TIN TỨC

Tên anh khắc vào đá núi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-10 06:49:28
mail facebook google pos stwis
1609 lượt xem

  CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

QUẾ HÀ

Ngày 2.8.1966, tại Khe Hương, Tân Thuận, Sơn Tân, Quế Sơn... (nay là xã Hiệp Thuận, Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam) một trận bom của địch bất ngờ đánh trúng vào vị trí đóng quân của Bệnh xá 33, Sư đoàn 2 (tiền thân của Đại đội 33 là Đội điều trị 6 từ Hà Nội vào Quân khu 5 tăng cường cho Sư đoàn 2). Tất cả 52 y bác sĩ, hộ lý, nhân viên phục vụ và thương binh đang có mặt trong lán hy sinh.

THẢM KỊCH

Sau khi phục vụ các trận đánh ở Quảng Ngãi, C33 được bổ sung lực lượng và đứng chân ở thôn Tân Thuận, nhận thương binh ở các chiến trường về điều trị. Ban chỉ huy và các thầy thuốc là y, bác sĩ, thương binh phần lớn người Quảng Nam, Quảng Ngãi và các tỉnh phía Nam.

Bệnh xá đứng chân trên một ngọn đồi hẻo lánh, cây cối um tùm, lán trại lợp bằng tranh. Tuy dã chiến nhưng C33 khá quy củ, có sức chứa cả trăm người, bác sĩ Nguyễn Công Vị làm Trạm trưởng, đồng chí Huỳnh Văn Được làm chính trị viên.

Vài tháng sau, tại Bệnh xá 33 có một biến cố kinh hoàng xảy ra. Hôm đó, bước vào ngày làm việc mới, bác sĩ Bệnh xá trưởng Mai Văn Châu nhắc nhở các y sĩ, y tá, hộ lý phát thuốc, chăm sóc vết thương cho thương binh nặng. Anh chị em phục vụ người nào việc ấy, người thì đi kiếm rau, măng rừng để cải thiện bữa ăn cho thương bệnh binh và cán bộ đơn vị, bởi trong thời điểm lúc đó vô cùng khó khăn và gian khổ.  

Khoảng 8 giờ sáng, tất cả cán bộ, y bác sĩ, nhân viên phục vụ và thương binh đang điều trị đã khỏe có mặt tại lán trung tâm bệnh xá để nghe Đại úy Huỳnh Văn Được - Chính trị viên đơn vị phổ biến tài liệu của Đảng. Có tiếng máy bay gầm rú.  Đúng lúc đó, mấy chiếc máy bay của Mỹ vút qua, thủ trưởng Huỳnh Văn Được hô to: “Các đồng chí chú ý, phản lực lên!”. Đại úy Huỳnh Văn Được vừa dứt lời, loạt bom B57 ầm ầm đổ xuống. Một quả nổ phía dốc Dinh cách chỗ họp hơn 200m, một quả nổ gần sát lán tập trung của bệnh xá đang học chính trị.

Dứt tiếng bom nổ, trong khói lửa mịt mù, mọi người trong đơn vị còn sống sót chạy nhanh tới lán thì bàng hoàng thấy cảnh tượng tan hoang, thảm khốc. Cả vạt rừng như bị phát quang, mái lán và căn hầm nửa chìm nửa nổi đã bay đâu mất, một hố bom sâu hoắm, cây rừng phát quang còn bén lửa.

Mọi người sửng sốt, nghẹn ngào chia nhau đi tìm kiếm đồng đội. Nhưng đau đớn tất cả 52 người gồm Bệnh xá trưởng Mai Văn Châu, đại úy - chính trị viên Huỳnh Văn Được, y sĩ trưởng Lê Văn Đức, nhiều y sĩ, y tá, dược tá, hộ lý, nhân viên hậu cần và các thương binh… đang có mặt trong lán đã hy sinh và điều đau đớn hơn nữa là hầu hết không còn nguyên vẹn thân thể. Thi thể chính trị viên - đại úy Huỳnh Văn Được quê Tiền Giang được nhận ra khi chỉ tìm được một bắp đùi, bởi ông là người cao to, vạm vỡ và có nhiều lông chân. Hộ lý Lê Thị Đúng và y tá Nguyễn Thị Bích Hợi cùng quê ở huyện Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), hai chị em đứng cạnh nhau thi thể không còn đầu và thiếu chân, chị Hợi mau mắn còn sống, nhưng bị thương rất nặng…  

Thành viên Ban liên lạc Cựu Quân y Sư đoàn 2, các cựu chiến binh Phan Tấn Măng ở Hiệp Thuận, Nguyễn Thị Ngọc Dậu - nguyên nhân viên dược của Bệnh xá Đại đội 33 hiện sống ở Đà Nẵng, chị Nguyễn Thị Bích Hợi ở Quảng Ngãi, anh Khiếu Tiến quê Thái Bình… và những người còn sống kể lại: “Ngày đó mất mát quá lớn và đau thương! Mọi người chia nhau tìm kiếm, gom nhặt từng mảnh thi thể và mai táng các liệt sĩ trên đồi gần trong khu vực bệnh xá đóng quân. Đồng đội cẩn thận chọn các viên đá to, bằng phẳng, đục, khắc tên các liệt sĩ trên những viên đá, một số tên liệt sĩ được ghi tên, bỏ vào trong lọ penixilin. Nơi an nghỉ của các liệt sĩ được đặt những viên đá bên mộ để làm dấu”.

Được biết, đơn vị C33 Quân y nguyên là Đội điều trị 6 ở miền Bắc do bác sĩ Nguyễn Công Vị là Đội trưởng được bổ sung vào chiến trường Khu 5 từ đầu năm 1965. Vào đến chiến trường, Đội được biên chế thuộc Cục Hậu cần Quân khu 5 kịp thời phục vụ Chiến dịch Ba Gia - Vạn Tường ở chiến trường Quảng Ngãi. Sau khi Sư đoàn 2 được thành lập tại vùng giải phóng Sơn - Cẩm - Hà (huyện Tiên Phước, Quảng Nam), cuối năm 1965, đơn vị đổi phiên hiệu thành C33 và chính thức biên chế cho Sư đoàn 2, Quân khu 5 là đơn vị Quân y của Sư đoàn chủ lực. Sau sự kiện ngày 2.8.1966, sự hy sinh của cán bộ, chiến sĩ C33 đã để lại sự tiếc thương, cảm động trong quần chúng nhân dân, dấy lên lòng căm phẫn quân thù, tạo nên khí thế thi đua lập công của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân huyện Hiệp Đức.      

TRI ÂN

Bia tưởng niệm 55 liệt sĩ Bệnh xá Đại đội 33 Sư đoàn 2 Quân khu 5


Những hòn đá núi khắc tên các liệt sĩ

Sự việc theo năm tháng qua đi cho đến ngày toàn thắng. Các liệt sĩ được địa phương dời về Nghĩa trang Liệt sĩ xã Quế Tân (hồi đó thuộc huyện Quế Sơn), rồi tiếp tục dời về Nghĩa trang Liệt sĩ xã Hiệp Thuận, huyện Hiệp Đức.

Di dời nhiều lần, các thông tin liên quan đến liệt sĩ khi chôn cất cũng như khi di dời do nhiều nguyên nhân không may bị thất lạc, các viên đá khắc tên đánh dấu đã để lại trong núi khi di dời lần thứ nhất. Vì vậy, nhiều liệt sĩ hiện nay tuy có mộ nhưng vô danh, may mắn chỉ có liệt sĩ Huỳnh Văn Được sau này gia đình đã đưa về quê hương Gò Công - Tiền Giang.

Ngày ấy đã trở thành ngày giỗ tập thể của 52 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh. Những đồng đội hôm nay đã làm tất cả những gì có thể để lưu thông tin từng người, mong sau này có cơ hội tìm lại. Nhưng khắc nghiệt của chiến tranh, thay đổi phiên hiệu đơn vị quân đội, chia tách hành chính và thời gian... gần như đã xóa nhòa tất cả.

Theo các cựu chiến binh, hơn 10 năm qua, cứ 2 năm một lần, Ban liên lạc tổ chức gặp mặt ngoài Bắc hoặc trong Nam. Mỗi lần như vậy họ lại tìm và bổ sung thông tin đồng đội đã ngã xuống ở Tân Thuận, nhờ đó 31 liệt sĩ đã được xác định có tên và quê quán. Gồm các liệt sĩ: Huỳnh Văn Được, quê Gò Công, Tiền Giang; Mai Văn Châu, quê Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Bình Dương; Lê Văn Đức, Nguyễn Văn Dể, Đỗ Văn Cường, Lê Văn Minh, Trần Công Xuất và Nguyễn Văn Quảng quê Thái Bình; Lê Văn Dưỡng, Nguyễn Văn Tơ, Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Thanh Miễn, Nguyễn Văn Sâm quê Hà Tây cũ (nay là Thủ đô Hà Nội), trong đó là 2 liệt sĩ là thương binh Nguyễn Văn Tơ, Nguyễn Văn Thuận, đơn vị E31; Nông Đức Mần và Nông Đức Huân (Cao Bằng); 2 liệt sĩ là thương binh ở đơn vị E21 là Ngô Chương và Vũ Thương ở Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh); Trần Văn Hiệu quê Nam Định, Trần Văn Minh quê Vĩnh Phúc và liệt sĩ tên Sơn quê Nghệ An. Ở huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi có 7 liệt sĩ: Lê Thị Vân, Nguyễn Thị Lê, Lê Thị Nẵng, Nguyễn Thị Đền, Lê Thị Đúng, Trần Thị Vân, Nguyễn Thị Tý; 4 liệt sĩ ở Quảng Nam (Võ Thị Sáu, Đỗ Thị Phấn, Nguyễn Văn Minh, Đỗ Thị Hai)...    

Trăn trở trước những mất mát hy sinh của đồng đội, các cựu chiến binh, cựu quân nhân, chính quyền, người dân địa phương đều mong có một bia tưởng niệm và ghi danh liệt sĩ ở Khe Hương - Hiệp Thuận. Cựu chiến binh Trần Thanh Hạ - Trưởng Ban Liên lạc cựu chiến binh Sư đoàn 2 (Quân khu 5), nguyên Phó Phòng Dân vận, Cục Chính trị Quân khu 5, nguyên Chủ nhiệm Quân y Sư đoàn 2 là người đau đáu với đồng đội đã hy sinh ngày 2.8.1966, dù thời điểm ấy, ông không có mặt. Vợ ông cũng là cựu chiến binh luôn động viên chồng, cùng với các đồng đội để chắp nối thông tin, liên lạc các nhân chứng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thái Bình, Nam Định, thành phố Hồ Chí Minh...

Và điều đặc biệt, con trai liệt sĩ - bác sĩ Mai Văn Châu từ thành phố Hồ Chí Minh và người con của đại úy - liệt sĩ Huỳnh Văn Được từ Thủ đô Hà Nội…  nhiều lần tìm về nơi cha mình hy sinh để viếng hương cha cùng đồng đội đã ngã xuống anh dũng trên mảnh đất này.

 Cựu chiến binh Trần Thanh Hạ cùng nhân chứng và đồng đội tuổi đã ngoài 70, sức khỏe suy giảm, thương tật bủa vây, chủ yếu sống bằng đồng lương hưu nhưng đã có trách nhiệm với đồng đội để làm làm sống lại một sự kiện bi tráng. Ông cùng Ban Liên lạc viết thư ngỏ gửi hơn 80 đơn vị và cá nhân ở khắp các miền Tổ quốc. Năm 2020, với sự vào cuộc của Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ Tư lệnh Quân khu 5, UBND tỉnh Quảng Nam, huyện Hiệp Đức… cùng các cựu chiến binh, cựu quân nhân sẵn sàng đóng góp, cùng với Ban Liên lạc… tổng số tiền các địa phương, đơn vị và cựu quân nhân Sư đoàn 2 ủng hộ xây dựng bia lên đến 400 triệu đồng.

Hội Cựu chiến binh xã Hiệp Thuận coi việc xây dựng Bia tưởng niệm của Sư đoàn 2 là nhiệm vụ chính trị quan trọng. Ông Đặng Đông, một người dân của xã tự nguyện hiến đất, chặt hết vườn keo gia đình rộng 300m2, ngay dưới chân đồi Khe Hương để xây dựng bia tưởng niệm.

Cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Nam được Ban Liên lạc tín nhiệm giao trọng trách thiết kế và trực tiếp thi công xây dựng công trình. Ông xác định, đây là công trình có ý nghĩa nhân văn đặc biệt, thể hiện đạo lý đền ơn đáp nghĩa, kinh phí xây dựng do tự nguyện đóng góp là chính, không đơn thuần là công trình để làm kinh tế. Vì vậy, cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Nam dành hết sức lực, tâm huyết thiết kế và thi công sao cho phù hợp với nguồn lực đầu tư, đảm bảo các yêu cầu bền vững về kết cấu, đẹp về mỹ thuật, phù hợp với tâm linh của người Việt Nam.

Sau hơn 2 tháng thi công liên tục, với sự đồng hành của chính quyền địa phương và các cựu chiến binh, ngày 26.7.2020, công trình mang tên “Bia tưởng niệm 52 liệt sĩ là các y bác sĩ, cán bộ chiến sĩ, thương binh...  đang điều trị tại Bệnh xá Đại đội 33, Sư đoàn 2, Quân khu 5 hy sinh ngày 2.8.1966” được khánh thành. Công trình gồm một nhà bia uy nghi và bia tưởng niệm ghi danh 52 liệt sĩ và 2 phần mộ tập thể mang tính biểu trưng ngay sau bia di tích. Tên tuổi các liệt sĩ ở phần mộ được khắc vào những phiến đá núi nhỏ được tìm kiếm và thu nhặt tại nơi các anh, chị hy sinh. Còn các hạng mục như phế tích hố bom, hầm phẫu, giếng nước, bếp Hoàng Cầm đã được xác định quy hoạch để có cơ sở sau này phục chế…

Từ năm 2020, theo quy định của Ban Liên lạc và thống nhất chung với Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân xã Hiệp Thuận đã chọn ngày 2.8 hằng năm là ngày “GIỖ TRẬN”. Ngày đó, Ban Liên lạc C33 trong toàn quốc và địa phương cùng dâng hương Tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh tại Bia tưởng niệm ở Khe Hương. 

Vĩ thanh:

Một điều không may nữa, toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của 52 liệt sĩ bị trận bom đó đều bị cháy thành tro, nên chỉ có một số thông tin đầy đủ của cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị C33 Quân y quản lý. Và xác định được họ, tên có năm sinh, quê quán và đơn vị là 31 liệt sĩ. Còn 21 liệt sĩ chủ yếu các thương binh từ các đơn vị về điều trị tại bệnh xá chưa xác định được thông tin, tên tuổi, bản quán, đơn vị.

Các cựu chiến binh tha thiết kêu gọi và tiếp nhận thông tin liên quan các liệt sĩ ở Bệnh xá dã chiến Đại đội 33, Sư đoàn 2 đóng tại Khe Hương, Tân Thuận, Hiệp Thuận, Quảng Nam để hành trình trả lại tên cho 21 liệt sĩ còn lại thôi gập ghềnh...

Bài viết liên quan

Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm