TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tiểu thuyết “Trưng Nữ Vương” – Bản tráng ca về những Nữ Vương đầu tiên của đất Việt

Tiểu thuyết “Trưng Nữ Vương” – Bản tráng ca về những Nữ Vương đầu tiên của đất Việt

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-09-05 15:03:42
mail facebook google pos stwis
1509 lượt xem

Hỏa Diệu Thúy

 

Bà Trưng quê ở Châu Phong,

Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.

Chị em nặng một lời nguyền,

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân…

(Đại Nam quốc sử diễn ca)

Hầu như không đứa trẻ Việt Nam nào từ cấp tiểu học không nhớ đoạn diễn ca về Hai Bà Trưng, hai nữ anh hùng của lịch sử Việt Nam. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 43 sau công nguyên), cuộc khởi nghĩa đầu tiên chống lại ách đô hộ một nghìn năm Bắc thuộc, giành lại nền độc lập tự chủ: Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta, được lãnh đạo bởi những người phụ nữ còn rất trẻ, mới qua tuổi đôi tám. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, những biên chép về cuộc khởi nghĩa hào hùng ấy cũng như triều đại Trưng Vương không được đầy đủ, thậm chí chỉ được ghi lại mấy dòng ngắn ngủi trong sử cũ. Điều này là nỗi quan hoài của những người quan tâm đến lịch sử dân tộc, cũng là của các cây bút đam mê tiểu thuyết lịch sử.   

Bộ tiểu thuyết Trưng Nữ Vương (hai tập) của tác giả Phùng Văn Khai ra mắt như sản phẩm văn hóa giàu ý nghĩa tới độc giả, thỏa mãn mong muốn tìm hiểu về một giai đoạn lịch sử tuy ngắn ngủi nhưng thật hào hùng, được dẫn dắt bởi những nữ anh hùng. Cầm trên tay bộ tiểu thuyết lịch sử Trưng Nữ Vương không khỏi thán phục nội lực và niềm say mê cổ sử của nhà văn quân đội. Dường như cây bút họ Phùng này đã tìm trúng mạch sáng tạo cho riêng mình, nên chỉ trong vòng hơn mười năm, 7 bộ tiểu thuyết lịch sử liên tiếp ra mắt, lại tập trung ở phần “Ngoại kỷ”, tức phần cổ xưa nhất, ít tư liệu nhất trong cả chính sử lẫn huyền sử.

Bộ tiểu thuyết Trưng Nữ Vương gồm hai tập: tập một tương ứng với giai đoạn thanh nữ Trưng Trắc, trưởng nữ của quan huyện lệnh Trưng Định (Lạc tướng đất Mê Linh) xinh đẹp, giỏi võ nghệ nên duyên cùng Thi Sách, trưởng nam của huyện lệnh Dương Thái Bình (Lạc tướng đất Chu Diên), một trang tuấn kiệt. Hóa ra, cả hai đều dòng dõi Lạc hầu, là hậu duệ con cháu vua Hùng. Đất Mê Linh và đất Chu Diên, dưới sự dẫn dắt của hai Lạc hầu tài giỏi, khí phách, đã trở thành hai vùng đất hùng mạnh khiến các Thái thú được cắt cử trị nhậm từ phương Bắc xuống rất nể vì. Song, khi thái thú Tô Định, kẻ được trị nhậm thay thế là kẻ vốn tham lam, tàn ác, để thị uy, hắn trấn áp những huyện lệnh địa phương có uy tín, hùng mạnh. Huyện lệnh Mê Linh, huyện lệnh Chu Diên, huyện lệnh Bắc Đái đã vào tầm ngắm của hắn. Tô Định cùng với bộ hạ bày mưu giết những huyện lệnh uy tín này. Bạo ngược hơn nữa, hắn tiếp tục dùng thủ đoạn hèn hạ giết Thi Sách, trưởng nam huyện lệnh Chu Diên khi chàng thanh niên đang chịu tang cha. Tô Định không thể ngờ, tội ác vô nhân của hắn không những không làm cho dân Giao Chỉ khiếp sợ, mà ngược lại, đã thổi bùng ngọn lửa căm phẫn, bất bình của người dân nơi xứ sở thích bình yên, hòa mục này. Trưng Trắc, tuổi  mới qua đôi tám, trên đầu vừa mang tang cha vừa mang tang chồng đã phất cờ tụ nghĩa với lời hịch khí phách: Một xin rửa sạch nước thù/ Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng/ Ba kẻo oan ức lòng chồng/ Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này (Thiên Nam ngữ lục). Tập một của bộ tiểu thuyết dừng ở sự kiện: những thủ hạ sừng sỏ nhất của Tô Định được sai đi trấn áp mầm mống của cuộc khởi nghĩa như: Tào Quyên, Sầm Lân, Sầm Bá, Ngụy Húc… đều nhận thảm bại, kẻ bị chém đầu, kẻ bị chết trong đám loạn quân, kẻ đầu hàng nhục nhã. Sau khi hạ thành Cổ Loa, đoàn quân hừng hực khí thế kéo tới kinh thành Luy Lâu. Số phận của thái thú Tô Định và tư mã kinh thành Mã Tắc như cá nằm trên thớt.

Thành công của tập một hé lộ sức cuốn hút của lối viết sôi nổi, giàu cảm xúc. Người đọc thích thú được trải nghiệm với không gian Giao Chỉ xưa, vùng đất của những thảm rừng nhiệt đới rậm rạp nhiều muông thú, lắm ao hồ, sông ngòi, lại giáp biển, tạo nên những tập tục văn hóa vô cùng phong phú, đa dạng. Người dân vừa giỏi săn bắn, chinh phục, thuần hóa muông thú, vừa giỏi sông nước, chinh phục thủy quái.

Ở tập này, độc giả còn được “diện kiến” những chân dung sống động: thanh nữ Trưng Trắc thông minh, xinh đẹp lại giỏi võ nghệ; chàng trai Thi Sách tuấn tú từ ngoại hình đến tính cách, tài năng. Họ là con của những Lạc hầu, Lạc tướng hùng mạnh. Được nuôi dưỡng, rèn luyện trong môi trường chọn lọc để trở thành những người kế thừa xứng đáng cai quản bộ tộc của mình. Điều này sẽ trả lời một cách thuyết phục cho câu hỏi: Vì sao một cô gái đang tuổi thiếu nữ lại trở thành lãnh tụ khởi nghĩa, biết tập hợp sức mạnh quy tụ lòng dân, dẫn dắt anh tài bốn phương, biết tổ chức trận đánh, biết dùng mưu nhử giặc, lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều.

Tập hai mở đầu bằng trận đại thắng kinh thành Luy Lâu. Sau thất bại của Tào Quyên và các tướng sừng sỏ và khí thế vũ bão của quân Hai Bà, thái thú Tô Định và tướng Mã Tắc rút vào kinh thành Luy Lâu chờ cứu viện. Tuy nhiên, Trưng Trắc không đánh thành ngay mà dùng kế vây thành để bớt đầu rơi máu chảy. Kế hãm thành này khiến quân Hán lo lắng, kiệt quệ. Tên thái thú ngông cuồng Tô Định chịu không nổi phải cắt hết râu tóc, cải trang thành thương khách nửa đêm lẻn xuống thuyền chạy trốn. Đại tướng Mã Tắc hay tin hộc lên ngã lăn ra bất tỉnh, quân Hán buông vũ khí đầu hàng. Sau 1000 năm Bắc thuộc, cõi Lĩnh Nam trở thành nhà nước độc lập, tự chủ với cương vực rộng lớn từ Lĩnh Nội đến Lĩnh Ngoại. Lĩnh Nội có Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Lĩnh Ngoại là Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, tới tận hồ Động Đình. Triều đình Lĩnh Nam lấy Mê Linh, đất cũ của các vua Hùng dựng nghiệp làm kinh đô.

Ở tập 2, chân dung nhị vương Trưng Nhị xuất hiện cũng rất tài ba thao lược. Trưng Nhị như cánh tay phải, luôn sát cánh giúp chị tổ chức, thị sát, phủ dụ bách tính thị tộc, vỗ về các vùng thượng du hạ bạn, đặc biệt là các vùng Lĩnh Ngoại. Trưng Nhị đã chủ động cùng nữ tướng Lê Chân bài binh bố trận đánh úp thủy trại Hợp Phố. Hàng trăm chiến thuyền của tướng Đoàn Chí đang được chuẩn bị tiến đánh phương Nam bị các nữ tướng trẻ tuổi: Trưng Nhị, Lê Chân, Phật Nguyệt đốt phá tan tác.  

Từ gợi ý của chính sử, Phùng Văn Khai đã dựng lại những trận thủy chiến thư hùng như trận Hợp Phố, trận Hồ Lãng Bạc, trận cửa biển Đằng Giang …cho thấy cư dân phương Nam từ xa xưa đã giỏi sông nước, quen đánh thủy, lý giải các đời sau quân phương Bắc tiếp tục 3 lần đại bại trong các trận thủy chiến ở cửa sông Bạch Đằng.

Ở tập 2, tác giả tiếp tục tái hiện hình ảnh nữ quân vương tài năng, mưu lược và nhân hậu, đặt cuộc sống của muôn dân trăm họ lên trên thù nhà, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm nguyên tắc ứng xử với ngoại bang. Tiếc thay, thời gian dành cho công cuộc chấn hưng bờ cõi của Hai Bà quá ngắn ngủi. Không nuốt nổi mối nhục đại bại trước những thanh nữ phương Nam anh hùng, Hán Quang Vũ triệu cha con tướng Mã Viện đang trấn giữ mặt Bắc chống quân Hung Nô, phong làm Phục Ba tướng quân với quyết tâm thống thuộc lại phương Nam, lấy lại uy thế cho triều đình Hán Quang Vũ Đế. Tuy nhiên, kể cả khi lão tướng Mã Viện uy danh lừng lẫy kinh nghiệm chiến trường thân chinh trấn áp, quân Hán vẫn bị các nữ tưởng trẻ trung của Hai Bà đánh cho phải ôm đầu máu. Theo sử cũ, quân của Mã Viện sau khi bình định xong Giao Chỉ, trở về  chỉ còn một nửa so với lúc xuất phát. Song, trước một đội quân hùng hậu, quen chinh chiến trận mạc với những mãnh tướng dày dạn, lực lượng nghĩa binh của Hai Bà phần lớn là dân binh theo cờ tụ nghĩa, vũ khí sơ sài đã không trụ nổi. Nghĩa quân từng bước bị truy quét và tận diệt. Tuy nhiên, có một tồn nghi lịch sử chỉ được lưu truyền trong dân gian: Mã Viện phải dùng đến kế thứ 37 "Tam thập thất kế cởi truồng vi thượng sách" mới thắng nổi nghĩa binh của Hai Bà. Mã Viện (sau khi mất) bị các quan tấu lên lời đồn này, Hán Quang Vũ Đế tức giận tước thái ấp và tước hầu (!). Cũng theo dân gian, "Tam thập thất kế cởi truồng vi thượng sách" còn liên quan đến Lục Dận với khởi nghĩa của Bà Triệu, tuy nhiên, đây cũng chỉ là "lời đồn", tức ngoại sử. Dẫu vậy, lời đồn trong dân gian thường không ngẫu nhiên mà có, nhiều tình tiết kỳ ảo trong thần thoại, truyền thuyết tưởng chỉ có trong tưởng tượng, hoang đường ngày nay đã được chứng minh là có thật với sự phát triển của khoa học và ngành khảo cổ học. Chẳng hạn, Con ngựa thành Troy trong chuyện cuộc chiến thành Troy của thần thoại Hy Lạp; Nỏ Thần An Dương Vương trong truyền thuyết An Dương Vương; Gà chín cựa ngựa chín hồng mao trong thần thoại Sơn Tinh - Thủy Tinh v.v… Thời gian luôn có tác dụng thanh lọc, nhưng những gì cứ sống mãi trong ký ức nhân dân chắc chắn có lý do tồn tại. Với thể loại tiểu thuyết, tác giả hoàn toàn có thể dựng tình tiết hư cấu này từ lời đồn của ngoại sử. Đó là tình tiết đắt giá, tiếc lắm thay!

Vẫn với lối kể hào sảng và dí dỏm, bộ tiểu thuyết hai tập Trưng Nữ Vương đáp ứng khoái cảm trí tuệ và thẩm mỹ bằng phông kiến văn phong phú, cách cài cắm chi tiết phục bút, kết hợp hài hòa ngôn ngữ hiện đại và cổ xưa, tác giả đã cho người đọc hình dung sống động về lịch sử một thời đại bi tráng, tuy ngắn ngủi nhưng vô cùng kiêu hành của dân tộc.

Lịch sử dựng nước, giữ nước 4000 năm của dân tộc ta thật vô cùng hùng vĩ, hiếm có. Song, phần cổ sử, ngoài những dòng tổng kết, nhận xét sơ lược, chúng ta khuyết thiếu hẳn mảng văn chương có thể làm sống lại những trang sử hiển hách ấy.

Hành trình theo đuổi thể tài tiểu thuyết lịch sử của Phùng Văn Khai gợi cảm giác về một người đang nỗ lực hoàn thành sứ mệnh được giao phó bằng toàn bộ ý chí và niềm đam mê. Tác giả đã từng bước hoàn thành bằng sự nghiêm túc, cẩn trọng, hết lòng. Thán phục và yêu mến lắm thay!   

H.D.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm