TIN TỨC

Tình yêu mang phận cỏ và những khắc khoải tận cùng xanh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-11-13 00:07:47
mail facebook google pos stwis
2595 lượt xem

(Đọc Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ - Đinh Thị Thu Vân, NXB Hội Nhà văn, 2015)

HUỆ TRIỆU

Tôi nhớ cảm giác thảng thốt khi mới đọc mấy bài đầu tập thơ Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ của Đinh Thị Thu Vân và có một mong muốn lạ lùng rằng, ở những bài sau, sẽ gặp cái gì khác đi. Nhưng không, 5 bài, rồi 10 bài, rồi hết tập thơ, vẫn là cái mạch ấy - cái mạch bắt nguồn từ nỗi thương thân, từ những khắc khoải da diết tận cùng xanh kiếp cỏ!
 

Các nhà thơ Huệ Triệu và Đinh Thị Thu Vân

Viết cho mình là điều thông thường ở tất cả những người đã trót mang nghiệp viết, bởi nói cho cùng viết về điều gì hay về ai cũng chỉ là những hình thức khác nhau của sự đối thoại với chính mình. Tập thơ Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ cũng là sự đối thoại ấy, nhưng là đối thoại trực diện, thành thực nhất, quyết liệt nhất mà tôi từng thấy với nỗi buồn, nỗi cô đơn cho tới khi nó chảy tan thành nước mắt.

Cảm hứng thương thân trước hết bắt nguồn từ những ngậm ngùi, xót tiếc:

Em xót đời em rơi rụng nhớ nhung thừa

không dành dụm, không vẹn toàn hương lửa

đã hoang phí đã dại khờ đã lỡ

đã hanh hao tàn tạ suốt bao mùa!

(muộn)

Hay:

nửa niềm hy vọng đang vơi

tôi ngơ ngác tiếc đời tôi phai tàn

(nửa niềm hy vọng đang vơi)

Những câu thơ đọc lên buốt nhói bởi lẽ những “nhớ nhung thừa”, “hoang phí”, “dại khờ” kia là sự tự ý thức cùa một người đàn bà dường như đang bất lực trước dòng chảy của thời gian, chỉ còn biết “ngơ ngác tiếc”! Nhưng không chỉ có thế, đó còn là là sự ý thức cao độ về chân giá trị - những “dốc lòng trao tặng”, “nhớ nhung đầy”, “cạn trắng sông xanh và biển biếc”,… dành tặng tình yêu nhưng lại chỉ nhận về mình thua thiệt. Tập thơ dẫu buồn như nước mắt nhưng cho ta nhận diện một gương mặt tình yêu thật đẹp mà tôi đảm bảo rằng bao nhiêu người sẽ phải ước ao bởi nó quá đỗi chân thành, cháy bỏng. Nhiều người đàn bà cũng yêu mãnh liệt nhưng đến mức cạn cùng, tan chảy, không ngại “lụy” để được yêu như thế này thì chỉ có một Đinh Thị Thu Vân:

Lụy yêu lụy nhớ lụy chờ

Lụy nao hơi thở, lụy đưa đẩy lời

Anh ơi em ngả nghiêng rồi

Bao nhiêu hạt máu đang rời trái tim!

(lụy)

Nhưng buồn quá phải không, bất công quá phải không vì giá mà mình cũng vô tâm, và không thành thật “trao đến phai tàn” để không phải nhận về, nhận ra những hờ hững mà ai đó vô tâm “trút xuống vai người”! Buồn thế, nhưng rồi biết làm gì hơn, hay chỉ biết cùng thơ ấm ức:

em ấm đầy nước mắt

mà lòng anh lạnh cằn

(những câu thơ khuỵu xuống)

Rất nhiều những giây phút “câu thơ khuỵu xuống” vì hụt hẫng, vì “trước vô tâm người đã tặng cho người”, vì sự thật “anh dừng lại đành sao giây phút tạm”,… Vậy mà, cả tập thơ, không có một dòng nào oán giận đến cay nghiệt, dù có hờn có trách. Có vẻ như người đàn bà chỉ muốn nhận về trọn vẹn nỗi khổ, coi đó như là định mệnh của đời mình:

em sẽ sống, cam lòng xin đánh đổi

chất ngất tủi hờn… để nhận chút hương rơi!

(là ngày mai đừng vội hôm nay)

Thương và cảm phục quá trái tim mong manh mà dũng cảm của người đàn bà hết mình với chữ “yêu’. Dường như đã có một tình yêu lớn để chị tựa vào. Nhưng cuộc đời trớ trêu lại chỉ cho người ta tìm thấy hạnh phúc trong nghịch cảnh. Coi mình như “con thiêu thân cam phận sống quên đời”, người đàn bà lao vào những đợt sóng ào ạt yêu thương nhớ nhung thắc thỏm. dù biết trước sẽ nhận về mình tận cùng bẽ bàng, chua xót. Mấy ai hiểu được, người đàn bà đã một khi đã yêu, còn bao dung cả với chính mình, cho nên có là gì đâu trước những điều này:

có thể vì anh đã quen nhận từ em những hy sinh lầm lũi

những chăm chút tận tình từ một phía thủy chung

(say buồn)

Trước linh cảm chia xa, cũng không trách móc mà chỉ thương. Đây là lời an ủi của một trái tim vị tha và thấu hiểu:

anh đừng xót, anh đừng đau

em đi, chẳng trách gì nhau, chẳng đành

chỉ là thương những dụm dành

đã không còn kịp trao anh kiếp này!

(hồn em theo nén nhang rời sẽ đau)

Lấy tình yêu làm cứu cánh, để rồi lạc vào chính nỗi đau do mình tạo nên, người đàn bà nhiều lúc muốn tự dối lòng, tự ngăn mình đến với xôn xao bất chợt. Bởi lẽ cùng với xôn xao luôn là sự xuất hiện của những dự cảm buồn:

đâu phải tình yêu- sương khói đấy, và mây

và bọt sóng đang đùa trêu- lần cuối đấy

không phải tình yêu đâu, V ơi, đừng đắm đuối

đừng hao gầy, thôi đừng ước một đời say...

(không phải tình yêu)

Đôi khi còn không cam lòng, “gồng” lên như thách thức, như sẵn sàng buông bỏ:

một ngày

mỏi mòn trong ảo vọng

tôi sẽ đem bán đi trái tim mình

không cần chọn người mua

không cần sòng phẳng!

(trái tim rao bán)

Trái tim rao bán có thể coi như một tín hiệu để nhận ra những bức bối đang đè nén, cũng như sự mâu thuẫn với chính mình có thể coi như dấu hiệu để nhận ra một tâm hồn đa cảm, đa đoan và đau đáu khát khao. Mong mình “đừng thiếu nữ” mà vẫn xôn xao nhung nhớ như thuở ban đầu. Đã không ít lần muốn “giẫm nát trái tim mình, giẫm nát khát khao đi” nhưng từng phút từng giờ vẫn không thôi tự ru mình và cồn cào mơ ước. Tự chúc mình “đừng thiếu nữ” mà “thèm khóc tuổi xuân không về nữa”. Nói “chẳng phải yêu đâu” nhưng lại tỏ bày niềm hoan hỉ được “đốt đời em lần cuối”:

chẳng phải yêu đâu- là em đang cạn máu

đang khát đến tận cùng, đang cháy đến tàn hơi

đâu phải là yêu- em đốt đời em lần cuối

phó thác tàn tro quanh quẩn dưới chân người!

(em không thể cam lòng trôi nổi)

Không phải chỉ là tình yêu, hình như còn nhiều hơn thế, cao hơn thế nữa.

Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ nói cho cùng, là tập thơ của những khát vọng được níu giữ, được đáp đền. Người đọc có thể không mấy đồng tình trước những tự ti mặc cảm, nhận mình bé mọn: “em chỉ là xác lá ven đường/ anh không nỡ giẫm chân lên” (lá khô), “em làm cát, em làm bùn, em xin làm cát vụn” (nhật kí) hoặc “nếu có kiếp sau, em xin làm bậc cửa/ làm thềm rêu lặng lẽ đợi chân người” (gió bụi chông chênh) nhưng không thể không “giật mình”, thương quý một khát vọng chính đáng- khát vọng gắn với tình yêu che chở cưu mang và sẵn lòng dâng hiến:

đủ tất cả, chỉ là không mảnh đất

để vun trồng và chăm chút mượt mà xanh!

(lá khô)

Mong manh mà mãnh liệt, tuyệt vọng rồi hy vọng, buông bỏ để quay về…Tất cả tạo thành những phức điệu tâm trạng mà bao trùm lên vẫn là mong ước khắc khoải tưởng như vô hồi vô tận. Không bàng bạc mà bật thốt thành tiếng những kêu thương:

tri kỉ ơi, lòng em như lửa đốt

chôn làm sao cho kín nhớ nhung đầy

tri kỉ ơi, lẽ nào anh chẳng thấy

em đã mềm hơn nước, mảnh hơn mây…

(tri kỉ ơi, anh có về như gió)

Se thắt nhất là những van nài khẩn thiết gửi tới chính số phận mình:

Hãy dừng lại đời tôi ngay khoảnh khắc đắm say người

Đừng trôi nữa… sông xa mời mịt quá

Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ

Mang phận buồm… không gió để ra khơi!

(đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ)

Tập thơ, ngoài nỗi buồn trĩu nặng như có hình có khối của một người đàn bà từng trải qua nhiều biến cố, còn là những mong manh của một trái tim phụ nữ nhạy cảm, dễ bị tổn thương. Chút chờ đợi trong chiều thành niềm tủi hờn ẩn ức bởi “quanh quẩn những lời yêu không dối được cứ loang nhòa” (Chiều). Bài Cuối con đường đơn chiếc là một trong những bài thơ ắp đầy những dịu dàng thắc thỏm chỉ sợ lạc nhau cuối con đường:

đừng dối em

anh có một trái tim

biết khóc

nột trái tim

khao khát vỗ về

....

anh dối em, em nhầm lẫn thì sao

ai chia sẻ khoảng đời riêng gió bão…

51 bài thơ là những tự bạch chân thành của một người đàn bà tự nhận mình là kẻ “mang nỗi buồn tay trắng” nhưng tôi thì không tin chỉ có vậy. Đối diện với lòng mình, để nhận ra mình, quan trọng nhất là được nói ra, được tỏ bày. Lấy tình yêu “để giữ ấm trái tim mình”, mong cứu rỗi chính mình, song tình yêu cùng niềm khao khát dù chỉ là phận cỏ vẫn đang biếc xanh để nâng đỡ chị và nhiều người khác. Miền yêu thương với “những lời yêu tơ lụa” vẫn cứ ánh lên óng ả bởi nâng niu trân trọng, và niềm tin vĩnh cửu “như xát muối...mà tình yêu vẫn sống”. Đó là niềm tin, đó cũng là niềm an ủi cho những ai đã hiểu “yêu thương đan quyện nỗi đau thầm”, nhận ra và thấu trải vị ngọt ngào sau nước mắt.

“Không đành bèo bọt trôi đi”, thơ Đinh Thị Thu Vân đã neo lại giữa cuộc đời bằng nỗi buồn đẹp và thuần khiết, và nhất định không thể chỉ là tuyệt vọng:

này những tình yêu, khi còn có thể

hãy nâng niu từng khoảnh khắc tay cầm

này những chiếc hôn sâu, khi còn có thể

hãy dịu dàng trao gửi trước trăm năm

(kề cận nhé khi còn có thể)

Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ chắc chắn nhận được nhiều đồng cảm, sẻ chia. Tất nhiên, người đọc còn yêu mến thơ Đinh Thị Thu Vân bởi chị là tác giả của những câu chữ vừa dung dị vừa tài hoa. Nhưng xin bàn về phương diện này trong một bài viết khác.

Thành phố HCM, tháng 3/ 2016
H.T.
(Bài đăng Văn Nghệ số ra ngày 16/4/2016).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm