TIN TỨC

Tình yêu mang phận cỏ và những khắc khoải tận cùng xanh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-11-13 00:07:47
mail facebook google pos stwis
2341 lượt xem

(Đọc Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ - Đinh Thị Thu Vân, NXB Hội Nhà văn, 2015)

HUỆ TRIỆU

Tôi nhớ cảm giác thảng thốt khi mới đọc mấy bài đầu tập thơ Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ của Đinh Thị Thu Vân và có một mong muốn lạ lùng rằng, ở những bài sau, sẽ gặp cái gì khác đi. Nhưng không, 5 bài, rồi 10 bài, rồi hết tập thơ, vẫn là cái mạch ấy - cái mạch bắt nguồn từ nỗi thương thân, từ những khắc khoải da diết tận cùng xanh kiếp cỏ!
 

Các nhà thơ Huệ Triệu và Đinh Thị Thu Vân

Viết cho mình là điều thông thường ở tất cả những người đã trót mang nghiệp viết, bởi nói cho cùng viết về điều gì hay về ai cũng chỉ là những hình thức khác nhau của sự đối thoại với chính mình. Tập thơ Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ cũng là sự đối thoại ấy, nhưng là đối thoại trực diện, thành thực nhất, quyết liệt nhất mà tôi từng thấy với nỗi buồn, nỗi cô đơn cho tới khi nó chảy tan thành nước mắt.

Cảm hứng thương thân trước hết bắt nguồn từ những ngậm ngùi, xót tiếc:

Em xót đời em rơi rụng nhớ nhung thừa

không dành dụm, không vẹn toàn hương lửa

đã hoang phí đã dại khờ đã lỡ

đã hanh hao tàn tạ suốt bao mùa!

(muộn)

Hay:

nửa niềm hy vọng đang vơi

tôi ngơ ngác tiếc đời tôi phai tàn

(nửa niềm hy vọng đang vơi)

Những câu thơ đọc lên buốt nhói bởi lẽ những “nhớ nhung thừa”, “hoang phí”, “dại khờ” kia là sự tự ý thức cùa một người đàn bà dường như đang bất lực trước dòng chảy của thời gian, chỉ còn biết “ngơ ngác tiếc”! Nhưng không chỉ có thế, đó còn là là sự ý thức cao độ về chân giá trị - những “dốc lòng trao tặng”, “nhớ nhung đầy”, “cạn trắng sông xanh và biển biếc”,… dành tặng tình yêu nhưng lại chỉ nhận về mình thua thiệt. Tập thơ dẫu buồn như nước mắt nhưng cho ta nhận diện một gương mặt tình yêu thật đẹp mà tôi đảm bảo rằng bao nhiêu người sẽ phải ước ao bởi nó quá đỗi chân thành, cháy bỏng. Nhiều người đàn bà cũng yêu mãnh liệt nhưng đến mức cạn cùng, tan chảy, không ngại “lụy” để được yêu như thế này thì chỉ có một Đinh Thị Thu Vân:

Lụy yêu lụy nhớ lụy chờ

Lụy nao hơi thở, lụy đưa đẩy lời

Anh ơi em ngả nghiêng rồi

Bao nhiêu hạt máu đang rời trái tim!

(lụy)

Nhưng buồn quá phải không, bất công quá phải không vì giá mà mình cũng vô tâm, và không thành thật “trao đến phai tàn” để không phải nhận về, nhận ra những hờ hững mà ai đó vô tâm “trút xuống vai người”! Buồn thế, nhưng rồi biết làm gì hơn, hay chỉ biết cùng thơ ấm ức:

em ấm đầy nước mắt

mà lòng anh lạnh cằn

(những câu thơ khuỵu xuống)

Rất nhiều những giây phút “câu thơ khuỵu xuống” vì hụt hẫng, vì “trước vô tâm người đã tặng cho người”, vì sự thật “anh dừng lại đành sao giây phút tạm”,… Vậy mà, cả tập thơ, không có một dòng nào oán giận đến cay nghiệt, dù có hờn có trách. Có vẻ như người đàn bà chỉ muốn nhận về trọn vẹn nỗi khổ, coi đó như là định mệnh của đời mình:

em sẽ sống, cam lòng xin đánh đổi

chất ngất tủi hờn… để nhận chút hương rơi!

