TRẬN”. Ngày đó, Ban Liên lạc C33 trong toàn quốc và địa phương cùng dâng hương Tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh tại Bia tưởng niệm ở Khe Hương. 

Vĩ thanh:

Một điều không may nữa, toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của 52 liệt sĩ bị trận bom đó đều bị cháy thành tro, nên chỉ có một số thông tin đầy đủ của cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị C33 Quân y quản lý. Và xác định được họ, tên có năm sinh, quê quán và đơn vị là 31 liệt sĩ. Còn 21 liệt sĩ chủ yếu các thương binh từ các đơn vị về điều trị tại bệnh xá chưa xác định được thông tin, tên tuổi, bản quán, đơn vị.

Các cựu chiến binh tha thiết kêu gọi và tiếp nhận thông tin liên quan các liệt sĩ ở Bệnh xá dã chiến Đại đội 33, Sư đoàn 2 đóng tại Khe Hương, Tân Thuận, Hiệp Thuận, Quảng Nam để hành trình trả lại tên cho 21 liệt sĩ còn lại thôi gập ghềnh...

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hà Nội và nỗi niềm hoa sữa – Tản văn Đào Thị Thu Hiền
Nhớ đến những mùa hoa Hà Nội, những người yêu mảnh đất này không thể không nhắc đến mùa hoa sữa. Đó là một mùa hoa nhưng cũng có thể gọi về cả mùa thơ, mùa nhạc khiến cho đất trời thủ đô khoảnh khắc cuối thu chầm chậm sang đông bỗng trở nên rạo rực, thao thức, nồng nàn với những vấn vương bởi cái hương thơm ngọt ngào, đằm sâu, quyến rũ đang dịu dàng gửi vào trong gió. Mùi hương ấy làm cho bao bước chân qua không khỏi ngập ngừng như thể đang bị níu lại. Có lẽ vì thế mà loài hoa này, từ lâu, đã được xem là tình yêu và nỗi nhớ của người Hà Nội.
Xem thêm
Kiến nghị lấy ngày 27/7 làm ngày Quốc giỗ
Tôi quan niệm rằng sự hy sinh của những người con đất Việt không bị giới hạn bởi một thời đại, một cuộc chiến tranh hay một thế hệ. Tất cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do và sự trường tồn của đất nước đều xứng đáng được các thế hệ hôm nay và mai sau tưởng nhớ. Bởi vậy, khi bàn về Ngày Quốc giỗ, cần phân biệt rõ giữa việc lựa chọn một ngày tưởng niệm chung và việc bảo đảm sự tri ân đối với từng đối tượng, từng giai đoạn lịch sử. Hai việc này không nhất thiết loại trừ nhau.
Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm