TIN TỨC

Thơ Nguyễn Trung Nguyên với không gian nghệ thuật đậm chất miền Tây

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-04-27 13:58:24
mail facebook google pos stwis
2394 lượt xem

Bảo Bình

Nghệ thuật với chức năng miêu tả, phản chiếu và hướng tới đời sống con người, xã hội trong thực tiễn và khát vọng. Thì văn học, một trong những loại hình nghệ thuật, cũng nằm trong qui luật tất yếu đó. Nó vận động song hành cùng các thể loại, bên cạnh hội hoạ, điêu khắc… thì văn học lại mang nét riêng, đặc biệt là đối với sự miêu tả về thời gian, không gian. Người nghệ sĩ khi cầm bút, họ bám vào đường dây liên kết giữa Đời - Thực và Nghệ thuật để làm nên tác phẩm của mình. Mọi sự tái hiện, tạo dựng hình ảnh hay bộc lộ tư tưởng, tình cảm đều không giới hạn. Và không gian nghệ thuật là một kết nối liền mạch trong chỉnh thể đó.

Nhà văn Nguyễn Trung Nguyên

“Năm hàng dọc – những mộ bia đứng thẳng

Một hàng ngang – kia lau trắng cuối trời

Ba mươi năm! Nay điểm danh lần nữa

Những đứa – những thằng biền biệt xa quê!”

(Điểm danh đồng đội)

Khi đứng trước những đồng đội, giờ là những hàng bia mộ, tác giả đã “điểm danh” để rồi nhớ về Cung đường ngày xưa bom rơi trụi lá/ Bồi đắp máu xương nay đã xanh màu”, nhớ cung đường trụi lá bởi bom rơi chính là nhớ về những tháng ngày sinh tử bảo vệ quê hương. Không gian ẩn chứa thời gian, nhắc nhớ những mất mát, hy sinh để đổi lại màu xanh đất nước.

Hồi đó, nơi nầy! Lộ Vòng cung chớ gì!

Vùng oanh kích tự do bom thù đổ xuống

Nhà thờ Ông Hào lời cầu kinh tắc nghẹn

Thánh ca buồn trên những xác người

(Uống rượu ở phong điền)

Không gian thực là bữa tiệc rượu, nhưng không gian nghệ thuật hiện ra là “hồi đó”, nơi vùng oanh kích với bom thù” và xác người. Phong Điền ngày nay đã trù phú lắm, dưới sông xuồng ghe tắp nập, sau vườn cây trái trĩu cành, trạm trường, đường xá đã rộng mở… Không gian nghệ thuật hiện ra rộng lớn cả một vùng, kết nối quá khứ và hiện tại. Sống hôm nay, thụ hưởng những điều tươi đẹp của hôm nay, tác giả vẫn không quên nhắc mình về một thời kỳ bom lửa thương đau của dân tộc.

Hay ngậm ngùi hơn, là hình ảnh bà mẹ Việt Nam anh hùng. Bà mẹ của năm đứa con và một người chồng đã trộn máu xương mình vào đất vào nước của núi sông. Và cái không gian mâm cơm với sáu cái chén được bới đầy, nhưng chỉ riêng mình mẹ ngồi đó, đã cho ta sự thắt nghẹn nơi lòng Mỗi bữa cơm bây giờ/ mẹ lại bới ra sáu chén/ đủ cả trai gái, vợ chồng nhưng chỉ mình mẹ ngồi ăn/ Người mẹ Việt Nam vĩ đại của chúng con” (Bữa cơm của mẹ) tác giả chọn tả thực, không vòng vo. Và từ ngữ được dùng để miêu tả, như “bới”, “chén”, “mình mẹ” kiểu “mình ên”… cũng rất đổi thiệt thà, rất miền Tây. Tương tự, trong “Đợi con” của tác giả Hiền Phương, ta bắt gặp hình ảnh của Mẹ Thứ, bà mẹ Việt Nam Anh hùng với chín đứa con ra đi không ngày về “Mẹ ngồi sắp bát đợi con/Chín đôi đũa bát vẫn còn nguyên đây/ Mà sao vắng lạnh thế này/ Bát hương quyện những vơi đầy tâm can”, không trái tim nào là không nhói đau với hình ảnh ấy, không gian ấy. Cái không khí bao trùm của sự mất mát, và nỗi niềm lẻ loi, đơn độc đến ngậm ngùi của bà mẹ chín lần sinh nở, nhưng giờ đây chẳng còn lấy một đứa con bên mình. Còn chăng, là tiếng vọng của ngày xưa và hồn thiêng non nước. Không gian của sự mặc niệm và lòng biết ơn, nó xoáy vào tâm tư người đọc. Buồn và đau, như Những nén nhang cắm trên đầu gió/ Sợi khói dồn thời gian trắng mái đầu (Những nén nhang cắm trên đầu gió), những vần thơ quặn lòng người và cũng ngập đầy niềm kiêu hãnh về người chiến sĩ, về người mẹ Việt Nam anh hùng.

Sinh ly tử biệt là hiện thực tàn khốc nhất, cũng là đau đớn nhất đối với con người. Nó như vết thương bất trị, chẳng thể lành, có thể trở chứng đau nhức và rỉ máu bất cứ lúc nào. Và có vẻ, tác giả bị ám ảnh nhiều về điều này trong cuộc trần ai vốn rất đổi vô thường.  

Nhớ đêm nào chén rượu câu thơ

Dăm thằng bạn nghèo kề manh chiếu bạc

Mầy chết đi men nồng bổng nhạt

Ánh trăng vàng cũng tắt ven sông

(Chiều viếng mộ bạn)

Thi nhân với rượu và trăng đã từ ngàn đời nay là nguồn thi hứng bất tận. Thơ có loại sang, quý phái như nàng tiểu thư đài các và cả loại bình dân, mộc mạc như cô thôn nữ dịu hiền. Tức là ở mỗi phong cách và tư duy khác nhau, từ cổ điển đến hiện đại thì thơ đến với độc giả cũng đương nhiên là khác nhau. Cảm nhận của riêng tôi về thơ Nguyễn Trung Nguyên là loại thứ hai, thơ anh dung dị, gần gũi như lời ca dao của mẹ của bà. Chất phác, hào sảng như tính cách người đồng bằng, “mày-tao”, “thằng”… thoải mái cả trong thơ. Ở “Chiều viếng mộ bạn” ta bắt gặp “Ven sông” với “ánh trăng vàng” đẹp biết là bao, vậy mà nỡ tắt? Rượu bên manh chiếu bạc của tình tri kỷ là phải nồng, vậy mà bỗng nhạt? Vì sao? Vì bạn đã nằm sâu dưới mộ rồi. Tâm lý đó đã ảnh hưởng đến giác quan nhân vật, và phép kéo theo là không gian nghệ thuật cũng hiện lên trong sự âm u, tăm tối. Nhà thơ như muốn nói, khi không còn bạn thì cũng như đêm không có trăng vậy, rượu thì nhạt, sông thì úa màu. Cách tả cảnh phù hợp, bật lên được nỗi lòng nhân vật trữ tình trong niềm da diết nhớ thương về người đã khuất.

“Đuổi chuột ở nông trường sông hậu” là một bài thơ theo tôi là “đắt” về độ thâm thuý cần có ở thơ. “Trưa buông nắng lửa trên đầu/ Đồng xanh hiu quạnh, một tao với mầy/ Đừng buồn dẫu chết tan thây/ Đời thường vì lợi mà gây oán thù!”, đồng bưng nắng cháy hiện ra nơi nông trường sông hậu, và kẻ rượt đuổi chuột trở thành nhà lập ngôn. Đời thường vì lợi mà gây oán thù” là một câu thơ hay, đủ độ sâu của ngôn từ khi ta đặt nó vào ngữ cảnh của đời. Từ đó, nâng tầm triết lý về hiện thực đời sống xã hội, và đẩy con người lên thành đối tượng được ẩn ý. Con người luôn là động vật rượt đuổi, rượt đuổi để sinh tồn, rượt đuổi để chứng tỏ sức mạnh, rượt đuổi để mưu cầu danh lợi…

Khi nói về tình bạn, về khí chất người đồng bằng, tác giả đơn giản mượn “rượu đế”, mượn cái kiểu uống nhà quê, phải “khà” sau cái “ót” mới thấy đã, phải “khà” mới là cái hào sảng của miền Tây,Bạn chôn nhau cắt rún miệt đồng bằng/ Quen mùi đế, chê vị bia nhạt thếch/ Cứ nghe tiếng khà sau một ly rượu cạn/ Sẽ thấy ngay khí chất anh hùng (Bạn tôi). Nhà thơ Vũ Hồng cũng đã từng viết “Người phương Nam say thì say trọn/Người phương Nam buồn thì buồn sâu”(Người phương Nam).                     

  Ly rượu với hàm nghĩa hài hoà tương sinh trong văn hoá người Việt là một nét đẹp tinh thần. Rượu lễ và rượu tình là khác nhau, và ở đây ta nói về ly rượu tình. Nâng ly cùng nhau và uống cạn, là thể hiện sự tôn kính, thương quý lẫn nhau giữa những người cùng mâm,  Ly rượu nhỏ đó chỉ cốt ấm lòng người, kết chặt thêm cái tình của họ giữa cuộc sống phức tạp, bộn bề này (không uống để say chết, để mất kiểm soát, một hạn chế lớn về phong cách uống rượu bia thời hiện đại). Và ở đây, “khí chất anh hùng” sẽ hiển thị sau khi cạn ly, phải chăng, đó chính là cái phóng khoáng của người miền Tây? Hết bụng hết dạ với nhau là phải vậy. Rồi Khi đất nước cần bạn lập tức lên đường/ Cầm súng cũng gọn gàng như cầm leng, cầm phảng/ Ném lựu đạn trúng đích như sạ lúa biết chổ dày, chổ mỏng/ Một chân để lại chiến trường chỉ chút cười buồn…/ Một vụ lúa thất thu (Bạn tôi), người đồng bằng có giỏi nào bằng giỏi cầm leng cầm phảng, giỏi mùa màng, và giỏi cả hy sinh. Dù không nói tới, nhưng qua “leng”, qua “phảng” thì không gian hiện ra là đồng ruộng, ao vườn… cái không gian tràn ngập tình yêu và nỗi nhớ của biết bao người con xa xứ mỗi khi nhớ về. Và rồi, khi tổ quốc cần, họ buông xuống những dụng cụ làm nông, trở thành người chiến sĩ kiên cường, gọn gàng tay súng và chỉ chút cười buồn” khi một chân để lại chiến trường, người đồng bằng là thế, hiền lương mà dũng cảm, thật thà mà khảng khái, tiết nghĩa cả hy sinh tính mệnh khi cần.

Nói về tình yêu nam nữ, một đề tài của thi ca, Nguyễn Trung Nguyên cũng có cách nói của riêng mình, dù đó là cái chung của muôn người, của ngàn đời nay Ta một đời chẳng dám khen chê/ Chẳng dám học đòi là “kẻ sĩ”/ Nhưng chắc chắn vì em ta sẽ/ Đổi triều ca lấy một nụ cười (Ngẫu hứng), khi yêu đúng là con người ta trở nên mãnh liệt đến dại khờ, nhà thơ cũng chẳng khác chi. Và không gian nghệ thuật ở đây là cả một kinh đô uy nghi, kinh đô ấy được dùng để chỉ đổi lấy nụ cười của mỹ nhân, lịch sử Chu Vương vì mê đắm sắc đẹp nàng Bao Tự mà lệnh thưởng ngàn lạng vàng cho ai khiến nàng có thể mỉm cười, bởi Bao Tự luôn đăm chiêu, âu sầu. Còn ở đây là nhà thơ, mượn ý người xưa để lột tả cái lãng mạn rất khôn cùng của trai đồng bằng, khi yêu là cho hết, cho tất cả những gì có thể, không chút e dè, toan tính, suy tư.

Cái nợ văn chương thi phú, ai đã cắm vào thì chỉ có nghèo với nghèo. Có người bạn đời nào của ông nhà văn, bà nhà thơ mà được sống sung sướng đâu? Nguyễn Vỹ trong bài “Gởi Trương Tửu” có đoạn “…Thời thế bây giờ vẫn thấy khó/ Nhà văn An Nam khổ như chó!/ Mỗi lần cầm bút viết văn chương/ Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương” nghe, mà thấy cái phủ phàng của nghề cầm bút. Nên ở đây, tác giả như dứt tình, lại như thương vô tận Em nên đi lấy chồng đi/ Đời tôi đã hỏng còn gì đâu em/ Mang thơ bán chẳng ai thèm/ Mang đời buộc với áo cơm nhọc nhằn (Van em hãy đi lấy chồng). Bảo cô ấy đi lấy chồng, chính là vì không muốn cô ấy vì mình mà sống đời nghèo khó, nhọc nhằn. Rồi em đi lấy chồng, rồi anh có vui không? Năm nay lại đến mùa nước lũ/ Mình anh khua nước bến sông xưa/ Em theo chim sáo bay đi mất/ Bần rụng trên sông đã mấy mùa (Mùa lũ năm xưa), đấy! Cái tình của nhà thơ đấy. Nhớ về “Người cũ” của Đặng Xuân Xuyến ,có đoạn “Rượu cũ bạc mùi còn cố khuấy/ Chén sứt miệng rồi chẳng chịu thay/ Bao năm biền biệt, khư khư giữ/ Vật đổi sao dời, mãi thế ư?!”. Điểm gặp nhau của thi nhân là vậy; Yêu, và xa; rồi xa, và nhớ; nỗi nhớ nhung chẳng vơi theo con nước, cũng chẳng chịu trôi đi, cứ khư khư mà giữ lấy. Dẫu đã mấy mùa, mà không gian xưa vẫn lắng đọng trong tâm thức, bần vẫn rụng bên sông và anh vẫn khua nước nhớ nàng. Thật ra, đó không hẳn là những gì của hiện tại, nhưng hiện tại anh đang nghĩ về nàng, đó là điều chắc chắn. Ở đây, không gian nghệ thuật đã làm sống lại mối tình ngày trước, hoặc ngược lại, mối tình trong lòng khiến cảnh vật xưa không ngừng tái hiện. Đồng bằng với những bến sông - nơi hò hẹn - nơi có gốc bần, có vạt nắng rọi ấm tuổi đôi mươi của bao chàng trai cô gái, để rồi tình vẫn mãi vương.

Ta ngã buồn theo hơi hướm em

Ta rơi theo giọt nắng bên thềm

Tháng tư nhiệt đới mưa hoài hủy

Mưa mãi và ta mãi nhớ em.

(Mưa tháng tư)

Văn học chiếm lĩnh hiện thực đời sống, và nó được phóng ra, diễn ra bằng một phương thức đặc thù. Ở đó, tâm tưởng, cảm xúc của nhà văn, nhà thơ được lý tưởng hoá, thẩm mĩ hoá bởi những hình ảnh gắn liền đời sống văn hoá của họ. Và vì thế, cái hay dỡ, nông sâu ở mỗi ngòi bút là khác nhau. Với thơ ca, loại nghệ thuật vi diệu, tinh tế nhất trong các loại hình nghệ thuật, thì điều đó càng không dễ dàng chinh phục. Đến với thơ Nguyễn Trung Nguyên, bạn sẽ bắt gặp một tình cảm thiết tha, nồng nàn dành cho đất và người đồng bằng, cùng một không gian nghệ thuật đặc trưng vùng sông nước, đậm chất miền Tây.

                                                                  Cần Thơ, ngày 9/3/2024

B.B

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm