TIN TỨC

Cây có cội, nước có nguồn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-05-24 16:05:58
mail facebook google pos stwis
1318 lượt xem

KAO SƠN

Đới Xuân Việt là một người đa tài. Ông vừa là hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, vừa là đạo diễn kiêm sáng tác kịch bản điện ảnh. Nhiều tác phẩm văn chương và điện ảnh của ông được công chúng yêu thích như tiểu thuyết Hoa đỗ quyên nở muộn, truyện thơ Truyền thuyết nàng tuyệt vời…, các bộ phim truyện nhựa Người đàn bà nghịch cát, Anh chỉ có mình em, Tình biển... Trong năm 2024 này, ông cộng tác cùng Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cho ra bạn đọc tác phẩm mới: truyện kí Về nơi nguồn cội.

Về nơi nguồn cội, cái tên đã tự nó nói lên nội dung chủ đạo của cuốn sách. Có lẽ đây là cuốn sách về một dòng họ thuộc dạng “trâm anh thế phiệt” - với sự hiện diện của rất nhiều người con ưu tú họ Đái đất Quảng Xương xứ Thanh. Trong cuốn sách, Đới Xuân Việt không nói riêng về một cá nhân cụ thể. Ông chỉ đóng vai một mắt xích, một cầu nối để liên kết lại các nhân vật cùng các sự kiện mà những nhân vật và sự kiện đó được ông chọn lọc, sắp xếp cho phù hợp với tiến trình phát triển chung. Những gương mặt được ông đưa vào cuốn sách có người chỉ thoáng qua. Có người được nêu kĩ càng tỉ mỉ cả về nguồn gốc, công việc, mối quan hệ dòng họ và xã hội. Những đóng góp cụ thể và nổi bật. Ông tôn trọng sự kiện và để sự phát triển tự thân của nó nói điều cần nói.

Trong một dòng họ, tất nhiên không bao giờ có sự đồng đều. Có kẻ sang người hèn. Có kẻ tài giỏi, người yếm thế. Suy nghĩ, cách ứng nhân xử thế cũng mỗi người mỗi kiểu. Nhưng, như một đoàn người hành hương, có thể mỗi người tự chọn cho mình một cách đi, một lối đi riêng cho phù hợp, nhưng đích đến thì không thay đổi. Cái đích ấy chính là tồn tại và phù hợp với cuộc sống chung của cả một dân tộc. Nghĩa là những nhân vật mà Đới Xuân Việt đưa ra luôn có được sự hiện diện ở cả hai phía công dân và nhân vật văn học. Qua từng trang sách chúng ta sẽ bắt gặp những chân dung sống động về những người con ưu tú của họ Đái như giáo sư Đái Xuân Ninh - một trong những người sáng lập ra nhóm Lê Quý Đôn, nhà văn TchyA Đái Đức Tuấn - cha đẻ của các tác phẩm truyền kỳ, kinh dị nổi tiếng như Thần Hổ,  Kho vàng Sầm Sơn, Tình sơn nữ…, kĩ sư Đái Xuân Du, bác sĩ Đái Xuân Phương… cùng những dâu rể, con cháu nổi tiếng như Trung tướng Nguyễn Văn Cốc - người đã bắn rơi 9 máy bay Mỹ, lập kỳ tích trên bầu trời Việt Nam, nhà thơ Hữu Loan…

Có thể nói có cả một cây gia phả xum xuê cành lá và lấp lánh được trưng bày trong Về với nguồn cội. Bằng lối kể chân mộc của mình, Đới Xuân Việt đã mang lại cho độc giả những góc nhìn, thông tin thuộc dạng “bí mật” như cách sống và nếp sinh hoạt thường ngày của một gia đình giàu có, tầng lớp “địa chủ” ngày trước, điều mà lâu nay vốn có không ít những định kiến không hay. Trong Về với nguồn cội, ông đã chỉ ra cái anh địa chủ ở nước mình rốt cuộc cũng chỉ là anh nông dân trí thức, thông minh một chút, cơ chỉ tính toán một chút và lí giải “cách làm giàu” của họ thông qua việc miêu tả lối sống, làm việc của ông bà nội ngoại hai bên. Ông nội là người “tần tảo, biết lo toan và sống tiết kiệm… tiền dạy học, bốc thuốc chữa bệnh, ông tích cóp dồn lại mua đất cho thuê ruộng. Ở rìa sân trước cửa nhà luôn có các chum tương, chum nước mắm, vại cà… Rau làm thức ăn thì được hái trong vườn từ rau muống, rau lang, rau mồng tơi, rau dền, rau ngót, rau đay, bầu bí, mướp… mùa nào thức nấy. Với cách sống siêng năng, tiết kiệm, ông bà tôi tích lũy được tiền trở nên giàu có.” Ông bà ngoại “đã bỏ tiền chiêu mộ dân nghèo tứ xứ đến khẩn hoang, biến đất gan gà thành đất ruộng, lập nên Ấp Làng Tiền, bỏ tiền đầu tư làm kênh thủy lợi, dẫn nước nhập điền, cải tạo vùng đất hoang hóa sình lầy, đất gan gà sỏi đá thành đất ruộng… Cụ làm việc như một nông dân thực thụ, sống đức độ, giàu lòng nhân ái, thương người. Cụ là địa chủ duy nhất trong vùng cứu trợ dân nghèo trong nạn đói 1945. Đến những năm ngoài 70 tuổi, cụ vẫn còn xắn quần ra ruộng cày bừa, nhổ mạ, tát nước, không nề hà bất cứ công việc khó nhọc nào. Món ăn thường ưa thích không ngoài cá kình nấu canh, cá bống kho khô. Thường nhật cụ dùng xôi với muối đậu hoặc muối vừng.” Trong sách, Đới Xuân Việt cũng hé lộ với bạn đọc rằng ông ngoại minh là thầy dạy ông Ngô Đình Diệm (hồi còn ở Huế). Khi ông Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống có đến thăm ông và ngỏ ý nếu các con của ông, ai muốn ra làm việc nhà nước thì ông Diệm sẽ thu xếp. Nhưng ông cảm ơn mà rằng, các cậu của tôi nghề nghiệp đã ổn định. Một câu chuyện nói lên sự tự trọng và phẩm chất liêm khiết của một người trí thức.

Cứ thế, những chân dung những con người họ Đới qua những miêu tả của ông đã đồng hành cùng với những giai đoạn lịch sử của đất nước. Và ở giai đoạn nào, những người con họ Đới cũng có những đóng góp thiết thực, hữu ích cho đất nước, cho dân tộc. Họ đã góp phần mở ra một thời kì mới hạnh phúc, ấm no cho đất nước và thêm vào cho dòng tộc những trang vàng chói lọi.

Bằng ngôn ngữ của trần thuật dung dị cùng ánh sáng đèn chiếu của một đạo diễn điện ảnh, Đới Xuân Việt đã đem lại cho độc giả một cái nhìn vừa sâu sắc đậm chất văn học vừa như một cận cảnh trong một thước phim quay chậm làm rõ đến từng chi tiết nhỏ nhất về dòng họ mình. Muốn hiểu về một dòng sông hay một biển hồ hãy trước hết đến và hiểu về một giọt nước. Việc tìm hiểu kĩ về một dòng họ sẽ mang đến cái nhìn tổng quát về kết cấu đất nước. Cây có cội, nước có nguồn. Các bậc tiền nhân đã có công dựng nước, mở rộng bờ cõi, tạo dựng nên nước Việt Nam hào hùng và to đẹp như ngày hôm nay. Chế độ ta đã kế thừa và phát huy thành quả lịch sử của truyền thống để lại. Không có công lao dựng xây của các bậc tiền nhân thì không có nước Việt Nam như ngày nay. Do vậy, tôn trọng công lao của các bậc tiền nhân là phẩm giá của lớp người kế thừa lịch sử. Những gửi gắm, khẳng định trong cuốn sách chắc chắn sẽ nhận được sự đồng cảm sẻ chia từ độc giả.

Nguồn Văn nghệ số 19/2024

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm