TIN TỨC

Trăng Lạnh” và một trái tim ấm áp

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-11-21 10:26:16
mail facebook google pos stwis
2063 lượt xem

 

HOÀI HƯƠNG

“Trăng lạnh”, tập thơ mới nhất của nhà thơ Trần Thế Tuyển đến với tôi như một một món quà tặng của người anh “đồng đội”, như một sự chia sẻ cảm xúc của  người yêu văn thơ, để cùng ngân nga lọc tìm những câu thơ đẹp, để có những khoảnh khắc lắng đọng chiêm nghiệm nhân gian thế sự, để càng trân quý hơn cuộc sống, tình yêu và sự thanh bình…

 Nếu dùng hai từ để nói về Đại tá - Nhà thơ- Nhà báo Trần Thế Tuyển, tôi dùng hai từ “Ấm áp”. Và khi đọc“Trăng lạnh”, tập thơ thứ 14 hay 15 (tôi không nhớ hết) tôi vẫn cảm nhận được sự ấm áp ấy. Vâng! Không phải hiện tại nhà thơ Trần Thế Tuyển “ấm áp”, mà có lẽ từ hơn 40 năm trước, lần gặp đầu tiên, khi tôi là một tân binh của Cục Chính trị Quân khu 7, tôi được đọc những bài thơ của anh trên báo Quân khu 7, đã thích những câu thơ đầy chất lính mà cũng đầy tình cảm về quê hương và đồng đội. cho đến tận hiện tại, tôi vẫn đọc thơ anh từ báo Quân đội nhân dân, tạp chí Văn nghệ Quân đội, và ở các tờ báo khác như Nhân dân, Sài Gòn Giải phóng, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Tiền Phong… như một cách dõi theo hành trình thơ của anh. Thơ anh như những trang nhật ký của người lính hôm qua - hôm nay và tương lai, những trang thơ chân tình, bình dị, hồn hậu, ngôn từ chân phương, không màu mè kỹ thuật, mà ý thơ sâu sắc, nhiều cung bậc cảm xúc, để cảm nhận một “người thơ” chân tình, khiêm nhường, tràn đầy nhân nghĩa, luôn đau đáu tình thương yêu thấm đẫm với đồng đội, với quê hương, với đất nước…

Hơn 60 bài thơ được chia thành ba chương: Trăng lạnh, Có một vầng trăng và Kỷ vật, là hơn 60 cung bậc cảm xúc bằng thơ từ trái tim nhà thơ Trần Thế Tuyển, là những ánh trăng không hề “lạnh”, mà lấp lánh trong đó là sự ấm áp của trái tim sâu nặng tình người “Người ta trong cõi người ta/ Hơn nhau nhịp đập, mặn mà nông sâu- Trái tim.

Ngay từ ban đầu, tôi đã hơi có chút thắc mắc tại sao lại là “Trăng lạnh”, làm tên tập thơ, là phần mở đầu tập thơ, và có gì “lạnh” không? Nhưng khi đọc bài thơ “Trăng lạnh” thì tôi đã hiểu, từ “lạnh” ở đây của nhà thơ Trần Thế Tuyển, là cái “lạnh” của nỗi nhớ quê đến thao thiết tâm can, đến the thắt từng nhịp đập trái tim, thân nhìn vầng trăng xứ biển Nha Trang, mà thần lạc về tới trăng quê nhà Nam, và lúc đó, thì trăng không còn “lạnh”, mà như đang có quê hương theo ánh trăng đến bên mình, ánh trăng bỗng thành một tình yêu ấm áp: Trăng nhớ ai mà ánh mắt thẫn thờ/ Nhớ cánh đồng ngô non bát ngát/ Nhớ câu ca em nghêu ngao thường hát/ Em có về Nam Định với anh không?/ Trăng nhớ ai vừa lạ vừa quen/ Biển vẫn hát tình ca muôn thuở…”.

Làm sao có thể “lạnh” khi đọc các bài thơ: Thời ta còn trẻ, Có một thời ta trẻ, Xin cho tôi ngọn lửa, Khai bút Giáp Thìn… vẫn hừng hực thanh xuân như cách Trần Thế Tuyển thời “Ngực đá”- 1997. Làm sao có thể “lạnh” khi trái tim vẫn luôn đập những nhịp trăn trở, day dứt thế sự cuộc đời, không bàng quan, không thờ ơ, mà đầy lương tâm trách nhiệm với những hiện thực cuộc sống: Có những lúc, Những đứa trẻ, Thiên thư, Ngẫm bình minh, Thương phận, Đời người, Ta còn một chút, Bức tranh cuộc đời, Tạm biệt, Sự đời…

Nhà thơ Trần Thế Tuyển (trái) tặng thơ cho bạn đọc

Và không thể “lạnh” khi những câu thơ đầy chất thơ miêu tả quê hương, là miền quê lúc giao mùa, vào mùa, chín trong mùa đẹp như những bức tranh…, là hoài niệm trường lớp ngày xưa, là ký ức quá khứ chồng chồng lớp lớp được hồi sinh, được khơi dậy  trong “Có một vầng trăng”. “Có một giấc mơ rất lạ/ Mắt em biếc xanh mộc lá/ Gió vờn lả lướt hương xưa/ Có một mùa trăng đò đưa…/ Có một vầng trăng lấp ló/ Người xưa để lại trăng non/ Mãi mãi ngàn năm, còn đó/ Hư vô, ẩn hiện vết son…”- Có một vầng trăng.

Là ký ức về quê hương tuổi thơ, là những ngày đi học, là những mơ mộng tuổi thanh xuân, là những giai điệu mênh mang miền sông nước trải lòng thao thiết…

Ta trở về mái nhà xưa/ Nơi dấu chân in thời thơ ấu/ Nửa thế kỷ giữa cõi đời yêu dấu/ Cứ nghĩ mình trong mơ…”- Trở về mái nhà xưa. “Nhớ trường, nhớ lớp bao nhiêu/ Nhớ thầy cô với bao điều dạy răn./ Nhớ cây bàng đứng giữa sân/ Bao nhiêu tuổi lá vẫn xanh, vẫn vàng?”- Vẫn mãi học trò. “Tiếng sấm đêm Hà Nội/ Đánh thức tuổi thơ tôi/ Năm mươi năm vời vợi/ Sấm vẫn đầy vẫn vơi…”- Tiếng sấm đêm Hà Nội. “Đêm phương Nam trái phải/ Nghe Dạ cổ hoài lang…/ Thương cánh đồng bát ngát/ Lộng gió chiều dân ca/ Cánh buồm thì xa lắc/ Chỉ còn ta với ta”- Kiên Giang nghe Dạ cổ hoài lang…

Mẹ trong thơ của nhà thơ Trần Thế Tuyển là một chủ đề lớn, và gần như trong tác phẩm thơ nào của anh cũng đều có những bài thơ về mẹ, từ nỗi nhớ thương cho đến sự biết ơn sinh thành, đến cao hơn khi tình yêu thương mẹ là tình yêu Tổ quốc thiêng liêng.Trong tập thơ này, mẹ là hạnh phúc, mẹ là nơi để trở về. Không có Mẹ/ Làm sao con biết bầu trời/ Trong xanh thế mà mây đen vần vũ/ Không có Mẹ/ Sao chúng con có thể thành Người/ Sống hết mình cho tương lai, quá khứ”- Ngày của mẹ. “Hạnh phúc nhất trên đời còn mẹ/ Dẫu mái đầu mây trắng buông trôi/ Con bỗng thấy cánh cò chở nắng/ Và nụ cười em bé trong nôi”- Hạnh phúc nhất trên đời còn mẹ.

Đặc biệt trong phần này, có nhiều bài thơ tua lại những thước phim kỷ niệm một thời chiến tranh, là một quãng đời nhà thơ Trần Thế Tuyển - một người lính Quân đội nhân dân, đã trải nghiệm sinh tử, và đau đáu những câu thơ nhớ nghĩ về đồng đội - những người đã hy sinh, như một nhắc nhở “không ai, không việc gì bị quên lãng”, để sống nghĩa tình, trả nợ những ân tình…

Đạp ngược gió tìm về quá khứ/ Ta run run hỏi chuyện cây bàng/ Chiến tranh đi qua ít lành, nhiều dữ/ Bạn ta nằm đâu, nơi tiếng súng ầm vang”- Đạp ngược gió tìm về quá khứ. “Đêm Kiên Giang/ Ngọn gió thúc thôi/ Bao tráng sĩ bước lên từ biển/ Câu thơ xưa đã thành kinh điển:“Hồn bay lên hoá Linh khí Quốc gia”- Đêm Kiên Giang(2).

“Kỷ vật”, không phải là “vật thể” mà là tình yêu thương thiêng liêng hóa thành những câu thơ, bài thơ đọc mà rưng rưng, là những hồi ức chiến tranh, là tình đồng đội sinh tử, và người hôm nay sống cả phần đời bao người đã hy sinh… “Ký ức xưa và bây giờ/ Kỷ vật “phi vật thể”/ Theo tôi đi suốt cuộc đời dâu bể/ Không quên!.”

Câu thơ đã thành câu đối đang được lan tỏa ở nhiều đền đài liệt sĩ trong cả nước: Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc /Hồn bay lên hóa linh khí Quốc gia”- Các anh không trở về ở lại giữa rừng sâu/ Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc/ Các anh không về quên mình vì đất nước/ Hồn bay lên hoá Linh khí Quốc gia”- Mây trắng xa xăm. “Mọi người đang được hưởng/ Cuộc sống này ấm êm/ Bao nhiêu người ngã xuống/ Nơi chiến trường đạn bom.”- Em hóa thành nước non. “Đồng đội ơi, yên lòng nhé/ Dẫu năm dài tháng rộng qua đi/ Chúng tôi vẫn khắc ghi ngày ấy/ Nơi cuối rừng bom rơi lửa cháy… Đồng đội ơi!/Hãy yên nghỉ ngàn thu/ Chúng tôi sống thêm phần đời của bạn…”- Đồng đội ơi.

“Kỷ vật” là “Tiếng mẹ tiếng sóng”- Tổ quốc lâm nguy chúng con chia tay mẹ/ Tráng sĩ lên đường theo gót cha ông/ Gửi lại lời ru, luống cày, ruộng mạ/ Dâng đời trai cho Tổ quốc, non sông. Tạm biệt mẹ, lời ru dịu ngọt…/ Chúng con đi theo tiếng sóng ầm vang/ Biển Tổ quốc phải ngàn năm nguyên vẹn/ Dù máu chúng con thắm đỏ giang san”…

“Kỷ vật” là “Tháng Tư Tây Nguyên”:… Âm vang, vời vợi/ Bao chiến sĩ quên mình/ Chưa có tên/ Bia ghi danh các anh/ Tháng Tư Tây Nguyên ấm áp”. Là “Bóng mát Cơ nia”: “Về, thưa với mẹ chuyện “động trời”/ Mẹ bình tĩnh nhai trầu, khẽ bảo:/ Không sao đâu, thân thể em con đã lẫn vào cây cỏ/ Đã thành đất đai của Tổ quốc thiêng liêng…”.

Khép lại tập thơ, một chút lắng, để nén cảm xúc rưng rưng. “Trăng lạnh” của nhà thơ Trần Thế Tuyển, rất ấm áp. Những câu thơ, bài thơ, cho dù là nỗi nhớ, cho dù là nỗi buồn, cho dù là những thao thức thế sự nhân sinh…, vẫn thầm lan tỏa tình yêu, từ quê  hương nơi chôn nhau cắt rốn đến đồng đội sinh tử trong chiến tranh, từ người mẹ tảo tần mưa nắng đến Việt Nam Tổ quốc tiêng liêng.   

Nhà thơ Trần Thế Tuyển nguyên là chiến sĩ Trung đoàn 174 Cao Bắc Lạng Anh hùng, từng trực diện chiến đấu từ Tây Nguyên, đến miền Đông- miền Tây Nam bộ và tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, rồi sau lại tham gia cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam và nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Từ một lính chiến, đến một nhà báo chuyên viết bút ký, phóng sự, đến một nhà thơ, nên thơ của anh có sự chân thật sinh động, không hoa mỹ hay tạo những trúc trắc phức tạp trong câu từ, trong cấu trúc. Có lẽ thế mà thơ của anh dễ thấm, dễ cảm, dễ lan tỏa.

Tôi muốn kết bài viết này bằng chính bài thơ “Ấm áp ngàn năm”: “Năm mươi năm đồng đội đã về chưa/ Cầu Sài Gòn, nơi bạn bè nằm xuống/ Thành phố bên sông không còn tiếng súng/ Chỉ rì rầm, nhịp sống trước bình minh…”, trong tập thơ “Trăng lạnh” của nhà thơ Trần Thế Tuyển.

TP Hồ Chí Minh ngày 2/9/2024

H.H

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm