TIN TỨC

Tinh thần Phù Đồng từ chiến tranh đến hòa bình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-19 08:38:50
mail facebook google pos stwis
1877 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

HOÀI HƯƠNG

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh, nguyên Phó Tư lệnh chính trị Mặt trận 479, Phó Tư lệnh chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 4, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 2. Một tướng trận với nhiều vết thương trên mình trong chiến tranh chống Mỹ, nhưng cho dù sức khỏe có “hao hụt” ít nhiều thì ông vẫn luôn mang tình thần “Phù Đổng” quê hương Sóc Sơn của ông phụng sự theo lý tưởng “Vì nhân dân quên mình” của một quân nhân Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh được Đảng, nhà nước, quân đội thăng quân hàm thiếu tướng khi tuổi đời mới ngoài 40 và được tặng thưởng 2 Huân chương quân công, 6 Huân chương chiến công các loại, Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng nhất, Huy chương quân kỳ quyết thắng, Huân chương kháng chiến hạng nhất, và nhiều huân huy chương khác.

Ông sinh năm 1939 tại thôn Trung, xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, mảnh đất giàu lòng yêu nước và hiếu học. Năm 1962, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, và năm 1963, khi phía quân đội Chính phủ Sài Gòn ở miền Nam được trợ giúp của Chính phủ Mỹ, tiến hành leo thang chiến tranh vượt qua vĩ tuyến 17, phá hoại nhiều điều khoản của Hiệp định Genève, ông gia nhập quân đội, với tinh thần và lý tưởng hướng về miền Nam ruột thịt, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đánh đuổi quân xâm lược Mỹ, thống nhất đất nước.

Câu chuyện về ông bắt đầu từ việc ông “khởi động”, kích hoạt lại việc đi tìm mộ liệt sĩ đồng đội trong chiến tranh chống Mỹ ở chiến trường Đông Nam bộ sau 2 năm Covid-19.

Một chiến binh thao lược trên chiến trường

Cuộc đời binh nghiệp của tướng Nguyễn Ngọc Doanh gắn liền với chiến trường miền Đông Nam bộ. Năm 1966, ông được vào Nam chiến đấu. Từ trận đánh đầu tiên ngày 10/8/1966 cho đến những trận đánh giải phóng chi khu Đồng Xoài, Phước Long, Chi khu Định Quán, Lâm Đồng, Xuân Lộc, Long Khánh, vô cùng ác liệt “Mở cánh cửa thép tấn công vào giải phóng Sài Gòn”… Và những chiến dịch, những trận đánh trên đường 13, chiến dịch Nguyễn Huệ, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, các cuộc chiến biên giới sau này, trong suốt 34 năm chiến trận của ông là minh chứng cho lòng quả cảm, tài thao lược, từ một người lính đến một chỉ huy cấp Quân đoàn – Quân đoàn 4, trọng yếu chiến lược của miền Đông Nam bộ.

Sau 30/4/1975, ông tham gia nhiệm vụ quân quản, củng cố xây dựng chính quyền cách mạng ở quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Sau đó, ông được cử đi học nâng cao kiến thức Quân sự trong thời kỳ mới ở Học viện Quốc phòng. Tốt nghiệp, ông được cấp trên cử đi làm nhiệm vụ quốc tế, là chuyên gia của Sư đoàn 196, Sư đoàn đầu tiên của quân đội cách mạng Campuchia. Đến tháng 3/1983 là trưởng Đoàn 7704; năm 1984, kiêm phó đoàn chuyên gia thống nhất tỉnh Bát Tam Bong.

Trận đầu tiên suýt thành tử sĩ

Ngày 10/8/1966, tại Đường 10 Vĩnh Thiện, gần Bù Đăng (tỉnh Bình Phước), trận đầu tiên trong cuộc đời chiến binh, ông và đồng đội chạm trán với toán biệt kích Sài Gòn và ông bị thương rất nặng. “Tôi bị quân Sài Gòn bắn gần như thẳng mặt, vỡ xương hàm, chân bị bắn rách toác cơ đùi. Trên đường lui về cùng đồng đội lại bị ném bom chặn đường. Tôi lịm đi. Lúc đó, tưởng tôi đã hy sinh, đồng đội đào huyệt, do còn chiến đấu nên đắp võng và lá cây lên, đợi xong trận thì chôn… Tối đến, đơn vị cử hai đồng đội là Bế Ích Quân, quê Cao Bằng và Đinh Văn Lĩnh, quê Phú Thọ ra chôn tôi. Trong khi ôm tôi vào lòng lần cuối thì anh Quân phát hiện chân tôi không có dép nên quyết tìm cho tôi đôi dép để “về dưới kia có cái mà đi lại”. Đầu kia, anh Lĩnh cứ thế xúc đất hất vào huyệt để chôn. Kiếm được dép, khi sờ vào chân, anh Quân hét to: “Dừng lại, chân anh Doanh vẫn còn ấm lắm, anh Lĩnh ơi!”. Và tôi được đưa trở lại đơn vị cấp cứu… Sống mạnh khỏe tới hôm nay”.


Tác giả trò chuyện với tướng Doanh. (Ảnh do tác giả cung cấp)

Chiến dịch cuối cùng của thời chống Mỹ

Trận đánh đồn Tân Hưng ngày 11/7/1967 là trận đánh công sự vững chắc lần đầu tiên ở miền Đông Nam bộ, và ông được giao nhiệm vụ dùng lựu đạn kích nổ bộc phá, cho bộ đội xông lên làm chủ trân địa, trận này ông bị thương nặng. Tháng 2/1969, Tiểu đoàn của ông được tham gia đánh tiêu diệt Tiểu đoàn lính dù Mỹ vừa đổ bộ xuống Bến Tranh với pháo hạng nặng, xe tăng, trận này ông lại bị thương suýt thành “liệt sĩ”. Từ cuối năm 1969 đến đầu 1974, ông tham gia đánh hàng chục trận, cùng đồng đội tiêu diệt hàng trăm lính Mỹ, phá hủy hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp của địch.

Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn. Ông hào hứng, y như trận chiến vừa mới xảy ra, còn “nóng”: “Đơn vị tôi là E141, F7 cùng tướng Lê Nam Phong đánh hướng Đông Bắc Sài Gòn. E141, được nhận lá cờ từ tay chỉ huy trưởng mặt trận Hoàng Cầm để vào cắm trong dinh Độc Lập khi ta đánh tới nơi, bởi đơn vị đã từng chiến thắng và cắm cờ trên Dinh Tỉnh trưởng Phước Long trong trận giải phóng đường 14 – Phước Long ngày 6/1/1975. Đêm 29 rạng sáng 30/4, đơn vị được lệnh tiến quân thọc sâu vào Sài Gòn nhưng khi vừa đến cầu Suối Máu (Biên Hòa) thì gặp địch đánh chặn, đơn vị buộc phải triển khai đội hình chiến đấu chiếm Tháp Chuông (Biên Hòa) trong suốt đêm 29/4. Vào đến cầu mới (cầu Hóa An hiện nay) lại bị đánh sập 2 nhịp, đơn vị lại phải vòng trở ra quốc lộ I tiến quân vào ngã 3 Vũng Tàu…”.

Sau đó đơn vị của ông được giao nhiệm vụ đầy khó khăn và hoàn toàn mới mẻ với lính chiến, làm nhiệm vụ quân quản tại quận 1, cụ thể là khu vực dinh Độc Lập.

Và làm chuyên gia trong chiến tranh biên giới Tây Nam

Những kinh nghiệm trong chiến trận của ông tưởng chừng khi hòa bình thống nhất đất nước sẽ chỉ còn nằm trong các sách tổng kết “binh thư yếu lược” chiến tranh cách mạng của Quân đội ta, thì một lần nữa ông lại mang ra dùng, mà lần này là một thách thức không hề nhỏ. Vâng! Đó là cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam Việt Nam và giúp nước bạn thoát khỏi họa diệt chủng của bè lũ Khmer Đỏ phản động Pol Pot – Ieng Xari…

Nguyên Phó Tư lệnh chính trị Mặt trận 479, Nguyễn Ngọc Doanh kể: “Thực hiện đường lối quốc tế trong sáng của Đảng ta từ thời xưa: “Liên minh đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương chống kẻ thù chung”, “Giúp bạn là tự giúp mình”, đồng thời thực hiện “Hiệp ước hòa bình hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai chính phủ Việt Nam – Campuchia, ngày 14/4/1979, Mặt trận 479 được thành lập”.

Trải qua hơn 10 năm cùng với Bộ Tư lệnh Mặt trận, ông cùng các lãnh đạo đã chỉ huy các đơn vị thực thi nhiệm vụ tổ chức truy quét, đánh phá hệ thống căn cứ kho tàng của Khmer Đỏ trên các địa bàn chiến lược, đánh tan toàn bộ hệ thống căn cứ của Khmer Đỏ trên tuyến biên giới, bóc gỡ hầu hết các lõm căn cứ trong nội địa, loại khỏi vòng chiến đấu lính Khmer Đỏ trong lực lượng “Ba phái”; Phối hợp cùng bạn chữa bệnh, cứu đói, ổn định đời sống nhân dân, giúp bạn xây dựng chính quyền cách mạng cơ sở, xây dựng lực lượng dân quân du kích phum, xã; xây dựng bộ đội huyện, bộ đội tỉnh và bộ đội chủ lực; ổn định đời sống của nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố chính quyền cơ sở từng bước để bạn tự đảm đương được nhiệm vụ quản lý, bảo vệ địa bàn.

Với đồng đội như tình ruột thịt

Trở về thời bình, trưởng thành từ người lính cho đến một vị tướng, nên ông thấu hiểu những tâm tư tình cảm, những trở lực mà người lính phải đương đầu, phài vượt qua trong thời bình. Xuất phát từ trách nhiệm chính trị, sinh mệnh của những người lính, quyền lợi của người chiến sĩ, việc đầu tiên ông làm là đề xuất xây dựng doanh trại, nơi ăn chốn ở đàng hoàng cho bộ đội, liên hệ đăng ký hộ khẩu cho vợ con cán bộ để ổn định cuộc sống yên tâm công tác… Ông thương lính như thương con em của mình, vì thế khi quyết định những vấn đề gì đều được kiểm tra kỹ càng, đi tận nơi xác định cụ thể, mới hạ quyết tâm thực hiện. Ngoài ra, ông quan tâm giải quyết quyền lợi cho cán bộ chiến sĩ, kịp thời đề xuất bổ nhiệm, thăng hàm, cân nhắc đưa đi đào tạo, khen thưởng động viên khích lệ, nhất là với lính trẻ có năng lực, có tài năng…

Tinh thần trách nhiệm công dân

Năm 1992, sau 34 năm chinh chiến, những vết thương trong chiến tranh đã làm cho sức khỏe của ông yếu đi, ông được nghỉ hưu theo chính sách. Nhưng cho dù nghỉ hưu, thì tinh thần chiến binh vẫn cứ chảy trong huyết quản của ông, ông vẫn có cách cống hiến năng lực trí tuệ theo cáchh riêng của mình. Ông hoạt động xã hội, đóng góp nhiều ý kiến thiết thực với chính quyền địa phương trong công tác an ninh trật tự, bài trừ tệ nạn xã hội, vận động các doanh nghiệp cá nhân, các cựu chiến binh đóng góp xây dựng nhà tình thương, giúp đồng đội cũ, gây quỹ tặng quà cho học sinh nghèo hiếu học… Ông sống bình dị, chịu thương chịu khó, sống tiết kiệm, mở lòng thương yêu đồng chí, đồng đội và bà con khu phố, luôn tích cực tham gia công tác địa phương, đảm nhiệm nhiều chức vụ: Tổ trưởng Đảng, Phó Ban mặt trận khu phố, Phó Chủ tịch Hội CCB phường, trong Ban kiểm tra Hội CCB Quận Bình Thạnh, Trưởng Ban liên lạc Truyền thống của nhiều đơn vị như: Mặt trận 479, Quân đoàn 4, Sư đoàn 7, Sư đoàn 312…

Nghĩa tình đồng đội và những cuộc tìm kiếm suốt hơn 30 năm nay

Sau khi về hưu, dù mang trong mình tỷ lệ thương tật 78% nhưng Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh đã mang trái tim người lính, dành chút sức của mình đi đến nhiều vùng miền của Tổ quốc, từ non cao đến rừng sâu, sông dài, núi lớn, thậm chí sang cả nước bạn Campuchia để tìm hài cốt của những đồng đội đã một thời cùng ông vào sinh ra tử trong chiến tranh…

Tháng 8/2012, ông nhận Quyết định làm Giám đốc Trung tâm tìm kiếm hài cốt liệt sĩ (thuộc Hội hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam). Với tướng Doanh bây giờ công việc chính và qua trọng nhất của ông là tìm mộ liệt sĩ. Từ khi thành lập Trung tâm tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, bằng sự chỉ huy điều hành nhạy bén và kiên trì của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh, trung tâm đã tìm kiếm được trên 350 bộ hài cốt liệt sĩ từ các cánh rừng miền Đông Nam bộ đưa vào nghĩa trang. Có trên 50 hài cốt đã được đưa về quê hương liệt sĩ ở mọi miền đất nước.

Mỗi một cuộc tìm kiếm là một cuộc thử thách gian khó, không chỉ là sự kiên trì bền chí, tình yêu đồng đội, mà còn là nhữg thử thách của thiên nhiên, của sự thay đổi điền địa của địa phương… Có nhiều khi phải lội bộ hàng chục km đường rừng, phải vượt bao dốc cao, suối sâu, bất kể nắng mưa mới đến được khu chôn cất các anh. Có khi phải dùng cả máy ủi, máy đào để khai quật, tìm kiếm phần mộ… Rất nhiều đêm ông và mọi người cùng đi ngủ lại trong rừng, ăn lương khô, mì gói như thời chiến tranh.

Trong các câu chuyện về ông kể thời chiến tranh, loanh quanh một chút là ông lại nhắc đến những trận đánh, ông vẫn bồn chồn không yên khi nghĩ đến những đồng đội còn nằm lạnh lẽo nơi những cánh rừng, ngọn đồi, ven các con suối ở các chiến trường từ Bắc vào Nam. Chính điều đó đã thôi thúc ông phải quyết tâm đi tìm đồng đội đã hy sinh: “Việc làm này của tôi và các cựu chiến binh hiện nay một phần trả ơn đời, một phần tri ân đồng đội, luôn cảm thấy mình mắc nợ những người đã cùng tôi vào sinh ra tử, nhất là những đồng đội đã hy sinh tại chiến trường”…

Có lúc ông nghẹn giọng: “Điều tôi trăn trở nhiều nhất là chính là đồng đội năm xưa đã cứu sống tôi. Sau đó hai anh hy sinh tại chiến trường, nhưng đến nay tôi vẫn chưa thể tìm được hài cốt để đưa các anh về quê hương. Tôi cứ nghĩ, chỉ có mình từng biết vị trí đồng đội ngã xuống, nên còn sức ngày nào còn đi tìm hài cốt đồng đội, đưa về yên nghỉ tại quê hương thì tôi mới an lòng”.

Ông “khoe” với tôi chiếc cặp, trong đó là hàng chục tấm sơ đồ mộ chí với hơn 500 liệt sĩ ở đồi Bắc Sơn, 164 liệt sĩ ở Cần Lê, 1067 liệt sĩ ở Bù Gia Mập, 901 liệt sĩ ở Tàu Ô…, hàng chục ngàn liệt sĩ ở khắp các chiến trường Nam bộ và nước bạn Campuchia. Các sơ đồ mộ chí đều có danh sách ghi rõ họ tên, quê quán… từng cán bộ chiến sĩ, mà tới nay vẫn chưa tìm thấy phần mộ.

Vì thế, ngày đêm tướng Doanh cứ đau đáu nỗi niềm với câu hỏi: “Liệu đến bao giờ tìm được hài cốt các anh!”.

Nguồn: Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 36

Bài viết liên quan

Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm