TIN TỨC

Trăng Lạnh” và một trái tim ấm áp

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-11-21 10:26:16
mail facebook google pos stwis
1957 lượt xem

 

HOÀI HƯƠNG

“Trăng lạnh”, tập thơ mới nhất của nhà thơ Trần Thế Tuyển đến với tôi như một một món quà tặng của người anh “đồng đội”, như một sự chia sẻ cảm xúc của  người yêu văn thơ, để cùng ngân nga lọc tìm những câu thơ đẹp, để có những khoảnh khắc lắng đọng chiêm nghiệm nhân gian thế sự, để càng trân quý hơn cuộc sống, tình yêu và sự thanh bình…

 Nếu dùng hai từ để nói về Đại tá - Nhà thơ- Nhà báo Trần Thế Tuyển, tôi dùng hai từ “Ấm áp”. Và khi đọc“Trăng lạnh”, tập thơ thứ 14 hay 15 (tôi không nhớ hết) tôi vẫn cảm nhận được sự ấm áp ấy. Vâng! Không phải hiện tại nhà thơ Trần Thế Tuyển “ấm áp”, mà có lẽ từ hơn 40 năm trước, lần gặp đầu tiên, khi tôi là một tân binh của Cục Chính trị Quân khu 7, tôi được đọc những bài thơ của anh trên báo Quân khu 7, đã thích những câu thơ đầy chất lính mà cũng đầy tình cảm về quê hương và đồng đội. cho đến tận hiện tại, tôi vẫn đọc thơ anh từ báo Quân đội nhân dân, tạp chí Văn nghệ Quân đội, và ở các tờ báo khác như Nhân dân, Sài Gòn Giải phóng, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Tiền Phong… như một cách dõi theo hành trình thơ của anh. Thơ anh như những trang nhật ký của người lính hôm qua - hôm nay và tương lai, những trang thơ chân tình, bình dị, hồn hậu, ngôn từ chân phương, không màu mè kỹ thuật, mà ý thơ sâu sắc, nhiều cung bậc cảm xúc, để cảm nhận một “người thơ” chân tình, khiêm nhường, tràn đầy nhân nghĩa, luôn đau đáu tình thương yêu thấm đẫm với đồng đội, với quê hương, với đất nước…

Hơn 60 bài thơ được chia thành ba chương: Trăng lạnh, Có một vầng trăng và Kỷ vật, là hơn 60 cung bậc cảm xúc bằng thơ từ trái tim nhà thơ Trần Thế Tuyển, là những ánh trăng không hề “lạnh”, mà lấp lánh trong đó là sự ấm áp của trái tim sâu nặng tình người “Người ta trong cõi người ta/ Hơn nhau nhịp đập, mặn mà nông sâu- Trái tim.

Ngay từ ban đầu, tôi đã hơi có chút thắc mắc tại sao lại là “Trăng lạnh”, làm tên tập thơ, là phần mở đầu tập thơ, và có gì “lạnh” không? Nhưng khi đọc bài thơ “Trăng lạnh” thì tôi đã hiểu, từ “lạnh” ở đây của nhà thơ Trần Thế Tuyển, là cái “lạnh” của nỗi nhớ quê đến thao thiết tâm can, đến the thắt từng nhịp đập trái tim, thân nhìn vầng trăng xứ biển Nha Trang, mà thần lạc về tới trăng quê nhà Nam, và lúc đó, thì trăng không còn “lạnh”, mà như đang có quê hương theo ánh trăng đến bên mình, ánh trăng bỗng thành một tình yêu ấm áp: Trăng nhớ ai mà ánh mắt thẫn thờ/ Nhớ cánh đồng ngô non bát ngát/ Nhớ câu ca em nghêu ngao thường hát/ Em có về Nam Định với anh không?/ Trăng nhớ ai vừa lạ vừa quen/ Biển vẫn hát tình ca muôn thuở…”.

Làm sao có thể “lạnh” khi đọc các bài thơ: Thời ta còn trẻ, Có một thời ta trẻ, Xin cho tôi ngọn lửa, Khai bút Giáp Thìn… vẫn hừng hực thanh xuân như cách Trần Thế Tuyển thời “Ngực đá”- 1997. Làm sao có thể “lạnh” khi trái tim vẫn luôn đập những nhịp trăn trở, day dứt thế sự cuộc đời, không bàng quan, không thờ ơ, mà đầy lương tâm trách nhiệm với những hiện thực cuộc sống: Có những lúc, Những đứa trẻ, Thiên thư, Ngẫm bình minh, Thương phận, Đời người, Ta còn một chút, Bức tranh cuộc đời, Tạm biệt, Sự đời…

Nhà thơ Trần Thế Tuyển (trái) tặng thơ cho bạn đọc

Và không thể “lạnh” khi những câu thơ đầy chất thơ miêu tả quê hương, là miền quê lúc giao mùa, vào mùa, chín trong mùa đẹp như những bức tranh…, là hoài niệm trường lớp ngày xưa, là ký ức quá khứ chồng chồng lớp lớp được hồi sinh, được khơi dậy  trong “Có một vầng trăng”. “Có một giấc mơ rất lạ/ Mắt em biếc xanh mộc lá/ Gió vờn lả lướt hương xưa/ Có một mùa trăng đò đưa…/ Có một vầng trăng lấp ló/ Người xưa để lại trăng non/ Mãi mãi ngàn năm, còn đó/ Hư vô, ẩn hiện vết son…”- Có một vầng trăng.

Là ký ức về quê hương tuổi thơ, là những ngày đi học, là những mơ mộng tuổi thanh xuân, là những giai điệu mênh mang miền sông nước trải lòng thao thiết…

Ta trở về mái nhà xưa/ Nơi dấu chân in thời thơ ấu/ Nửa thế kỷ giữa cõi đời yêu dấu/ Cứ nghĩ mình trong mơ…”- Trở về mái nhà xưa. “Nhớ trường, nhớ lớp bao nhiêu/ Nhớ thầy cô với bao điều dạy răn./ Nhớ cây bàng đứng giữa sân/ Bao nhiêu tuổi lá vẫn xanh, vẫn vàng?”- Vẫn mãi học trò. “Tiếng sấm đêm Hà Nội/ Đánh thức tuổi thơ tôi/ Năm mươi năm vời vợi/ Sấm vẫn đầy vẫn vơi…”- Tiếng sấm đêm Hà Nội. “Đêm phương Nam trái phải/ Nghe Dạ cổ hoài lang…/ Thương cánh đồng bát ngát/ Lộng gió chiều dân ca/ Cánh buồm thì xa lắc/ Chỉ còn ta với ta”- Kiên Giang nghe Dạ cổ hoài lang…

Mẹ trong thơ của nhà thơ Trần Thế Tuyển là một chủ đề lớn, và gần như trong tác phẩm thơ nào của anh cũng đều có những bài thơ về mẹ, từ nỗi nhớ thương cho đến sự biết ơn sinh thành, đến cao hơn khi tình yêu thương mẹ là tình yêu Tổ quốc thiêng liêng.Trong tập thơ này, mẹ là hạnh phúc, mẹ là nơi để trở về. Không có Mẹ/ Làm sao con biết bầu trời/ Trong xanh thế mà mây đen vần vũ/ Không có Mẹ/ Sao chúng con có thể thành Người/ Sống hết mình cho tương lai, quá khứ”- Ngày của mẹ. “Hạnh phúc nhất trên đời còn mẹ/ Dẫu mái đầu mây trắng buông trôi/ Con bỗng thấy cánh cò chở nắng/ Và nụ cười em bé trong nôi”- Hạnh phúc nhất trên đời còn mẹ.

Đặc biệt trong phần này, có nhiều bài thơ tua lại những thước phim kỷ niệm một thời chiến tranh, là một quãng đời nhà thơ Trần Thế Tuyển - một người lính Quân đội nhân dân, đã trải nghiệm sinh tử, và đau đáu những câu thơ nhớ nghĩ về đồng đội - những người đã hy sinh, như một nhắc nhở “không ai, không việc gì bị quên lãng”, để sống nghĩa tình, trả nợ những ân tình…

Đạp ngược gió tìm về quá khứ/ Ta run run hỏi chuyện cây bàng/ Chiến tranh đi qua ít lành, nhiều dữ/ Bạn ta nằm đâu, nơi tiếng súng ầm vang”- Đạp ngược gió tìm về quá khứ. “Đêm Kiên Giang/ Ngọn gió thúc thôi/ Bao tráng sĩ bước lên từ biển/ Câu thơ xưa đã thành kinh điển:“Hồn bay lên hoá Linh khí Quốc gia”- Đêm Kiên Giang(2).

“Kỷ vật”, không phải là “vật thể” mà là tình yêu thương thiêng liêng hóa thành những câu thơ, bài thơ đọc mà rưng rưng, là những hồi ức chiến tranh, là tình đồng đội sinh tử, và người hôm nay sống cả phần đời bao người đã hy sinh… “Ký ức xưa và bây giờ/ Kỷ vật “phi vật thể”/ Theo tôi đi suốt cuộc đời dâu bể/ Không quên!.”

Câu thơ đã thành câu đối đang được lan tỏa ở nhiều đền đài liệt sĩ trong cả nước: Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc /Hồn bay lên hóa linh khí Quốc gia”- Các anh không trở về ở lại giữa rừng sâu/ Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc/ Các anh không về quên mình vì đất nước/ Hồn bay lên hoá Linh khí Quốc gia”- Mây trắng xa xăm. “Mọi người đang được hưởng/ Cuộc sống này ấm êm/ Bao nhiêu người ngã xuống/ Nơi chiến trường đạn bom.”- Em hóa thành nước non. “Đồng đội ơi, yên lòng nhé/ Dẫu năm dài tháng rộng qua đi/ Chúng tôi vẫn khắc ghi ngày ấy/ Nơi cuối rừng bom rơi lửa cháy… Đồng đội ơi!/Hãy yên nghỉ ngàn thu/ Chúng tôi sống thêm phần đời của bạn…”- Đồng đội ơi.

“Kỷ vật” là “Tiếng mẹ tiếng sóng”- Tổ quốc lâm nguy chúng con chia tay mẹ/ Tráng sĩ lên đường theo gót cha ông/ Gửi lại lời ru, luống cày, ruộng mạ/ Dâng đời trai cho Tổ quốc, non sông. Tạm biệt mẹ, lời ru dịu ngọt…/ Chúng con đi theo tiếng sóng ầm vang/ Biển Tổ quốc phải ngàn năm nguyên vẹn/ Dù máu chúng con thắm đỏ giang san”…

“Kỷ vật” là “Tháng Tư Tây Nguyên”:… Âm vang, vời vợi/ Bao chiến sĩ quên mình/ Chưa có tên/ Bia ghi danh các anh/ Tháng Tư Tây Nguyên ấm áp”. Là “Bóng mát Cơ nia”: “Về, thưa với mẹ chuyện “động trời”/ Mẹ bình tĩnh nhai trầu, khẽ bảo:/ Không sao đâu, thân thể em con đã lẫn vào cây cỏ/ Đã thành đất đai của Tổ quốc thiêng liêng…”.

Khép lại tập thơ, một chút lắng, để nén cảm xúc rưng rưng. “Trăng lạnh” của nhà thơ Trần Thế Tuyển, rất ấm áp. Những câu thơ, bài thơ, cho dù là nỗi nhớ, cho dù là nỗi buồn, cho dù là những thao thức thế sự nhân sinh…, vẫn thầm lan tỏa tình yêu, từ quê  hương nơi chôn nhau cắt rốn đến đồng đội sinh tử trong chiến tranh, từ người mẹ tảo tần mưa nắng đến Việt Nam Tổ quốc tiêng liêng.   

Nhà thơ Trần Thế Tuyển nguyên là chiến sĩ Trung đoàn 174 Cao Bắc Lạng Anh hùng, từng trực diện chiến đấu từ Tây Nguyên, đến miền Đông- miền Tây Nam bộ và tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, rồi sau lại tham gia cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam và nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Từ một lính chiến, đến một nhà báo chuyên viết bút ký, phóng sự, đến một nhà thơ, nên thơ của anh có sự chân thật sinh động, không hoa mỹ hay tạo những trúc trắc phức tạp trong câu từ, trong cấu trúc. Có lẽ thế mà thơ của anh dễ thấm, dễ cảm, dễ lan tỏa.

Tôi muốn kết bài viết này bằng chính bài thơ “Ấm áp ngàn năm”: “Năm mươi năm đồng đội đã về chưa/ Cầu Sài Gòn, nơi bạn bè nằm xuống/ Thành phố bên sông không còn tiếng súng/ Chỉ rì rầm, nhịp sống trước bình minh…”, trong tập thơ “Trăng lạnh” của nhà thơ Trần Thế Tuyển.

TP Hồ Chí Minh ngày 2/9/2024

H.H

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm