TIN TỨC

Tình yêu mang phận cỏ và những khắc khoải tận cùng xanh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-11-13 00:07:47
mail facebook google pos stwis
2490 lượt xem

(Đọc Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ - Đinh Thị Thu Vân, NXB Hội Nhà văn, 2015)

HUỆ TRIỆU

Tôi nhớ cảm giác thảng thốt khi mới đọc mấy bài đầu tập thơ Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ của Đinh Thị Thu Vân và có một mong muốn lạ lùng rằng, ở những bài sau, sẽ gặp cái gì khác đi. Nhưng không, 5 bài, rồi 10 bài, rồi hết tập thơ, vẫn là cái mạch ấy - cái mạch bắt nguồn từ nỗi thương thân, từ những khắc khoải da diết tận cùng xanh kiếp cỏ!
 

Các nhà thơ Huệ Triệu và Đinh Thị Thu Vân

Viết cho mình là điều thông thường ở tất cả những người đã trót mang nghiệp viết, bởi nói cho cùng viết về điều gì hay về ai cũng chỉ là những hình thức khác nhau của sự đối thoại với chính mình. Tập thơ Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ cũng là sự đối thoại ấy, nhưng là đối thoại trực diện, thành thực nhất, quyết liệt nhất mà tôi từng thấy với nỗi buồn, nỗi cô đơn cho tới khi nó chảy tan thành nước mắt.

Cảm hứng thương thân trước hết bắt nguồn từ những ngậm ngùi, xót tiếc:

Em xót đời em rơi rụng nhớ nhung thừa

không dành dụm, không vẹn toàn hương lửa

đã hoang phí đã dại khờ đã lỡ

đã hanh hao tàn tạ suốt bao mùa!

(muộn)

Hay:

nửa niềm hy vọng đang vơi

tôi ngơ ngác tiếc đời tôi phai tàn

(nửa niềm hy vọng đang vơi)

Những câu thơ đọc lên buốt nhói bởi lẽ những “nhớ nhung thừa”, “hoang phí”, “dại khờ” kia là sự tự ý thức cùa một người đàn bà dường như đang bất lực trước dòng chảy của thời gian, chỉ còn biết “ngơ ngác tiếc”! Nhưng không chỉ có thế, đó còn là là sự ý thức cao độ về chân giá trị - những “dốc lòng trao tặng”, “nhớ nhung đầy”, “cạn trắng sông xanh và biển biếc”,… dành tặng tình yêu nhưng lại chỉ nhận về mình thua thiệt. Tập thơ dẫu buồn như nước mắt nhưng cho ta nhận diện một gương mặt tình yêu thật đẹp mà tôi đảm bảo rằng bao nhiêu người sẽ phải ước ao bởi nó quá đỗi chân thành, cháy bỏng. Nhiều người đàn bà cũng yêu mãnh liệt nhưng đến mức cạn cùng, tan chảy, không ngại “lụy” để được yêu như thế này thì chỉ có một Đinh Thị Thu Vân:

Lụy yêu lụy nhớ lụy chờ

Lụy nao hơi thở, lụy đưa đẩy lời

Anh ơi em ngả nghiêng rồi

Bao nhiêu hạt máu đang rời trái tim!

(lụy)

Nhưng buồn quá phải không, bất công quá phải không vì giá mà mình cũng vô tâm, và không thành thật “trao đến phai tàn” để không phải nhận về, nhận ra những hờ hững mà ai đó vô tâm “trút xuống vai người”! Buồn thế, nhưng rồi biết làm gì hơn, hay chỉ biết cùng thơ ấm ức:

em ấm đầy nước mắt

mà lòng anh lạnh cằn

(những câu thơ khuỵu xuống)

Rất nhiều những giây phút “câu thơ khuỵu xuống” vì hụt hẫng, vì “trước vô tâm người đã tặng cho người”, vì sự thật “anh dừng lại đành sao giây phút tạm”,… Vậy mà, cả tập thơ, không có một dòng nào oán giận đến cay nghiệt, dù có hờn có trách. Có vẻ như người đàn bà chỉ muốn nhận về trọn vẹn nỗi khổ, coi đó như là định mệnh của đời mình:

em sẽ sống, cam lòng xin đánh đổi

chất ngất tủi hờn… để nhận chút hương rơi!

(là ngày mai đừng vội hôm nay)

Thương và cảm phục quá trái tim mong manh mà dũng cảm của người đàn bà hết mình với chữ “yêu’. Dường như đã có một tình yêu lớn để chị tựa vào. Nhưng cuộc đời trớ trêu lại chỉ cho người ta tìm thấy hạnh phúc trong nghịch cảnh. Coi mình như “con thiêu thân cam phận sống quên đời”, người đàn bà lao vào những đợt sóng ào ạt yêu thương nhớ nhung thắc thỏm. dù biết trước sẽ nhận về mình tận cùng bẽ bàng, chua xót. Mấy ai hiểu được, người đàn bà đã một khi đã yêu, còn bao dung cả với chính mình, cho nên có là gì đâu trước những điều này:

có thể vì anh đã quen nhận từ em những hy sinh lầm lũi

những chăm chút tận tình từ một phía thủy chung

(say buồn)

Trước linh cảm chia xa, cũng không trách móc mà chỉ thương. Đây là lời an ủi của một trái tim vị tha và thấu hiểu:

anh đừng xót, anh đừng đau

em đi, chẳng trách gì nhau, chẳng đành

chỉ là thương những dụm dành

đã không còn kịp trao anh kiếp này!

(hồn em theo nén nhang rời sẽ đau)

Lấy tình yêu làm cứu cánh, để rồi lạc vào chính nỗi đau do mình tạo nên, người đàn bà nhiều lúc muốn tự dối lòng, tự ngăn mình đến với xôn xao bất chợt. Bởi lẽ cùng với xôn xao luôn là sự xuất hiện của những dự cảm buồn:

đâu phải tình yêu- sương khói đấy, và mây

và bọt sóng đang đùa trêu- lần cuối đấy

không phải tình yêu đâu, V ơi, đừng đắm đuối

đừng hao gầy, thôi đừng ước một đời say...

(không phải tình yêu)

Đôi khi còn không cam lòng, “gồng” lên như thách thức, như sẵn sàng buông bỏ:

một ngày

mỏi mòn trong ảo vọng

tôi sẽ đem bán đi trái tim mình

không cần chọn người mua

không cần sòng phẳng!

(trái tim rao bán)

Trái tim rao bán có thể coi như một tín hiệu để nhận ra những bức bối đang đè nén, cũng như sự mâu thuẫn với chính mình có thể coi như dấu hiệu để nhận ra một tâm hồn đa cảm, đa đoan và đau đáu khát khao. Mong mình “đừng thiếu nữ” mà vẫn xôn xao nhung nhớ như thuở ban đầu. Đã không ít lần muốn “giẫm nát trái tim mình, giẫm nát khát khao đi” nhưng từng phút từng giờ vẫn không thôi tự ru mình và cồn cào mơ ước. Tự chúc mình “đừng thiếu nữ” mà “thèm khóc tuổi xuân không về nữa”. Nói “chẳng phải yêu đâu” nhưng lại tỏ bày niềm hoan hỉ được “đốt đời em lần cuối”:

chẳng phải yêu đâu- là em đang cạn máu

đang khát đến tận cùng, đang cháy đến tàn hơi

đâu phải là yêu- em đốt đời em lần cuối

phó thác tàn tro quanh quẩn dưới chân người!

(em không thể cam lòng trôi nổi)

Không phải chỉ là tình yêu, hình như còn nhiều hơn thế, cao hơn thế nữa.

Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ nói cho cùng, là tập thơ của những khát vọng được níu giữ, được đáp đền. Người đọc có thể không mấy đồng tình trước những tự ti mặc cảm, nhận mình bé mọn: “em chỉ là xác lá ven đường/ anh không nỡ giẫm chân lên” (lá khô), “em làm cát, em làm bùn, em xin làm cát vụn” (nhật kí) hoặc “nếu có kiếp sau, em xin làm bậc cửa/ làm thềm rêu lặng lẽ đợi chân người” (gió bụi chông chênh) nhưng không thể không “giật mình”, thương quý một khát vọng chính đáng- khát vọng gắn với tình yêu che chở cưu mang và sẵn lòng dâng hiến:

đủ tất cả, chỉ là không mảnh đất

để vun trồng và chăm chút mượt mà xanh!

(lá khô)

Mong manh mà mãnh liệt, tuyệt vọng rồi hy vọng, buông bỏ để quay về…Tất cả tạo thành những phức điệu tâm trạng mà bao trùm lên vẫn là mong ước khắc khoải tưởng như vô hồi vô tận. Không bàng bạc mà bật thốt thành tiếng những kêu thương:

tri kỉ ơi, lòng em như lửa đốt

chôn làm sao cho kín nhớ nhung đầy

tri kỉ ơi, lẽ nào anh chẳng thấy

em đã mềm hơn nước, mảnh hơn mây…

(tri kỉ ơi, anh có về như gió)

Se thắt nhất là những van nài khẩn thiết gửi tới chính số phận mình:

Hãy dừng lại đời tôi ngay khoảnh khắc đắm say người

Đừng trôi nữa… sông xa mời mịt quá

Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ

Mang phận buồm… không gió để ra khơi!

(đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ)

Tập thơ, ngoài nỗi buồn trĩu nặng như có hình có khối của một người đàn bà từng trải qua nhiều biến cố, còn là những mong manh của một trái tim phụ nữ nhạy cảm, dễ bị tổn thương. Chút chờ đợi trong chiều thành niềm tủi hờn ẩn ức bởi “quanh quẩn những lời yêu không dối được cứ loang nhòa” (Chiều). Bài Cuối con đường đơn chiếc là một trong những bài thơ ắp đầy những dịu dàng thắc thỏm chỉ sợ lạc nhau cuối con đường:

đừng dối em

anh có một trái tim

biết khóc

nột trái tim

khao khát vỗ về

....

anh dối em, em nhầm lẫn thì sao

ai chia sẻ khoảng đời riêng gió bão…

51 bài thơ là những tự bạch chân thành của một người đàn bà tự nhận mình là kẻ “mang nỗi buồn tay trắng” nhưng tôi thì không tin chỉ có vậy. Đối diện với lòng mình, để nhận ra mình, quan trọng nhất là được nói ra, được tỏ bày. Lấy tình yêu “để giữ ấm trái tim mình”, mong cứu rỗi chính mình, song tình yêu cùng niềm khao khát dù chỉ là phận cỏ vẫn đang biếc xanh để nâng đỡ chị và nhiều người khác. Miền yêu thương với “những lời yêu tơ lụa” vẫn cứ ánh lên óng ả bởi nâng niu trân trọng, và niềm tin vĩnh cửu “như xát muối...mà tình yêu vẫn sống”. Đó là niềm tin, đó cũng là niềm an ủi cho những ai đã hiểu “yêu thương đan quyện nỗi đau thầm”, nhận ra và thấu trải vị ngọt ngào sau nước mắt.

“Không đành bèo bọt trôi đi”, thơ Đinh Thị Thu Vân đã neo lại giữa cuộc đời bằng nỗi buồn đẹp và thuần khiết, và nhất định không thể chỉ là tuyệt vọng:

này những tình yêu, khi còn có thể

hãy nâng niu từng khoảnh khắc tay cầm

này những chiếc hôn sâu, khi còn có thể

hãy dịu dàng trao gửi trước trăm năm

(kề cận nhé khi còn có thể)

Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ chắc chắn nhận được nhiều đồng cảm, sẻ chia. Tất nhiên, người đọc còn yêu mến thơ Đinh Thị Thu Vân bởi chị là tác giả của những câu chữ vừa dung dị vừa tài hoa. Nhưng xin bàn về phương diện này trong một bài viết khác.

Thành phố HCM, tháng 3/ 2016
H.T.
(Bài đăng Văn Nghệ số ra ngày 16/4/2016).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm