TIN TỨC

Tên anh khắc vào đá núi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-10 06:50:09
mail facebook google pos stwis
755 lượt xem

  CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

QUẾ HÀ

Ngày 2.8.1966, tại Khe Hương, Tân Thuận, Sơn Tân, Quế Sơn... (nay là xã Hiệp Thuận, Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam) một trận bom của địch bất ngờ đánh trúng vào vị trí đóng quân của Bệnh xá 33, Sư đoàn 2 (tiền thân của Đại đội 33 là Đội điều trị 6 từ Hà Nội vào Quân khu 5 tăng cường cho Sư đoàn 2). Tất cả 52 y bác sĩ, hộ lý, nhân viên phục vụ và thương binh đang có mặt trong lán hy sinh.

THẢM KỊCH

Sau khi phục vụ các trận đánh ở Quảng Ngãi, C33 được bổ sung lực lượng và đứng chân ở thôn Tân Thuận, nhận thương binh ở các chiến trường về điều trị. Ban chỉ huy và các thầy thuốc là y, bác sĩ, thương binh phần lớn người Quảng Nam, Quảng Ngãi và các tỉnh phía Nam.

Bệnh xá đứng chân trên một ngọn đồi hẻo lánh, cây cối um tùm, lán trại lợp bằng tranh. Tuy dã chiến nhưng C33 khá quy củ, có sức chứa cả trăm người, bác sĩ Nguyễn Công Vị làm Trạm trưởng, đồng chí Huỳnh Văn Được làm chính trị viên.

Vài tháng sau, tại Bệnh xá 33 có một biến cố kinh hoàng xảy ra. Hôm đó, bước vào ngày làm việc mới, bác sĩ Bệnh xá trưởng Mai Văn Châu nhắc nhở các y sĩ, y tá, hộ lý phát thuốc, chăm sóc vết thương cho thương binh nặng. Anh chị em phục vụ người nào việc ấy, người thì đi kiếm rau, măng rừng để cải thiện bữa ăn cho thương bệnh binh và cán bộ đơn vị, bởi trong thời điểm lúc đó vô cùng khó khăn và gian khổ.  

Khoảng 8 giờ sáng, tất cả cán bộ, y bác sĩ, nhân viên phục vụ và thương binh đang điều trị đã khỏe có mặt tại lán trung tâm bệnh xá để nghe Đại úy Huỳnh Văn Được - Chính trị viên đơn vị phổ biến tài liệu của Đảng. Có tiếng máy bay gầm rú.  Đúng lúc đó, mấy chiếc máy bay của Mỹ vút qua, thủ trưởng Huỳnh Văn Được hô to: “Các đồng chí chú ý, phản lực lên!”. Đại úy Huỳnh Văn Được vừa dứt lời, loạt bom B57 ầm ầm đổ xuống. Một quả nổ phía dốc Dinh cách chỗ họp hơn 200m, một quả nổ gần sát lán tập trung của bệnh xá đang học chính trị.

Dứt tiếng bom nổ, trong khói lửa mịt mù, mọi người trong đơn vị còn sống sót chạy nhanh tới lán thì bàng hoàng thấy cảnh tượng tan hoang, thảm khốc. Cả vạt rừng như bị phát quang, mái lán và căn hầm nửa chìm nửa nổi đã bay đâu mất, một hố bom sâu hoắm, cây rừng phát quang còn bén lửa.

Mọi người sửng sốt, nghẹn ngào chia nhau đi tìm kiếm đồng đội. Nhưng đau đớn tất cả 52 người gồm Bệnh xá trưởng Mai Văn Châu, đại úy - chính trị viên Huỳnh Văn Được, y sĩ trưởng Lê Văn Đức, nhiều y sĩ, y tá, dược tá, hộ lý, nhân viên hậu cần và các thương binh… đang có mặt trong lán đã hy sinh và điều đau đớn hơn nữa là hầu hết không còn nguyên vẹn thân thể. Thi thể chính trị viên - đại úy Huỳnh Văn Được quê Tiền Giang được nhận ra khi chỉ tìm được một bắp đùi, bởi ông là người cao to, vạm vỡ và có nhiều lông chân. Hộ lý Lê Thị Đúng và y tá Nguyễn Thị Bích Hợi cùng quê ở huyện Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), hai chị em đứng cạnh nhau thi thể không còn đầu và thiếu chân, chị Hợi mau mắn còn sống, nhưng bị thương rất nặng…  

Thành viên Ban liên lạc Cựu Quân y Sư đoàn 2, các cựu chiến binh Phan Tấn Măng ở Hiệp Thuận, Nguyễn Thị Ngọc Dậu - nguyên nhân viên dược của Bệnh xá Đại đội 33 hiện sống ở Đà Nẵng, chị Nguyễn Thị Bích Hợi ở Quảng Ngãi, anh Khiếu Tiến quê Thái Bình… và những người còn sống kể lại: “Ngày đó mất mát quá lớn và đau thương! Mọi người chia nhau tìm kiếm, gom nhặt từng mảnh thi thể và mai táng các liệt sĩ trên đồi gần trong khu vực bệnh xá đóng quân. Đồng đội cẩn thận chọn các viên đá to, bằng phẳng, đục, khắc tên các liệt sĩ trên những viên đá, một số tên liệt sĩ được ghi tên, bỏ vào trong lọ penixilin. Nơi an nghỉ của các liệt sĩ được đặt những viên đá bên mộ để làm dấu”.

Được biết, đơn vị C33 Quân y nguyên là Đội điều trị 6 ở miền Bắc do bác sĩ Nguyễn Công Vị là Đội trưởng được bổ sung vào chiến trường Khu 5 từ đầu năm 1965. Vào đến chiến trường, Đội được biên chế thuộc Cục Hậu cần Quân khu 5 kịp thời phục vụ Chiến dịch Ba Gia - Vạn Tường ở chiến trường Quảng Ngãi. Sau khi Sư đoàn 2 được thành lập tại vùng giải phóng Sơn - Cẩm - Hà (huyện Tiên Phước, Quảng Nam), cuối năm 1965, đơn vị đổi phiên hiệu thành C33 và chính thức biên chế cho Sư đoàn 2, Quân khu 5 là đơn vị Quân y của Sư đoàn chủ lực. Sau sự kiện ngày 2.8.1966, sự hy sinh của cán bộ, chiến sĩ C33 đã để lại sự tiếc thương, cảm động trong quần chúng nhân dân, dấy lên lòng căm phẫn quân thù, tạo nên khí thế thi đua lập công của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân huyện Hiệp Đức.      

TRI ÂN

Bia tưởng niệm 55 liệt sĩ Bệnh xá Đại đội 33 Sư đoàn 2 Quân khu 5


Những hòn đá núi khắc tên các liệt sĩ

Sự việc theo năm tháng qua đi cho đến ngày toàn thắng. Các liệt sĩ được địa phương dời về Nghĩa trang Liệt sĩ xã Quế Tân (hồi đó thuộc huyện Quế Sơn), rồi tiếp tục dời về Nghĩa trang Liệt sĩ xã Hiệp Thuận, huyện Hiệp Đức.

Di dời nhiều lần, các thông tin liên quan đến liệt sĩ khi chôn cất cũng như khi di dời do nhiều nguyên nhân không may bị thất lạc, các viên đá khắc tên đánh dấu đã để lại trong núi khi di dời lần thứ nhất. Vì vậy, nhiều liệt sĩ hiện nay tuy có mộ nhưng vô danh, may mắn chỉ có liệt sĩ Huỳnh Văn Được sau này gia đình đã đưa về quê hương Gò Công - Tiền Giang.

Ngày ấy đã trở thành ngày giỗ tập thể của 52 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh. Những đồng đội hôm nay đã làm tất cả những gì có thể để lưu thông tin từng người, mong sau này có cơ hội tìm lại. Nhưng khắc nghiệt của chiến tranh, thay đổi phiên hiệu đơn vị quân đội, chia tách hành chính và thời gian... gần như đã xóa nhòa tất cả.

Theo các cựu chiến binh, hơn 10 năm qua, cứ 2 năm một lần, Ban liên lạc tổ chức gặp mặt ngoài Bắc hoặc trong Nam. Mỗi lần như vậy họ lại tìm và bổ sung thông tin đồng đội đã ngã xuống ở Tân Thuận, nhờ đó 31 liệt sĩ đã được xác định có tên và quê quán. Gồm các liệt sĩ: Huỳnh Văn Được, quê Gò Công, Tiền Giang; Mai Văn Châu, quê Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Bình Dương; Lê Văn Đức, Nguyễn Văn Dể, Đỗ Văn Cường, Lê Văn Minh, Trần Công Xuất và Nguyễn Văn Quảng quê Thái Bình; Lê Văn Dưỡng, Nguyễn Văn Tơ, Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Thanh Miễn, Nguyễn Văn Sâm quê Hà Tây cũ (nay là Thủ đô Hà Nội), trong đó là 2 liệt sĩ là thương binh Nguyễn Văn Tơ, Nguyễn Văn Thuận, đơn vị E31; Nông Đức Mần và Nông Đức Huân (Cao Bằng); 2 liệt sĩ là thương binh ở đơn vị E21 là Ngô Chương và Vũ Thương ở Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh); Trần Văn Hiệu quê Nam Định, Trần Văn Minh quê Vĩnh Phúc và liệt sĩ tên Sơn quê Nghệ An. Ở huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi có 7 liệt sĩ: Lê Thị Vân, Nguyễn Thị Lê, Lê Thị Nẵng, Nguyễn Thị Đền, Lê Thị Đúng, Trần Thị Vân, Nguyễn Thị Tý; 4 liệt sĩ ở Quảng Nam (Võ Thị Sáu, Đỗ Thị Phấn, Nguyễn Văn Minh, Đỗ Thị Hai)...    

Trăn trở trước những mất mát hy sinh của đồng đội, các cựu chiến binh, cựu quân nhân, chính quyền, người dân địa phương đều mong có một bia tưởng niệm và ghi danh liệt sĩ ở Khe Hương - Hiệp Thuận. Cựu chiến binh Trần Thanh Hạ - Trưởng Ban Liên lạc cựu chiến binh Sư đoàn 2 (Quân khu 5), nguyên Phó Phòng Dân vận, Cục Chính trị Quân khu 5, nguyên Chủ nhiệm Quân y Sư đoàn 2 là người đau đáu với đồng đội đã hy sinh ngày 2.8.1966, dù thời điểm ấy, ông không có mặt. Vợ ông cũng là cựu chiến binh luôn động viên chồng, cùng với các đồng đội để chắp nối thông tin, liên lạc các nhân chứng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thái Bình, Nam Định, thành phố Hồ Chí Minh...

Và điều đặc biệt, con trai liệt sĩ - bác sĩ Mai Văn Châu từ thành phố Hồ Chí Minh và người con của đại úy - liệt sĩ Huỳnh Văn Được từ Thủ đô Hà Nội…  nhiều lần tìm về nơi cha mình hy sinh để viếng hương cha cùng đồng đội đã ngã xuống anh dũng trên mảnh đất này.

 Cựu chiến binh Trần Thanh Hạ cùng nhân chứng và đồng đội tuổi đã ngoài 70, sức khỏe suy giảm, thương tật bủa vây, chủ yếu sống bằng đồng lương hưu nhưng đã có trách nhiệm với đồng đội để làm làm sống lại một sự kiện bi tráng. Ông cùng Ban Liên lạc viết thư ngỏ gửi hơn 80 đơn vị và cá nhân ở khắp các miền Tổ quốc. Năm 2020, với sự vào cuộc của Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ Tư lệnh Quân khu 5, UBND tỉnh Quảng Nam, huyện Hiệp Đức… cùng các cựu chiến binh, cựu quân nhân sẵn sàng đóng góp, cùng với Ban Liên lạc… tổng số tiền các địa phương, đơn vị và cựu quân nhân Sư đoàn 2 ủng hộ xây dựng bia lên đến 400 triệu đồng.

Hội Cựu chiến binh xã Hiệp Thuận coi việc xây dựng Bia tưởng niệm của Sư đoàn 2 là nhiệm vụ chính trị quan trọng. Ông Đặng Đông, một người dân của xã tự nguyện hiến đất, chặt hết vườn keo gia đình rộng 300m2, ngay dưới chân đồi Khe Hương để xây dựng bia tưởng niệm.

Cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Nam được Ban Liên lạc tín nhiệm giao trọng trách thiết kế và trực tiếp thi công xây dựng công trình. Ông xác định, đây là công trình có ý nghĩa nhân văn đặc biệt, thể hiện đạo lý đền ơn đáp nghĩa, kinh phí xây dựng do tự nguyện đóng góp là chính, không đơn thuần là công trình để làm kinh tế. Vì vậy, cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Nam dành hết sức lực, tâm huyết thiết kế và thi công sao cho phù hợp với nguồn lực đầu tư, đảm bảo các yêu cầu bền vững về kết cấu, đẹp về mỹ thuật, phù hợp với tâm linh của người Việt Nam.

Sau hơn 2 tháng thi công liên tục, với sự đồng hành của chính quyền địa phương và các cựu chiến binh, ngày 26.7.2020, công trình mang tên “Bia tưởng niệm 52 liệt sĩ là các y bác sĩ, cán bộ chiến sĩ, thương binh...  đang điều trị tại Bệnh xá Đại đội 33, Sư đoàn 2, Quân khu 5 hy sinh ngày 2.8.1966” được khánh thành. Công trình gồm một nhà bia uy nghi và bia tưởng niệm ghi danh 52 liệt sĩ và 2 phần mộ tập thể mang tính biểu trưng ngay sau bia di tích. Tên tuổi các liệt sĩ ở phần mộ được khắc vào những phiến đá núi nhỏ được tìm kiếm và thu nhặt tại nơi các anh, chị hy sinh. Còn các hạng mục như phế tích hố bom, hầm phẫu, giếng nước, bếp Hoàng Cầm đã được xác định quy hoạch để có cơ sở sau này phục chế…

Từ năm 2020, theo quy định của Ban Liên lạc và thống nhất chung với Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân xã Hiệp Thuận đã chọn ngày 2.8 hằng năm là ngày “GIỖ TRẬN”. Ngày đó, Ban Liên lạc C33 trong toàn quốc và địa phương cùng dâng hương Tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh tại Bia tưởng niệm ở Khe Hương. 

Vĩ thanh:

Một điều không may nữa, toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của 52 liệt sĩ bị trận bom đó đều bị cháy thành tro, nên chỉ có một số thông tin đầy đủ của cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị C33 Quân y quản lý. Và xác định được họ, tên có năm sinh, quê quán và đơn vị là 31 liệt sĩ. Còn 21 liệt sĩ chủ yếu các thương binh từ các đơn vị về điều trị tại bệnh xá chưa xác định được thông tin, tên tuổi, bản quán, đơn vị.

Các cựu chiến binh tha thiết kêu gọi và tiếp nhận thông tin liên quan các liệt sĩ ở Bệnh xá dã chiến Đại đội 33, Sư đoàn 2 đóng tại Khe Hương, Tân Thuận, Hiệp Thuận, Quảng Nam để hành trình trả lại tên cho 21 liệt sĩ còn lại thôi gập ghềnh...

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chất lính - Bút ký của Lê Thanh Huệ
Nguồn: Báo Văn nghệ - Hội Nhà Văn Việt Nam số 3262 – 3263.
Xem thêm
Beijing lá phong vàng (8) – Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Kẻ yếu thua từng trận nhưng thắng toàn cuộc. Kẻ mạnh thắng từng trận nhưng thua toàn cuộc. Chủ thuyết Tàu là Salami.
Xem thêm
Cha tôi: Một ngón đàn tài tử đậm hồn thơ – Tạp bút Tương Như
Trong suốt cuộc đời, đôi khi phải chịu đựng cảnh mưa gió chìm nổi, tôi vẫn thường tự nghĩ mình là có lẽ là nơi hội tụ cơ duyên giữa ba dòng sông nghệ thuật: mỹ thuật, thi ca và âm nhạc.
Xem thêm
Duyên đá - Bút ký của Minh Đan
Mỗi ngày, mặt trời phía xa xa chưa kịp lấp ló, đã thấy ba tôi cần mẫn xách những xô nước mát trong trĩu nặng đôi bờ vai xương xẩu tưới lên những tia sống khỏe, mớm yêu cho từng khóm cây, chậu cảnh vườn nhà.
Xem thêm
Sức quyến rũ của sự chân thành
16 giờ ngày 14.4.2024, Nhà xuất bản Hội Nhà văn tổ chức buổi gặp gỡ giao lưu giữa tác giả - Tiến sĩ Lê Kiên Thành (con trai cố Tổng bí thư Lê Duẩn)
Xem thêm
Sông chảy bên đời – Tuỳ bút của Nguyễn Thị Thu Thủy
Một đời người đã đi qua biết bao dòng sông, bao nhiêu ngã rẽ, khúc cua; mỗi dòng sông đều để lại bao luyến lưu, vương vấn, để lại những kí ức luôn tươi xanh mỗi khi nhớ về. Sông vẫn cứ chảy như thời gian trôi đi mải miết vì vậy “không ai tắm hai lần trên một dòng sông”.
Xem thêm
Rặng Diên Vĩ - Tản văn của Quốc Tuấn
Gió vẫn thổi, mái tóc thơm tuột khỏi giây buộc, quấn quanh đầu như vòng hoa nâu thẫm, vô tình quất bỏng môi người. Mùi hương đó, quen quá. Mùi tóc mẹ, hương quê vị quán. Tựa như làn nước lung linh, hơi thở chị uyển chuyển theo nhịp điệu không gian. Đôi mắt và đôi môi vẫn mỉm cười nhưng đã có chút tiếc nuối. Chính nỗi buồn ẩn chứa trên khuôn dung đã khiến chị trở nên hấp dẫn, pha lẫn sự hồn nhiên, ngây thơ tạo nên một tổng thể đẹp đến khó tin.
Xem thêm
Trần Bảo Định - Thú thưởng ngoạn văn chương qua tác phẩm “Đọc thơ bạn”
Có thể nói Trần Bảo Định là một hiện tượng văn học Việt Nam hiện đại: Chỉ trong vòng khoảng hơn 10 năm trở lại đây, từ khi về hưu anh đã cho ra đời 6 tập thơ, hơn 10 tập tản văn, truyện ngắn và 3 tập tiểu luận phê bình trong khi phải chống chọi với căn bệnh ung thư quái ác...
Xem thêm
Canh cá rô đồng – Tản văn của Châu Duyên
Tôi biết về món canh cá rô đồng đã lâu theo lời kể của cô bạn đang ở thành phố mang tên Bác, toàn những tin nhắn như là: Ê! Trưa nay tớ đang ăn canh cá rô đồng nè.
Xem thêm
Sài Gòn như nhà, như mẹ, như quê… – Tản văn của Triệu Vẽ
Ở Sài Gòn, không có ranh giới trọng khinh giữa dân “Sài Gòn” hay dân “tỉnh lẻ”, dân “phố” hay dân “phèn”. Trong huyết quản sâu xa của người Sài Gòn có ruộng đồng, bờ bãi, con trâu, con gà.
Xem thêm
Ơi mùa hoa ban! – Bút ký của Nguyễn Huy Bang
Chiếc máy bay VJ 299 từ Tân Sơn Nhất (sau 2 giờ 5 phút) bay qua không phận 3 nước.
Xem thêm
Tháng Ba hoa gạo – Tản văn của Bằng Lăng Tím
Đào phai, mai vàng là sự kì diệu của tháng giêng. Chúa của các loài hoa tháng ba chính là hoa gạo. Xuân sắp sửa đi qua, hạ lấp ló ở đầu ngõ. Hoa gạo đẹp theo nét riêng và tùy vào thời tiết. Hôm nào trời quang hoa đỏ thắm, ngời sắc trong khoảng không. Ríu rít đàn chim, lao xao ong bướm. Hoa như đốm lửa thắp sáng cả bình minh. Hôm nào sương dày đặc, nhìn hoa như ánh lửa đêm đông, lập lòe mang đến sự ấm áp lạ thường.
Xem thêm
Nhớ hoa đào - Tùy văn của Nguyễn Linh Khiếu
Mỗi năm khi sắp tết bao giờ mình cũng mua hoa đào. Hà Nội không có hoa đào làm sao gọi là tết. Dù là bích đào bạch đào hay đào phai thì hoa đào bao giờ cũng mang tết đến mỗi ngôi nhà thân thương. 
Xem thêm
Giữa những mùa hoa nở - Bút ký Nguyễn Xuân Thủy
Từ Yên Khương, thuộc huyện Lang Chánh chúng tôi đi theo đường tuần tra biên giới lên Đồn Biên phòng Bát Mọt, thuộc huyện Thường Xuân. Đường tuần tra biên giới chập chùng uốn lượn giữa núi non, len lỏi giữa màu xanh của rừng. Càng lên hướng Cửa khẩu Khẹo càng có cảm giác đang đi về nơi thâm sơn cùng cốc. Cũng đúng, Bát Mọt là tuyến cuối của dải biên giới xứ Thanh, nơi có cột mốc 378 là nơi tiếp giáp biên giới giữa Thanh Hóa và Nghệ An. Những nơi cuối đất cùng trời bao giờ cũng gợi cho người ta sự rưng rưng về những niềm thương nỗi nhớ.
Xem thêm
Lửa Cát Bi, ngọn trao truyền khí chất Hải Phòng
“Ơi Hải Phòng cửa biển quê hương/ Tổ quốc đang ghi những trang lịch sử/ Của Hải Phòng viết trên sóng bão Thái Bình Dương”. Với vị thế địa lý của Hải Phòng, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nơi đây luôn là miền đất tiền tiêu quan trọng, cửa ngõ chiến lược. Bởi kẻ thù thường tiến hành xâm lược Hải Phòng đầu tiên, lấy đó làm bàn đạp để đánh chiếm Thăng Long – Hà Nội. Khi thất bại, chúng cũng thường chọn Hải Phòng là một trong những tuyến đường rút chạy cuối cùng. Hải Phòng là địa phương luôn “đi trước về sau”, có vị trí xứng đáng, giữ vai trò quan trọng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc cũng như các cuộc kháng chiến của cách mạng Việt Nam, xứng đáng với danh hiệu “Thành phố Cảng trung dũng, quyết thắng”.
Xem thêm
Mùi Tết vương dấu chân xa – Tản văn của Đặng Tường Vy
Mỗi độ xuân về, người con xa xứ không tránh khỏi rưng rức, chạnh lòng. Nỗi nhớ trong lòng người tha hương rất lạ: sâu lắng, dịu dàng, chôn kín. Như gái đôi mươi thầm thương trộm nhớ một ai đó, âm thầm, mãnh liệt, nồng nàn,  tha thiết.
Xem thêm
Mùi hương thảo - Tản văn Quốc Tuấn
Chị mười tám, hay hai lăm tuổi. Tôi cũng chẳng biết và không cần biết, chỉ cần trong tôi đã bận lòng trước vẻ đẹp thuần khiết của loài cúc lam đồng thảo ấy. Nơi đáy mắt thể hiện những đốm lửa vui, những nét cong, nếp gấp mong manh nơi khóe miệng, bờ môi thể hiện sự phong phú nơi nhiệt tâm.
Xem thêm
Phép màu đã không đến với chị, chị Hồng Oanh ơi!
Chia sẻ của nhà văn Bích Ngân, Chủ tịch Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh
Xem thêm
Vào vườn hương
Thành phố Cần Thơ đất rộng người thưa không chỉ có gạo trắng nước trong để níu chân người và du khách bốn phương. Tây Đô còn là mảnh đất văn hiến với không hiếm những trang anh hùng hào kiệt yêu nước và nghệ sĩ phong lưu tài hoa nhân cách. Kế thừa truyền thống văn chương của Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt … và các bậc văn nghệ sĩ đàn anh: Kiều Thanh Quế, Lưu Hữu Phước, Hoài Sơn, Mai Văn Bộ, Trần Kiết Tường, …đã có không ít thế hệ đàn em kế thừa xứng đáng trên lĩnh vực văn học nghệ thuật.
Xem thêm