(là ngày mai đừng vội hôm nay)

Thương và cảm phục quá trái tim mong manh mà dũng cảm của người đàn bà hết mình với chữ “yêu’. Dường như đã có một tình yêu lớn để chị tựa vào. Nhưng cuộc đời trớ trêu lại chỉ cho người ta tìm thấy hạnh phúc trong nghịch cảnh. Coi mình như “con thiêu thân cam phận sống quên đời”, người đàn bà lao vào những đợt sóng ào ạt yêu thương nhớ nhung thắc thỏm. dù biết trước sẽ nhận về mình tận cùng bẽ bàng, chua xót. Mấy ai hiểu được, người đàn bà đã một khi đã yêu, còn bao dung cả với chính mình, cho nên có là gì đâu trước những điều này:

có thể vì anh đã quen nhận từ em những hy sinh lầm lũi

những chăm chút tận tình từ một phía thủy chung

(say buồn)

Trước linh cảm chia xa, cũng không trách móc mà chỉ thương. Đây là lời an ủi của một trái tim vị tha và thấu hiểu:

anh đừng xót, anh đừng đau

em đi, chẳng trách gì nhau, chẳng đành

chỉ là thương những dụm dành

đã không còn kịp trao anh kiếp này!

(hồn em theo nén nhang rời sẽ đau)

Lấy tình yêu làm cứu cánh, để rồi lạc vào chính nỗi đau do mình tạo nên, người đàn bà nhiều lúc muốn tự dối lòng, tự ngăn mình đến với xôn xao bất chợt. Bởi lẽ cùng với xôn xao luôn là sự xuất hiện của những dự cảm buồn:

đâu phải tình yêu- sương khói đấy, và mây

và bọt sóng đang đùa trêu- lần cuối đấy

không phải tình yêu đâu, V ơi, đừng đắm đuối

đừng hao gầy, thôi đừng ước một đời say...

(không phải tình yêu)

Đôi khi còn không cam lòng, “gồng” lên như thách thức, như sẵn sàng buông bỏ:

một ngày

mỏi mòn trong ảo vọng

tôi sẽ đem bán đi trái tim mình

không cần chọn người mua

không cần sòng phẳng!

(trái tim rao bán)

Trái tim rao bán có thể coi như một tín hiệu để nhận ra những bức bối đang đè nén, cũng như sự mâu thuẫn với chính mình có thể coi như dấu hiệu để nhận ra một tâm hồn đa cảm, đa đoan và đau đáu khát khao. Mong mình “đừng thiếu nữ” mà vẫn xôn xao nhung nhớ như thuở ban đầu. Đã không ít lần muốn “giẫm nát trái tim mình, giẫm nát khát khao đi” nhưng từng phút từng giờ vẫn không thôi tự ru mình và cồn cào mơ ước. Tự chúc mình “đừng thiếu nữ” mà “thèm khóc tuổi xuân không về nữa”. Nói “chẳng phải yêu đâu” nhưng lại tỏ bày niềm hoan hỉ được “đốt đời em lần cuối”:

chẳng phải yêu đâu- là em đang cạn máu

đang khát đến tận cùng, đang cháy đến tàn hơi

đâu phải là yêu- em đốt đời em lần cuối

phó thác tàn tro quanh quẩn dưới chân người!

(em không thể cam lòng trôi nổi)

Không phải chỉ là tình yêu, hình như còn nhiều hơn thế, cao hơn thế nữa.

Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ nói cho cùng, là tập thơ của những khát vọng được níu giữ, được đáp đền. Người đọc có thể không mấy đồng tình trước những tự ti mặc cảm, nhận mình bé mọn: “em chỉ là xác lá ven đường/ anh không nỡ giẫm chân lên” (lá khô), “em làm cát, em làm bùn, em xin làm cát vụn” (nhật kí) hoặc “nếu có kiếp sau, em xin làm bậc cửa/ làm thềm rêu lặng lẽ đợi chân người” (gió bụi chông chênh) nhưng không thể không “giật mình”, thương quý một khát vọng chính đáng- khát vọng gắn với tình yêu che chở cưu mang và sẵn lòng dâng hiến:

đủ tất cả, chỉ là không mảnh đất

để vun trồng và chăm chút mượt mà xanh!

(lá khô)

Mong manh mà mãnh liệt, tuyệt vọng rồi hy vọng, buông bỏ để quay về…Tất cả tạo thành những phức điệu tâm trạng mà bao trùm lên vẫn là mong ước khắc khoải tưởng như vô hồi vô tận. Không bàng bạc mà bật thốt thành tiếng những kêu thương:

tri kỉ ơi, lòng em như lửa đốt

chôn làm sao cho kín nhớ nhung đầy

tri kỉ ơi, lẽ nào anh chẳng thấy

em đã mềm hơn nước, mảnh hơn mây…

(tri kỉ ơi, anh có về như gió)

Se thắt nhất là những van nài khẩn thiết gửi tới chính số phận mình:

Hãy dừng lại đời tôi ngay khoảnh khắc đắm say người

Đừng trôi nữa… sông xa mời mịt quá

Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ

Mang phận buồm… không gió để ra khơi!

(đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ)

Tập thơ, ngoài nỗi buồn trĩu nặng như có hình có khối của một người đàn bà từng trải qua nhiều biến cố, còn là những mong manh của một trái tim phụ nữ nhạy cảm, dễ bị tổn thương. Chút chờ đợi trong chiều thành niềm tủi hờn ẩn ức bởi “quanh quẩn những lời yêu không dối được cứ loang nhòa” (Chiều). Bài Cuối con đường đơn chiếc là một trong những bài thơ ắp đầy những dịu dàng thắc thỏm chỉ sợ lạc nhau cuối con đường:

đừng dối em

anh có một trái tim

biết khóc

nột trái tim

khao khát vỗ về

....

anh dối em, em nhầm lẫn thì sao

ai chia sẻ khoảng đời riêng gió bão…

51 bài thơ là những tự bạch chân thành của một người đàn bà tự nhận mình là kẻ “mang nỗi buồn tay trắng” nhưng tôi thì không tin chỉ có vậy. Đối diện với lòng mình, để nhận ra mình, quan trọng nhất là được nói ra, được tỏ bày. Lấy tình yêu “để giữ ấm trái tim mình”, mong cứu rỗi chính mình, song tình yêu cùng niềm khao khát dù chỉ là phận cỏ vẫn đang biếc xanh để nâng đỡ chị và nhiều người khác. Miền yêu thương với “những lời yêu tơ lụa” vẫn cứ ánh lên óng ả bởi nâng niu trân trọng, và niềm tin vĩnh cửu “như xát muối...mà tình yêu vẫn sống”. Đó là niềm tin, đó cũng là niềm an ủi cho những ai đã hiểu “yêu thương đan quyện nỗi đau thầm”, nhận ra và thấu trải vị ngọt ngào sau nước mắt.

“Không đành bèo bọt trôi đi”, thơ Đinh Thị Thu Vân đã neo lại giữa cuộc đời bằng nỗi buồn đẹp và thuần khiết, và nhất định không thể chỉ là tuyệt vọng:

này những tình yêu, khi còn có thể

hãy nâng niu từng khoảnh khắc tay cầm

này những chiếc hôn sâu, khi còn có thể

hãy dịu dàng trao gửi trước trăm năm

(kề cận nhé khi còn có thể)

Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ chắc chắn nhận được nhiều đồng cảm, sẻ chia. Tất nhiên, người đọc còn yêu mến thơ Đinh Thị Thu Vân bởi chị là tác giả của những câu chữ vừa dung dị vừa tài hoa. Nhưng xin bàn về phương diện này trong một bài viết khác.

Thành phố HCM, tháng 3/ 2016
H.T.
(Bài đăng Văn Nghệ số ra ngày 16/4/2016).

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm