TIN TỨC

Tên anh khắc vào đá núi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-10 06:49:28
mail facebook google pos stwis
1657 lượt xem

  CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

QUẾ HÀ

Ngày 2.8.1966, tại Khe Hương, Tân Thuận, Sơn Tân, Quế Sơn... (nay là xã Hiệp Thuận, Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam) một trận bom của địch bất ngờ đánh trúng vào vị trí đóng quân của Bệnh xá 33, Sư đoàn 2 (tiền thân của Đại đội 33 là Đội điều trị 6 từ Hà Nội vào Quân khu 5 tăng cường cho Sư đoàn 2). Tất cả 52 y bác sĩ, hộ lý, nhân viên phục vụ và thương binh đang có mặt trong lán hy sinh.

THẢM KỊCH

Sau khi phục vụ các trận đánh ở Quảng Ngãi, C33 được bổ sung lực lượng và đứng chân ở thôn Tân Thuận, nhận thương binh ở các chiến trường về điều trị. Ban chỉ huy và các thầy thuốc là y, bác sĩ, thương binh phần lớn người Quảng Nam, Quảng Ngãi và các tỉnh phía Nam.

Bệnh xá đứng chân trên một ngọn đồi hẻo lánh, cây cối um tùm, lán trại lợp bằng tranh. Tuy dã chiến nhưng C33 khá quy củ, có sức chứa cả trăm người, bác sĩ Nguyễn Công Vị làm Trạm trưởng, đồng chí Huỳnh Văn Được làm chính trị viên.

Vài tháng sau, tại Bệnh xá 33 có một biến cố kinh hoàng xảy ra. Hôm đó, bước vào ngày làm việc mới, bác sĩ Bệnh xá trưởng Mai Văn Châu nhắc nhở các y sĩ, y tá, hộ lý phát thuốc, chăm sóc vết thương cho thương binh nặng. Anh chị em phục vụ người nào việc ấy, người thì đi kiếm rau, măng rừng để cải thiện bữa ăn cho thương bệnh binh và cán bộ đơn vị, bởi trong thời điểm lúc đó vô cùng khó khăn và gian khổ.  

Khoảng 8 giờ sáng, tất cả cán bộ, y bác sĩ, nhân viên phục vụ và thương binh đang điều trị đã khỏe có mặt tại lán trung tâm bệnh xá để nghe Đại úy Huỳnh Văn Được - Chính trị viên đơn vị phổ biến tài liệu của Đảng. Có tiếng máy bay gầm rú.  Đúng lúc đó, mấy chiếc máy bay của Mỹ vút qua, thủ trưởng Huỳnh Văn Được hô to: “Các đồng chí chú ý, phản lực lên!”. Đại úy Huỳnh Văn Được vừa dứt lời, loạt bom B57 ầm ầm đổ xuống. Một quả nổ phía dốc Dinh cách chỗ họp hơn 200m, một quả nổ gần sát lán tập trung của bệnh xá đang học chính trị.

Dứt tiếng bom nổ, trong khói lửa mịt mù, mọi người trong đơn vị còn sống sót chạy nhanh tới lán thì bàng hoàng thấy cảnh tượng tan hoang, thảm khốc. Cả vạt rừng như bị phát quang, mái lán và căn hầm nửa chìm nửa nổi đã bay đâu mất, một hố bom sâu hoắm, cây rừng phát quang còn bén lửa.

Mọi người sửng sốt, nghẹn ngào chia nhau đi tìm kiếm đồng đội. Nhưng đau đớn tất cả 52 người gồm Bệnh xá trưởng Mai Văn Châu, đại úy - chính trị viên Huỳnh Văn Được, y sĩ trưởng Lê Văn Đức, nhiều y sĩ, y tá, dược tá, hộ lý, nhân viên hậu cần và các thương binh… đang có mặt trong lán đã hy sinh và điều đau đớn hơn nữa là hầu hết không còn nguyên vẹn thân thể. Thi thể chính trị viên - đại úy Huỳnh Văn Được quê Tiền Giang được nhận ra khi chỉ tìm được một bắp đùi, bởi ông là người cao to, vạm vỡ và có nhiều lông chân. Hộ lý Lê Thị Đúng và y tá Nguyễn Thị Bích Hợi cùng quê ở huyện Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), hai chị em đứng cạnh nhau thi thể không còn đầu và thiếu chân, chị Hợi mau mắn còn sống, nhưng bị thương rất nặng…  

Thành viên Ban liên lạc Cựu Quân y Sư đoàn 2, các cựu chiến binh Phan Tấn Măng ở Hiệp Thuận, Nguyễn Thị Ngọc Dậu - nguyên nhân viên dược của Bệnh xá Đại đội 33 hiện sống ở Đà Nẵng, chị Nguyễn Thị Bích Hợi ở Quảng Ngãi, anh Khiếu Tiến quê Thái Bình… và những người còn sống kể lại: “Ngày đó mất mát quá lớn và đau thương! Mọi người chia nhau tìm kiếm, gom nhặt từng mảnh thi thể và mai táng các liệt sĩ trên đồi gần trong khu vực bệnh xá đóng quân. Đồng đội cẩn thận chọn các viên đá to, bằng phẳng, đục, khắc tên các liệt sĩ trên những viên đá, một số tên liệt sĩ được ghi tên, bỏ vào trong lọ penixilin. Nơi an nghỉ của các liệt sĩ được đặt những viên đá bên mộ để làm dấu”.

Được biết, đơn vị C33 Quân y nguyên là Đội điều trị 6 ở miền Bắc do bác sĩ Nguyễn Công Vị là Đội trưởng được bổ sung vào chiến trường Khu 5 từ đầu năm 1965. Vào đến chiến trường, Đội được biên chế thuộc Cục Hậu cần Quân khu 5 kịp thời phục vụ Chiến dịch Ba Gia - Vạn Tường ở chiến trường Quảng Ngãi. Sau khi Sư đoàn 2 được thành lập tại vùng giải phóng Sơn - Cẩm - Hà (huyện Tiên Phước, Quảng Nam), cuối năm 1965, đơn vị đổi phiên hiệu thành C33 và chính thức biên chế cho Sư đoàn 2, Quân khu 5 là đơn vị Quân y của Sư đoàn chủ lực. Sau sự kiện ngày 2.8.1966, sự hy sinh của cán bộ, chiến sĩ C33 đã để lại sự tiếc thương, cảm động trong quần chúng nhân dân, dấy lên lòng căm phẫn quân thù, tạo nên khí thế thi đua lập công của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân huyện Hiệp Đức.      

TRI ÂN

Bia tưởng niệm 55 liệt sĩ Bệnh xá Đại đội 33 Sư đoàn 2 Quân khu 5


Những hòn đá núi khắc tên các liệt sĩ

Sự việc theo năm tháng qua đi cho đến ngày toàn thắng. Các liệt sĩ được địa phương dời về Nghĩa trang Liệt sĩ xã Quế Tân (hồi đó thuộc huyện Quế Sơn), rồi tiếp tục dời về Nghĩa trang Liệt sĩ xã Hiệp Thuận, huyện Hiệp Đức.

Di dời nhiều lần, các thông tin liên quan đến liệt sĩ khi chôn cất cũng như khi di dời do nhiều nguyên nhân không may bị thất lạc, các viên đá khắc tên đánh dấu đã để lại trong núi khi di dời lần thứ nhất. Vì vậy, nhiều liệt sĩ hiện nay tuy có mộ nhưng vô danh, may mắn chỉ có liệt sĩ Huỳnh Văn Được sau này gia đình đã đưa về quê hương Gò Công - Tiền Giang.

Ngày ấy đã trở thành ngày giỗ tập thể của 52 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh. Những đồng đội hôm nay đã làm tất cả những gì có thể để lưu thông tin từng người, mong sau này có cơ hội tìm lại. Nhưng khắc nghiệt của chiến tranh, thay đổi phiên hiệu đơn vị quân đội, chia tách hành chính và thời gian... gần như đã xóa nhòa tất cả.

Theo các cựu chiến binh, hơn 10 năm qua, cứ 2 năm một lần, Ban liên lạc tổ chức gặp mặt ngoài Bắc hoặc trong Nam. Mỗi lần như vậy họ lại tìm và bổ sung thông tin đồng đội đã ngã xuống ở Tân Thuận, nhờ đó 31 liệt sĩ đã được xác định có tên và quê quán. Gồm các liệt sĩ: Huỳnh Văn Được, quê Gò Công, Tiền Giang; Mai Văn Châu, quê Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Bình Dương; Lê Văn Đức, Nguyễn Văn Dể, Đỗ Văn Cường, Lê Văn Minh, Trần Công Xuất và Nguyễn Văn Quảng quê Thái Bình; Lê Văn Dưỡng, Nguyễn Văn Tơ, Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Thanh Miễn, Nguyễn Văn Sâm quê Hà Tây cũ (nay là Thủ đô Hà Nội), trong đó là 2 liệt sĩ là thương binh Nguyễn Văn Tơ, Nguyễn Văn Thuận, đơn vị E31; Nông Đức Mần và Nông Đức Huân (Cao Bằng); 2 liệt sĩ là thương binh ở đơn vị E21 là Ngô Chương và Vũ Thương ở Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh); Trần Văn Hiệu quê Nam Định, Trần Văn Minh quê Vĩnh Phúc và liệt sĩ tên Sơn quê Nghệ An. Ở huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi có 7 liệt sĩ: Lê Thị Vân, Nguyễn Thị Lê, Lê Thị Nẵng, Nguyễn Thị Đền, Lê Thị Đúng, Trần Thị Vân, Nguyễn Thị Tý; 4 liệt sĩ ở Quảng Nam (Võ Thị Sáu, Đỗ Thị Phấn, Nguyễn Văn Minh, Đỗ Thị Hai)...    

Trăn trở trước những mất mát hy sinh của đồng đội, các cựu chiến binh, cựu quân nhân, chính quyền, người dân địa phương đều mong có một bia tưởng niệm và ghi danh liệt sĩ ở Khe Hương - Hiệp Thuận. Cựu chiến binh Trần Thanh Hạ - Trưởng Ban Liên lạc cựu chiến binh Sư đoàn 2 (Quân khu 5), nguyên Phó Phòng Dân vận, Cục Chính trị Quân khu 5, nguyên Chủ nhiệm Quân y Sư đoàn 2 là người đau đáu với đồng đội đã hy sinh ngày 2.8.1966, dù thời điểm ấy, ông không có mặt. Vợ ông cũng là cựu chiến binh luôn động viên chồng, cùng với các đồng đội để chắp nối thông tin, liên lạc các nhân chứng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thái Bình, Nam Định, thành phố Hồ Chí Minh...

Và điều đặc biệt, con trai liệt sĩ - bác sĩ Mai Văn Châu từ thành phố Hồ Chí Minh và người con của đại úy - liệt sĩ Huỳnh Văn Được từ Thủ đô Hà Nội…  nhiều lần tìm về nơi cha mình hy sinh để viếng hương cha cùng đồng đội đã ngã xuống anh dũng trên mảnh đất này.

 Cựu chiến binh Trần Thanh Hạ cùng nhân chứng và đồng đội tuổi đã ngoài 70, sức khỏe suy giảm, thương tật bủa vây, chủ yếu sống bằng đồng lương hưu nhưng đã có trách nhiệm với đồng đội để làm làm sống lại một sự kiện bi tráng. Ông cùng Ban Liên lạc viết thư ngỏ gửi hơn 80 đơn vị và cá nhân ở khắp các miền Tổ quốc. Năm 2020, với sự vào cuộc của Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ Tư lệnh Quân khu 5, UBND tỉnh Quảng Nam, huyện Hiệp Đức… cùng các cựu chiến binh, cựu quân nhân sẵn sàng đóng góp, cùng với Ban Liên lạc… tổng số tiền các địa phương, đơn vị và cựu quân nhân Sư đoàn 2 ủng hộ xây dựng bia lên đến 400 triệu đồng.

Hội Cựu chiến binh xã Hiệp Thuận coi việc xây dựng Bia tưởng niệm của Sư đoàn 2 là nhiệm vụ chính trị quan trọng. Ông Đặng Đông, một người dân của xã tự nguyện hiến đất, chặt hết vườn keo gia đình rộng 300m2, ngay dưới chân đồi Khe Hương để xây dựng bia tưởng niệm.

Cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Nam được Ban Liên lạc tín nhiệm giao trọng trách thiết kế và trực tiếp thi công xây dựng công trình. Ông xác định, đây là công trình có ý nghĩa nhân văn đặc biệt, thể hiện đạo lý đền ơn đáp nghĩa, kinh phí xây dựng do tự nguyện đóng góp là chính, không đơn thuần là công trình để làm kinh tế. Vì vậy, cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Nam dành hết sức lực, tâm huyết thiết kế và thi công sao cho phù hợp với nguồn lực đầu tư, đảm bảo các yêu cầu bền vững về kết cấu, đẹp về mỹ thuật, phù hợp với tâm linh của người Việt Nam.

Sau hơn 2 tháng thi công liên tục, với sự đồng hành của chính quyền địa phương và các cựu chiến binh, ngày 26.7.2020, công trình mang tên “Bia tưởng niệm 52 liệt sĩ là các y bác sĩ, cán bộ chiến sĩ, thương binh...  đang điều trị tại Bệnh xá Đại đội 33, Sư đoàn 2, Quân khu 5 hy sinh ngày 2.8.1966” được khánh thành. Công trình gồm một nhà bia uy nghi và bia tưởng niệm ghi danh 52 liệt sĩ và 2 phần mộ tập thể mang tính biểu trưng ngay sau bia di tích. Tên tuổi các liệt sĩ ở phần mộ được khắc vào những phiến đá núi nhỏ được tìm kiếm và thu nhặt tại nơi các anh, chị hy sinh. Còn các hạng mục như phế tích hố bom, hầm phẫu, giếng nước, bếp Hoàng Cầm đã được xác định quy hoạch để có cơ sở sau này phục chế…

Từ năm 2020, theo quy định của Ban Liên lạc và thống nhất chung với Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân xã Hiệp Thuận đã chọn ngày 2.8 hằng năm là ngày “GIỖ TRẬN”. Ngày đó, Ban Liên lạc C33 trong toàn quốc và địa phương cùng dâng hương Tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh tại Bia tưởng niệm ở Khe Hương. 

Vĩ thanh:

Một điều không may nữa, toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của 52 liệt sĩ bị trận bom đó đều bị cháy thành tro, nên chỉ có một số thông tin đầy đủ của cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị C33 Quân y quản lý. Và xác định được họ, tên có năm sinh, quê quán và đơn vị là 31 liệt sĩ. Còn 21 liệt sĩ chủ yếu các thương binh từ các đơn vị về điều trị tại bệnh xá chưa xác định được thông tin, tên tuổi, bản quán, đơn vị.

Các cựu chiến binh tha thiết kêu gọi và tiếp nhận thông tin liên quan các liệt sĩ ở Bệnh xá dã chiến Đại đội 33, Sư đoàn 2 đóng tại Khe Hương, Tân Thuận, Hiệp Thuận, Quảng Nam để hành trình trả lại tên cho 21 liệt sĩ còn lại thôi gập ghềnh...

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm