TIN TỨC

Thơ Nguyễn Trung Nguyên với không gian nghệ thuật đậm chất miền Tây

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-04-27 13:58:24
mail facebook google pos stwis
2584 lượt xem

Bảo Bình

Nghệ thuật với chức năng miêu tả, phản chiếu và hướng tới đời sống con người, xã hội trong thực tiễn và khát vọng. Thì văn học, một trong những loại hình nghệ thuật, cũng nằm trong qui luật tất yếu đó. Nó vận động song hành cùng các thể loại, bên cạnh hội hoạ, điêu khắc… thì văn học lại mang nét riêng, đặc biệt là đối với sự miêu tả về thời gian, không gian. Người nghệ sĩ khi cầm bút, họ bám vào đường dây liên kết giữa Đời - Thực và Nghệ thuật để làm nên tác phẩm của mình. Mọi sự tái hiện, tạo dựng hình ảnh hay bộc lộ tư tưởng, tình cảm đều không giới hạn. Và không gian nghệ thuật là một kết nối liền mạch trong chỉnh thể đó.

Nhà văn Nguyễn Trung Nguyên

“Năm hàng dọc – những mộ bia đứng thẳng

Một hàng ngang – kia lau trắng cuối trời

Ba mươi năm! Nay điểm danh lần nữa

Những đứa – những thằng biền biệt xa quê!”

(Điểm danh đồng đội)

Khi đứng trước những đồng đội, giờ là những hàng bia mộ, tác giả đã “điểm danh” để rồi nhớ về Cung đường ngày xưa bom rơi trụi lá/ Bồi đắp máu xương nay đã xanh màu”, nhớ cung đường trụi lá bởi bom rơi chính là nhớ về những tháng ngày sinh tử bảo vệ quê hương. Không gian ẩn chứa thời gian, nhắc nhớ những mất mát, hy sinh để đổi lại màu xanh đất nước.

Hồi đó, nơi nầy! Lộ Vòng cung chớ gì!

Vùng oanh kích tự do bom thù đổ xuống

Nhà thờ Ông Hào lời cầu kinh tắc nghẹn

Thánh ca buồn trên những xác người

(Uống rượu ở phong điền)

Không gian thực là bữa tiệc rượu, nhưng không gian nghệ thuật hiện ra là “hồi đó”, nơi vùng oanh kích với bom thù” và xác người. Phong Điền ngày nay đã trù phú lắm, dưới sông xuồng ghe tắp nập, sau vườn cây trái trĩu cành, trạm trường, đường xá đã rộng mở… Không gian nghệ thuật hiện ra rộng lớn cả một vùng, kết nối quá khứ và hiện tại. Sống hôm nay, thụ hưởng những điều tươi đẹp của hôm nay, tác giả vẫn không quên nhắc mình về một thời kỳ bom lửa thương đau của dân tộc.

Hay ngậm ngùi hơn, là hình ảnh bà mẹ Việt Nam anh hùng. Bà mẹ của năm đứa con và một người chồng đã trộn máu xương mình vào đất vào nước của núi sông. Và cái không gian mâm cơm với sáu cái chén được bới đầy, nhưng chỉ riêng mình mẹ ngồi đó, đã cho ta sự thắt nghẹn nơi lòng Mỗi bữa cơm bây giờ/ mẹ lại bới ra sáu chén/ đủ cả trai gái, vợ chồng nhưng chỉ mình mẹ ngồi ăn/ Người mẹ Việt Nam vĩ đại của chúng con” (Bữa cơm của mẹ) tác giả chọn tả thực, không vòng vo. Và từ ngữ được dùng để miêu tả, như “bới”, “chén”, “mình mẹ” kiểu “mình ên”… cũng rất đổi thiệt thà, rất miền Tây. Tương tự, trong “Đợi con” của tác giả Hiền Phương, ta bắt gặp hình ảnh của Mẹ Thứ, bà mẹ Việt Nam Anh hùng với chín đứa con ra đi không ngày về “Mẹ ngồi sắp bát đợi con/Chín đôi đũa bát vẫn còn nguyên đây/ Mà sao vắng lạnh thế này/ Bát hương quyện những vơi đầy tâm can”, không trái tim nào là không nhói đau với hình ảnh ấy, không gian ấy. Cái không khí bao trùm của sự mất mát, và nỗi niềm lẻ loi, đơn độc đến ngậm ngùi của bà mẹ chín lần sinh nở, nhưng giờ đây chẳng còn lấy một đứa con bên mình. Còn chăng, là tiếng vọng của ngày xưa và hồn thiêng non nước. Không gian của sự mặc niệm và lòng biết ơn, nó xoáy vào tâm tư người đọc. Buồn và đau, như Những nén nhang cắm trên đầu gió/ Sợi khói dồn thời gian trắng mái đầu (Những nén nhang cắm trên đầu gió), những vần thơ quặn lòng người và cũng ngập đầy niềm kiêu hãnh về người chiến sĩ, về người mẹ Việt Nam anh hùng.

Sinh ly tử biệt là hiện thực tàn khốc nhất, cũng là đau đớn nhất đối với con người. Nó như vết thương bất trị, chẳng thể lành, có thể trở chứng đau nhức và rỉ máu bất cứ lúc nào. Và có vẻ, tác giả bị ám ảnh nhiều về điều này trong cuộc trần ai vốn rất đổi vô thường.  

Nhớ đêm nào chén rượu câu thơ

Dăm thằng bạn nghèo kề manh chiếu bạc

Mầy chết đi men nồng bổng nhạt

Ánh trăng vàng cũng tắt ven sông

(Chiều viếng mộ bạn)

Thi nhân với rượu và trăng đã từ ngàn đời nay là nguồn thi hứng bất tận. Thơ có loại sang, quý phái như nàng tiểu thư đài các và cả loại bình dân, mộc mạc như cô thôn nữ dịu hiền. Tức là ở mỗi phong cách và tư duy khác nhau, từ cổ điển đến hiện đại thì thơ đến với độc giả cũng đương nhiên là khác nhau. Cảm nhận của riêng tôi về thơ Nguyễn Trung Nguyên là loại thứ hai, thơ anh dung dị, gần gũi như lời ca dao của mẹ của bà. Chất phác, hào sảng như tính cách người đồng bằng, “mày-tao”, “thằng”… thoải mái cả trong thơ. Ở “Chiều viếng mộ bạn” ta bắt gặp “Ven sông” với “ánh trăng vàng” đẹp biết là bao, vậy mà nỡ tắt? Rượu bên manh chiếu bạc của tình tri kỷ là phải nồng, vậy mà bỗng nhạt? Vì sao? Vì bạn đã nằm sâu dưới mộ rồi. Tâm lý đó đã ảnh hưởng đến giác quan nhân vật, và phép kéo theo là không gian nghệ thuật cũng hiện lên trong sự âm u, tăm tối. Nhà thơ như muốn nói, khi không còn bạn thì cũng như đêm không có trăng vậy, rượu thì nhạt, sông thì úa màu. Cách tả cảnh phù hợp, bật lên được nỗi lòng nhân vật trữ tình trong niềm da diết nhớ thương về người đã khuất.

“Đuổi chuột ở nông trường sông hậu” là một bài thơ theo tôi là “đắt” về độ thâm thuý cần có ở thơ. “Trưa buông nắng lửa trên đầu/ Đồng xanh hiu quạnh, một tao với mầy/ Đừng buồn dẫu chết tan thây/ Đời thường vì lợi mà gây oán thù!”, đồng bưng nắng cháy hiện ra nơi nông trường sông hậu, và kẻ rượt đuổi chuột trở thành nhà lập ngôn. Đời thường vì lợi mà gây oán thù” là một câu thơ hay, đủ độ sâu của ngôn từ khi ta đặt nó vào ngữ cảnh của đời. Từ đó, nâng tầm triết lý về hiện thực đời sống xã hội, và đẩy con người lên thành đối tượng được ẩn ý. Con người luôn là động vật rượt đuổi, rượt đuổi để sinh tồn, rượt đuổi để chứng tỏ sức mạnh, rượt đuổi để mưu cầu danh lợi…

Khi nói về tình bạn, về khí chất người đồng bằng, tác giả đơn giản mượn “rượu đế”, mượn cái kiểu uống nhà quê, phải “khà” sau cái “ót” mới thấy đã, phải “khà” mới là cái hào sảng của miền Tây,Bạn chôn nhau cắt rún miệt đồng bằng/ Quen mùi đế, chê vị bia nhạt thếch/ Cứ nghe tiếng khà sau một ly rượu cạn/ Sẽ thấy ngay khí chất anh hùng (Bạn tôi). Nhà thơ Vũ Hồng cũng đã từng viết “Người phương Nam say thì say trọn/Người phương Nam buồn thì buồn sâu”(Người phương Nam).                     

  Ly rượu với hàm nghĩa hài hoà tương sinh trong văn hoá người Việt là một nét đẹp tinh thần. Rượu lễ và rượu tình là khác nhau, và ở đây ta nói về ly rượu tình. Nâng ly cùng nhau và uống cạn, là thể hiện sự tôn kính, thương quý lẫn nhau giữa những người cùng mâm,  Ly rượu nhỏ đó chỉ cốt ấm lòng người, kết chặt thêm cái tình của họ giữa cuộc sống phức tạp, bộn bề này (không uống để say chết, để mất kiểm soát, một hạn chế lớn về phong cách uống rượu bia thời hiện đại). Và ở đây, “khí chất anh hùng” sẽ hiển thị sau khi cạn ly, phải chăng, đó chính là cái phóng khoáng của người miền Tây? Hết bụng hết dạ với nhau là phải vậy. Rồi Khi đất nước cần bạn lập tức lên đường/ Cầm súng cũng gọn gàng như cầm leng, cầm phảng/ Ném lựu đạn trúng đích như sạ lúa biết chổ dày, chổ mỏng/ Một chân để lại chiến trường chỉ chút cười buồn…/ Một vụ lúa thất thu (Bạn tôi), người đồng bằng có giỏi nào bằng giỏi cầm leng cầm phảng, giỏi mùa màng, và giỏi cả hy sinh. Dù không nói tới, nhưng qua “leng”, qua “phảng” thì không gian hiện ra là đồng ruộng, ao vườn… cái không gian tràn ngập tình yêu và nỗi nhớ của biết bao người con xa xứ mỗi khi nhớ về. Và rồi, khi tổ quốc cần, họ buông xuống những dụng cụ làm nông, trở thành người chiến sĩ kiên cường, gọn gàng tay súng và chỉ chút cười buồn” khi một chân để lại chiến trường, người đồng bằng là thế, hiền lương mà dũng cảm, thật thà mà khảng khái, tiết nghĩa cả hy sinh tính mệnh khi cần.

Nói về tình yêu nam nữ, một đề tài của thi ca, Nguyễn Trung Nguyên cũng có cách nói của riêng mình, dù đó là cái chung của muôn người, của ngàn đời nay Ta một đời chẳng dám khen chê/ Chẳng dám học đòi là “kẻ sĩ”/ Nhưng chắc chắn vì em ta sẽ/ Đổi triều ca lấy một nụ cười (Ngẫu hứng), khi yêu đúng là con người ta trở nên mãnh liệt đến dại khờ, nhà thơ cũng chẳng khác chi. Và không gian nghệ thuật ở đây là cả một kinh đô uy nghi, kinh đô ấy được dùng để chỉ đổi lấy nụ cười của mỹ nhân, lịch sử Chu Vương vì mê đắm sắc đẹp nàng Bao Tự mà lệnh thưởng ngàn lạng vàng cho ai khiến nàng có thể mỉm cười, bởi Bao Tự luôn đăm chiêu, âu sầu. Còn ở đây là nhà thơ, mượn ý người xưa để lột tả cái lãng mạn rất khôn cùng của trai đồng bằng, khi yêu là cho hết, cho tất cả những gì có thể, không chút e dè, toan tính, suy tư.

Cái nợ văn chương thi phú, ai đã cắm vào thì chỉ có nghèo với nghèo. Có người bạn đời nào của ông nhà văn, bà nhà thơ mà được sống sung sướng đâu? Nguyễn Vỹ trong bài “Gởi Trương Tửu” có đoạn “…Thời thế bây giờ vẫn thấy khó/ Nhà văn An Nam khổ như chó!/ Mỗi lần cầm bút viết văn chương/ Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương” nghe, mà thấy cái phủ phàng của nghề cầm bút. Nên ở đây, tác giả như dứt tình, lại như thương vô tận Em nên đi lấy chồng đi/ Đời tôi đã hỏng còn gì đâu em/ Mang thơ bán chẳng ai thèm/ Mang đời buộc với áo cơm nhọc nhằn (Van em hãy đi lấy chồng). Bảo cô ấy đi lấy chồng, chính là vì không muốn cô ấy vì mình mà sống đời nghèo khó, nhọc nhằn. Rồi em đi lấy chồng, rồi anh có vui không? Năm nay lại đến mùa nước lũ/ Mình anh khua nước bến sông xưa/ Em theo chim sáo bay đi mất/ Bần rụng trên sông đã mấy mùa (Mùa lũ năm xưa), đấy! Cái tình của nhà thơ đấy. Nhớ về “Người cũ” của Đặng Xuân Xuyến ,có đoạn “Rượu cũ bạc mùi còn cố khuấy/ Chén sứt miệng rồi chẳng chịu thay/ Bao năm biền biệt, khư khư giữ/ Vật đổi sao dời, mãi thế ư?!”. Điểm gặp nhau của thi nhân là vậy; Yêu, và xa; rồi xa, và nhớ; nỗi nhớ nhung chẳng vơi theo con nước, cũng chẳng chịu trôi đi, cứ khư khư mà giữ lấy. Dẫu đã mấy mùa, mà không gian xưa vẫn lắng đọng trong tâm thức, bần vẫn rụng bên sông và anh vẫn khua nước nhớ nàng. Thật ra, đó không hẳn là những gì của hiện tại, nhưng hiện tại anh đang nghĩ về nàng, đó là điều chắc chắn. Ở đây, không gian nghệ thuật đã làm sống lại mối tình ngày trước, hoặc ngược lại, mối tình trong lòng khiến cảnh vật xưa không ngừng tái hiện. Đồng bằng với những bến sông - nơi hò hẹn - nơi có gốc bần, có vạt nắng rọi ấm tuổi đôi mươi của bao chàng trai cô gái, để rồi tình vẫn mãi vương.

Ta ngã buồn theo hơi hướm em

Ta rơi theo giọt nắng bên thềm

Tháng tư nhiệt đới mưa hoài hủy

Mưa mãi và ta mãi nhớ em.

(Mưa tháng tư)

Văn học chiếm lĩnh hiện thực đời sống, và nó được phóng ra, diễn ra bằng một phương thức đặc thù. Ở đó, tâm tưởng, cảm xúc của nhà văn, nhà thơ được lý tưởng hoá, thẩm mĩ hoá bởi những hình ảnh gắn liền đời sống văn hoá của họ. Và vì thế, cái hay dỡ, nông sâu ở mỗi ngòi bút là khác nhau. Với thơ ca, loại nghệ thuật vi diệu, tinh tế nhất trong các loại hình nghệ thuật, thì điều đó càng không dễ dàng chinh phục. Đến với thơ Nguyễn Trung Nguyên, bạn sẽ bắt gặp một tình cảm thiết tha, nồng nàn dành cho đất và người đồng bằng, cùng một không gian nghệ thuật đặc trưng vùng sông nước, đậm chất miền Tây.

                                                                  Cần Thơ, ngày 9/3/2024

B.B

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm