TIN TỨC

Cây có cội, nước có nguồn

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-05-24 16:05:58
mail facebook google pos stwis
1394 lượt xem

KAO SƠN

Đới Xuân Việt là một người đa tài. Ông vừa là hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, vừa là đạo diễn kiêm sáng tác kịch bản điện ảnh. Nhiều tác phẩm văn chương và điện ảnh của ông được công chúng yêu thích như tiểu thuyết Hoa đỗ quyên nở muộn, truyện thơ Truyền thuyết nàng tuyệt vời…, các bộ phim truyện nhựa Người đàn bà nghịch cát, Anh chỉ có mình em, Tình biển... Trong năm 2024 này, ông cộng tác cùng Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cho ra bạn đọc tác phẩm mới: truyện kí Về nơi nguồn cội.

Về nơi nguồn cội, cái tên đã tự nó nói lên nội dung chủ đạo của cuốn sách. Có lẽ đây là cuốn sách về một dòng họ thuộc dạng “trâm anh thế phiệt” - với sự hiện diện của rất nhiều người con ưu tú họ Đái đất Quảng Xương xứ Thanh. Trong cuốn sách, Đới Xuân Việt không nói riêng về một cá nhân cụ thể. Ông chỉ đóng vai một mắt xích, một cầu nối để liên kết lại các nhân vật cùng các sự kiện mà những nhân vật và sự kiện đó được ông chọn lọc, sắp xếp cho phù hợp với tiến trình phát triển chung. Những gương mặt được ông đưa vào cuốn sách có người chỉ thoáng qua. Có người được nêu kĩ càng tỉ mỉ cả về nguồn gốc, công việc, mối quan hệ dòng họ và xã hội. Những đóng góp cụ thể và nổi bật. Ông tôn trọng sự kiện và để sự phát triển tự thân của nó nói điều cần nói.

Trong một dòng họ, tất nhiên không bao giờ có sự đồng đều. Có kẻ sang người hèn. Có kẻ tài giỏi, người yếm thế. Suy nghĩ, cách ứng nhân xử thế cũng mỗi người mỗi kiểu. Nhưng, như một đoàn người hành hương, có thể mỗi người tự chọn cho mình một cách đi, một lối đi riêng cho phù hợp, nhưng đích đến thì không thay đổi. Cái đích ấy chính là tồn tại và phù hợp với cuộc sống chung của cả một dân tộc. Nghĩa là những nhân vật mà Đới Xuân Việt đưa ra luôn có được sự hiện diện ở cả hai phía công dân và nhân vật văn học. Qua từng trang sách chúng ta sẽ bắt gặp những chân dung sống động về những người con ưu tú của họ Đái như giáo sư Đái Xuân Ninh - một trong những người sáng lập ra nhóm Lê Quý Đôn, nhà văn TchyA Đái Đức Tuấn - cha đẻ của các tác phẩm truyền kỳ, kinh dị nổi tiếng như Thần Hổ,  Kho vàng Sầm Sơn, Tình sơn nữ…, kĩ sư Đái Xuân Du, bác sĩ Đái Xuân Phương… cùng những dâu rể, con cháu nổi tiếng như Trung tướng Nguyễn Văn Cốc - người đã bắn rơi 9 máy bay Mỹ, lập kỳ tích trên bầu trời Việt Nam, nhà thơ Hữu Loan…

Có thể nói có cả một cây gia phả xum xuê cành lá và lấp lánh được trưng bày trong Về với nguồn cội. Bằng lối kể chân mộc của mình, Đới Xuân Việt đã mang lại cho độc giả những góc nhìn, thông tin thuộc dạng “bí mật” như cách sống và nếp sinh hoạt thường ngày của một gia đình giàu có, tầng lớp “địa chủ” ngày trước, điều mà lâu nay vốn có không ít những định kiến không hay. Trong Về với nguồn cội, ông đã chỉ ra cái anh địa chủ ở nước mình rốt cuộc cũng chỉ là anh nông dân trí thức, thông minh một chút, cơ chỉ tính toán một chút và lí giải “cách làm giàu” của họ thông qua việc miêu tả lối sống, làm việc của ông bà nội ngoại hai bên. Ông nội là người “tần tảo, biết lo toan và sống tiết kiệm… tiền dạy học, bốc thuốc chữa bệnh, ông tích cóp dồn lại mua đất cho thuê ruộng. Ở rìa sân trước cửa nhà luôn có các chum tương, chum nước mắm, vại cà… Rau làm thức ăn thì được hái trong vườn từ rau muống, rau lang, rau mồng tơi, rau dền, rau ngót, rau đay, bầu bí, mướp… mùa nào thức nấy. Với cách sống siêng năng, tiết kiệm, ông bà tôi tích lũy được tiền trở nên giàu có.” Ông bà ngoại “đã bỏ tiền chiêu mộ dân nghèo tứ xứ đến khẩn hoang, biến đất gan gà thành đất ruộng, lập nên Ấp Làng Tiền, bỏ tiền đầu tư làm kênh thủy lợi, dẫn nước nhập điền, cải tạo vùng đất hoang hóa sình lầy, đất gan gà sỏi đá thành đất ruộng… Cụ làm việc như một nông dân thực thụ, sống đức độ, giàu lòng nhân ái, thương người. Cụ là địa chủ duy nhất trong vùng cứu trợ dân nghèo trong nạn đói 1945. Đến những năm ngoài 70 tuổi, cụ vẫn còn xắn quần ra ruộng cày bừa, nhổ mạ, tát nước, không nề hà bất cứ công việc khó nhọc nào. Món ăn thường ưa thích không ngoài cá kình nấu canh, cá bống kho khô. Thường nhật cụ dùng xôi với muối đậu hoặc muối vừng.” Trong sách, Đới Xuân Việt cũng hé lộ với bạn đọc rằng ông ngoại minh là thầy dạy ông Ngô Đình Diệm (hồi còn ở Huế). Khi ông Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống có đến thăm ông và ngỏ ý nếu các con của ông, ai muốn ra làm việc nhà nước thì ông Diệm sẽ thu xếp. Nhưng ông cảm ơn mà rằng, các cậu của tôi nghề nghiệp đã ổn định. Một câu chuyện nói lên sự tự trọng và phẩm chất liêm khiết của một người trí thức.

Cứ thế, những chân dung những con người họ Đới qua những miêu tả của ông đã đồng hành cùng với những giai đoạn lịch sử của đất nước. Và ở giai đoạn nào, những người con họ Đới cũng có những đóng góp thiết thực, hữu ích cho đất nước, cho dân tộc. Họ đã góp phần mở ra một thời kì mới hạnh phúc, ấm no cho đất nước và thêm vào cho dòng tộc những trang vàng chói lọi.

Bằng ngôn ngữ của trần thuật dung dị cùng ánh sáng đèn chiếu của một đạo diễn điện ảnh, Đới Xuân Việt đã đem lại cho độc giả một cái nhìn vừa sâu sắc đậm chất văn học vừa như một cận cảnh trong một thước phim quay chậm làm rõ đến từng chi tiết nhỏ nhất về dòng họ mình. Muốn hiểu về một dòng sông hay một biển hồ hãy trước hết đến và hiểu về một giọt nước. Việc tìm hiểu kĩ về một dòng họ sẽ mang đến cái nhìn tổng quát về kết cấu đất nước. Cây có cội, nước có nguồn. Các bậc tiền nhân đã có công dựng nước, mở rộng bờ cõi, tạo dựng nên nước Việt Nam hào hùng và to đẹp như ngày hôm nay. Chế độ ta đã kế thừa và phát huy thành quả lịch sử của truyền thống để lại. Không có công lao dựng xây của các bậc tiền nhân thì không có nước Việt Nam như ngày nay. Do vậy, tôn trọng công lao của các bậc tiền nhân là phẩm giá của lớp người kế thừa lịch sử. Những gửi gắm, khẳng định trong cuốn sách chắc chắn sẽ nhận được sự đồng cảm sẻ chia từ độc giả.

Nguồn Văn nghệ số 19/2024

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm