TIN TỨC
  • Truyện
  • Triết gia miệt vườn – Truyện ngắn của Vương Huy

Triết gia miệt vườn – Truyện ngắn của Vương Huy

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-01-22 17:05:40
mail facebook google pos stwis
2112 lượt xem

 Lão Bần nâng ly trà lên miệng nuốt đánh ực một cái, lão gằn giọng nói: Tôi đọc triết từ thời trẻ và tôi rất mê Bùi Giáng. Nhưng sau nầy nghĩ lại, nếu Bùi Giáng viết ít lại sẽ hay hơn. Tôi thích triết Heidegger vì triết ổng sâu kín.

Nhà văn Vương Huy     

Lão Bần vốn là một thợ vẽ bản thiết kế cho các công trình xây dựng của quân đội, thời trẻ lão làm ở Sài Gòn. Lúc đó, lão sưu tầm sách khá nhiều, toàn sách triết. Có lần lão tặng bà chị làm chung bài thơ của lão, thơ thất ngôn bát cú, mà mỗi chữ đầu câu ghép lại là ý lão hỏi mượn một cuốn sách. Dường như gia đình lão cũng có truyền thống văn học đôi chút. Lão có một người chị ruột cũng làm thơ. Chị chết chôn ở miếng vườn sau lưng nhà lão. Em út của lão là anh Khương, làm chung tôi thời tôi còn đi dạy cấp ba. Anh Khương làm bảo vệ trường, kiêm giữ xe cho học sinh. Khương lúc trẻ học Đại học Nông Lâm nhưng bỏ học giữa chừng. Sau về trường làm, Khương học hệ từ xa lấy bằng đại học ngành tin học. Những lúc trà dư tửu hậu, Khương cũng hay đọc thơ. Hồi đó bà Tiện còn làm hiệu phó, bà Tiện gài Khương vào dạy môn Sử, nhưng chỉ được một tháng thì bị nhóm giáo viên môn Địa thưa với lý do: Bằng từ xa không được đứng lớp. Khương nghỉ dạy, tiếp tục làm bảo vệ.

            Lúc tôi nghỉ dạy, không biết làm gì, tôi thường xuống nhà lão Bần chơi, uống trà đàm đạo. Lão có một cách tư duy triết học khác thường.  Lão chỉ mới học hết lớp mười, lại là học trò bà Tiện. Sau lão lấy bà Tiện làm vợ, sinh một con gái đặt tên là Lắm. Đầu tóc lão Bần bạc trắng dù tuổi đời của lão chưa đến sáu mươi. Người lão gầy teo tóp, lời nói chắc nịch và hay gằn giọng. Lão như được sinh ra để rao giảng thứ đạo lý của chính lão. Một lần nhân lúc vui chuyện, tôi hỏi lão :

– Thầy nghĩ thế nào về Nietzsche?

– Cuốn Zarathoustra là một cuốn phúc âm của thời hiện đại. Tôi đọc cuốn đó lui tới như đọc một cuốn kinh thánh. Cuốn đó đầy rẫy những ẩn ngữ. Trong các tác phẩm của Nietzsche, cuốn đó là thơ mà cũng là triết. – Lão nói.

          Tôi cũng học về triết nhiều, khi ở Đại học Sư Phạm khoa Giáo dục chính trị, còn lão Bần là một kẻ tự học, nhưng cái học của lão rất thực tế, nhiều lúc đi đến chỗ thực dụng. Lão chỉ học những gì liên quan đến công việc của lão. Ngoài việc nghiên cứu triết học ra, lão còn kiêm thêm nghề xem phong thủy, xem ngày giờ. Nhiều người tìm đến lão nhờ công việc nầy. Lão cũng có đồng ra đồng vô đủ tiền trà thuốc, sách vở. Lão nghiên cứu triết để tìm cơ sở lý luận cho nghề xem phong thủy của lão. Trong tất cả các công việc, dường như lão có lý luận hẳn hoi nhờ việc đọc triết học.

             Nhà của lão khách khứa thường lui tới. Đó là căn nhà một tầng do chính tay lão thiết kế. Lão tiếp tất cả mọi người trên một cái bàn đầy bụi cáu của lão. Tôi thì nói chuyện triết học, người thì xem phong thủy, mấy anh thầy giáo, nhà sư, người tu tại gia, những người lao động, anh hàng xóm,… Tức là đủ thành phần. Ngôi nhà của lão nằm trong một khu vườn sum suê cây măng cụt. Nhà cha mẹ lão nằm ở miếng đất kế bên, là một căn nhà gỗ đã cũ kỹ. Cha lão mất lâu rồi, lão còn một mẹ già đã lớn tuổi.

                                                          ***

             Thậm là một thầy giáo dạy chung tôi, Thậm dạy Toán. Trong trường, Hiệu trưởng giao Thậm dẫn chương trình nhân những ngày lễ lạc. Thậm cũng hay xuống nhà lão Bần nhờ lão làm một số việc. Có lần tôi gặp Thậm ở bàn trà, Thậm chở một thùng bia xuống tặng lão Bần, lúc đó tôi nhớ gần Tết âm lịch. Lão Bần nhận lấy cười hể hả phô hàm răng khói ám. Ngoài việc xuống chơi với lão Bần, Thậm có lẽ xuống vì một việc khác: bà Tiện vợ lão còn đương chức Hiệu phó nơi Thậm giảng dạy. Thậm một hai “ thầy thầy em em” với lão Bần. Lão Bần lấy làm hả dạ lắm với thái độ kính nể bậc trưởng thượng của Thậm, không như tôi trao đổi thẳng thắn, sòng phẳng, thậm chí chỉ trích. Một lần gặp nhau ở nhà lão Bần, khi đó tôi nghỉ dạy rồi, Thậm nói với tôi:

– Em còn nhớ anh phát biểu hôm họp Hội đồng là linh động nắm ý chính. Em vận dụng nó vào việc dẫn chương trình của mình.

          Số là hôm họp Hội đồng, hiệu phó Nhàn đưa cái đáp án đề thi học kỳ 1 của tôi ra phân tích. Nhàn cho rằng tôi không chép đúng nguyên văn từng lời trong sách giáo khoa. Tôi đứng lên phát biểu: tôi chỉ nắm ý chính trong khi ra đáp án rồi linh động khi chấm bài. Theo Nhàn hiệu phó chuyên môn, phải chép đúng từng chữ kể cả dấu phẩy trong sách giáo khoa làm đáp án. Hai chủ trương khác nhau, thế là đụng độ. Buổi họp ấy tôi nói: “Tôi đi dạy chỉ để ăn lương. Tục ngữ ta có câu: “Yêu nên tốt, ghét nên xấu “. Mong thầy cô suy nghĩ lại”. Lúc đó tôi là cái gai trong mắt giáo viên trường. Mọi người xa lánh tôi, đến nỗi ngồi nói chuyện với tôi ở căn – tin cũng bị đánh giá. Ví dụ như Hận vốn dạy Địa là vợ của Chủng dạy thể dục. Chủng là tổ trưởng của tôi và Mận. Mận lấy chồng là em bà con với Chủng. Hận nói: “Sao Mận lại lại dám uống cà phê với thầy đó trong căn – tin trường chứ“. Hồi Mận về trường dạy môn Công Dân, do tôi hướng dẫn tập sự. Tôi lúc đó đau yếu bệnh hoạn triền miên, phải uống thuốc trầm cảm thường xuyên ở bệnh viện. Sau hết sáu tháng tập sự, tôi đánh giá Mận dạy tốt, dù tôi để cho Mận tự nhiên trong việc dạy học. Một năm sau đó Mận lên làm tổ phó, nhằm đợt thanh tra, Nhàn hiệu phó giao Mận thanh tra chuyên môn tôi. Tôi cay đắng lắm nhưng không nói gì, chỉ nói với mấy anh bạn thân dạy chung là làm vậy coi không được. Nhưng tôi đành chấp nhận.

           Thậm vẫn coi trọng tôi nhưng với gia đình lão Bần thì Thậm coi là ơn trên mưa móc. Lão Bần rất khoái tỉ cái vị trí lão hiện có, nó phát sinh từ vợ lão, lão chỉ là người ăn theo. Thậm bên ngoài dạ thưa nhưng bên trong có lẽ Thậm cũng không thích. Vì nhiệm vụ phải làm thôi. Đời sống trường lớp bây giờ là vậy, cái tính cửa quyền nó đã ăn lan vào giáo dục.

                                                     ***

            Nhà Vạnh ở đầu đường, ngay chỗ quẹo vô nhà lão Bần. Vạnh chơi thân với lão Bần. Vạnh sống bằng nghề làm vườn. Vạnh hay tới nhà lão Bần chơi. Có lúc Vạnh mượn vài cuốn sách tôn giáo. Vạnh nói ra chỉ vuốt đuôi lão Bần, không có ý kiến gì riêng. Với Vạnh, lão Bần là thần tượng của tri thức. Lão Bần nghiễm nhiên với vị trí ấy. Tôi không thích Vạnh vì tánh tình hơi đàn bà của Vạnh và sự sùng bái của Vạnh đối với lão Bần. Xuống chơi, tôi gặp toàn những người lành mạnh về thể xác nhưng què quặt về tinh thần. Có lần nói chuyện với Vạnh, Vạnh khuyên tôi đọc thơ Tố Hữu. Dường như trong trường Vạnh học được chút đỉnh thơ văn nên nói vậy. Thơ Tố Hữu, tôi vẫn đọc, nhưng tôi cho rằng thơ Tố Hữu nằm trong phong trào Thơ Mới về mặt thi pháp, dù Tố Hữu là thơ cách mạng. Cái Thơ Mới từ đầu thế kỷ hai mươi còn kéo dài ảnh hưởng trên thi đàn Việt Nam đến tận hôm nay. Mọi người làm mà không biết đó là Thơ Mới. Chỉ có phong trào Nhân văn Giai phẩm ở Miền Bắc và nhóm Sáng Tạo trong Nam, những năm 54, là có cách tân triệt để về thơ, thoát khỏi ảnh hưởng của Thơ Mới. Các nhà thơ như : Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần,… và trong Nam là Thanh Tâm Tuyền đã đẩy thơ Việt lên một cấp độ mới. Thơ Việt vẫn còn du dương trong vần điệu trong khi thơ Phương Tây đã sang hình thức thơ không vần. Cái đặc biệt là thơ Việt thiếu chất Triết. Có lẽ do dân tộc ta không có một nền triết học riêng, chỉ toàn du nhập triết học của các nước khác. Phật giáo của Ấn Độ, Nho giáo, Lão giáo của Trung Quốc, Hiện sinh, Chủ nghĩa Mác của Phương Tây. Có thể nói Việt Nam là một dân tộc không có triết học. Cho nên không có tác phẩm văn chương lớn và nhà văn có tầm vóc. Nói như Ăng – ghen : Một dân tộc muốn đứng trên tầm cao của thời đại phải có tư duy triết học.

            Trở lại vấn đề, có lẽ Vạnh chỉ biết đến Tố Hữu, như thế cũng là dữ dội rồi, tạm xem có học. Vạnh không biết rằng tôi đọc thơ rất nhiều. Thơ Việt, gần như trọn vẹn. Thơ Phương Tây, đọc qua bản dịch. Vạnh vẫn sùng bái lão Bần như một bậc tiên chỉ trong làng văn. Có lẽ vì đời sống của Vạnh chỉ quẩn quanh nơi ruộng đồng vườn tược, không đọc nhiều, không giao tiếp nhiều. Nhà trường dạy được chút đỉnh nào hay chút đỉnh đó. Đó cũng là hiện trạng chung của người đọc Việt Nam hôm nay. Họ không được dạy về các trào lưu trường phái văn học nên gần như mù tịt không hiểu thơ nước ngoài diễn biến và phát triển ra sao. Giới trẻ hiện nay thì đỡ hơn, do có tiếp xúc với nền văn hóa nước ngoài, nhưng họ lại chạy theo lối sống vật chất thực dụng. Các ngành Văn Sử Triết rất ít người chọn học. Vì học xong sẽ thất nghiệp, không biết làm gì, trong khi các ngành khác dễ kiếm việc làm và có thu nhập cao hơn.

                                                  ***

             Lão Bần có đứa em trai kế lão tên là Đấy. Đấy rất lễ độ, gặp tôi là khoanh tay thưa thầy dù tuổi đời tôi kém Đấy. Khi Đấy ngồi với lão, lão luôn la mắng. Đấy có thời gian đi tu, hình như gia đình lão có truyền thống Nho giáo. Những người ở vùng thôn quê còn tôn trọng thầy giáo hơn những người bon chen nơi thành thị. Như đã nói, Đấy đi tu, được vài năm thì bỏ về. Đấy thích nói về những pháp môn tu hành giải thoát. Lão Bần la mắng suốt vì đầu óc lão vốn thực tế, rất ghét chuyện tu hành. Nhà lão Bần có một cái bàn thờ do chính tay lão thiết kế. Tầng dưới thờ ảnh ông cụ cha lão, tầng trên thờ hình Quan Thế Âm. Nhưng mô hình bàn thờ có mái che như nhà thờ Công giáo. Dường như lão Bần muốn tổng hợp tôn giáo để hình thành một tôn giáo riêng của lão. Chỗ lão nằm là một bộ đi – văng gỗ nằm trong một khung vòm hình tròn làm cửa bước vào, ở nhà trước. Trong khung hình tròn đó là chiếc tủ kính đựng sách, toàn sách triết.

            Thỉnh thoảng cũng có vài người đến chơi như sư Thào chẳng hạn. Sư Thào tu ở chùa gần đó, tuổi trạc tôi, thường phát âm sai theo tiếng thổ ngữ địa phương. Ví dụ : âm R thành G, âm Th thành Kh. Sư Thào đến kể chuyện sinh hoạt chùa chiền tôn giáo. Sư có theo học một khóa trung cấp Phật học nên cũng nắm vững về giáo lý. Những lúc nói chuyện như thế, lão Bần lại tấn công Phật giáo, lão nói : “ Tôi coi hình tượng Thích Ca không có thực mà là một ẩn dụ hư cấu “. Sư Thào không nói gì chỉ kể những chuyện lao động trong chùa chiền. Những nhà sư ở vùng quê chỉ có đạo tâm chứ trình độ thì lại thấp, người ta theo Phật giáo bằng niềm tin của người ta, chứ không biện bác giáo lý chi nhiều như những bậc túc học Phật giáo. Nhưng theo tôi, tu như vậy mới gọi là tu, nó thực tâm, nó không ồn ào như những ngôi chùa lớn ở phố thị, chỉ nghĩ đến việc kiếm tiền. Những ngôi chùa ở nông thôn, các nhà sư phải lao động, kiếm sống rồi tu hành. Như vậy họ giữ được đạo của họ. Các hệ thống hành trì trong Phật giáo phân cấp nhiều thứ bậc. Điều nầy ảnh hưởng không nhỏ đến đạo tâm, tức là còn khích phát sự ham muốn, lòng dục của con người vào vai vế thứ bậc trong xã hội. Theo chỗ tôi biết, khi mới ra đời, Phật giáo là một hệ thống lý thuyết chống lại chế độ đẳng cấp hà khắc của Bà – la – môn giáo. Bà – la – môn giáo phân biệt bốn đẳng cấp trong xã hội là: tăng lữ, vương công, thứ dân và nô lệ. Phật Thích Ca thoạt kỳ thủy có nói:  Không có giai cấp trong một dòng máu đều đỏ và giọt nước mắt đều mặn. Phật Thích Ca kết nạp tất cả những ai đến với Ngài bằng tấm lòng chân thật, kể cả gái điếm và người gánh phân, vốn là đẳng cấp thấp nhất trong xã hội lúc bấy giờ.

              Xuống đàm đạo với lão Bần còn có anh Dụ – người tu tại gia. Anh Dụ thích làm công quả, ít biện biệt giáo lý. Ví dụ như anh ấn tống kinh sách, làm từ thiện, sửa cầu đường,… Những lúc như thế, lão Bần lại giở giọng lý luận như người am tường Phật giáo. Anh Dụ cũng không thèm cãi lại. Anh Dụ cho tôi một cái máy nghe kinh và vài cái thẻ nhớ ghi lại những bài giảng của những nhà sư uy tín hiện thời. Anh Dụ rất thích Thích Chân Quang.

                                                  ***

            Lão Bần có một đệ tử là thằng Bé. Bé lao động tay chân, gương mặt lam lũ. Lão Bần thích sai vặt Bé, như châm ấm trà, nhổ một cái cây,… Lão Bần lấy Bé ra làm vật thí nghiệm cho sự nghiên cứu bùa chú của lão. Bé thường lên vùng Thất Sơn ( An Giang ) để thăm ngoạn phong cảnh trên ấy và nó cũng rất nể trọng các sư thầy. Bé làm thuê cho người chị, nhà Bé có nuôi dê để tăng thêm thu nhập. Lão Bần lợi dụng Bé triệt để. Có lẽ Bé thích Lắm – con gái lão Bần. Lắm học khoa Hán Nôm thuộc Đại học xã hội nhân văn, lâu lâu mới về thăm nhà một lần. Bà Tiện vợ lão vốn là người Hoa, gia đình rất giàu có. Lão Bần rất cưng chiều đứa con gái một nầy. Lắm cũng xinh đẹp. Sau, Lắm lấy một anh chàng người Bắc, là kỹ sư cầu đường. Họ sinh một đứa con đem về cho lão Bần nuôi. Đám cưới của Lắm làm linh đình, mời mọc lung tung. Sau đám, tôi xuống, thấy mấy cần xé đựng vỏ lon bia. Lão Bần chỉ có một đứa con nên làm đám rình rang để mở mày nở mặt với thiên hạ. Lắm lấy chồng, ít thấy Bé lai vãng. Con gái người ta là hoa thơm cỏ quý, thân phận Bé sao vươn tới nổi.

           Nhà lão Bần có vườn măng cụt, lão trồng lấy bóng mát. Sau đó, lão phá vườn măng cụt, thay vào đó là sầu riêng khi thiên hạ đã chán chê với thu nhập của loại cây ăn trái nầy rồi. Lão suy nghĩ, thiết kế đường ống chằng chịt để dẫn nước tưới cây đến từng gốc sầu riêng trong vườn nhà. Đảm trách công việc đào đất, vun mô, xẻ rãnh đi đường ống thì đã có anh Thịnh. Thịnh làm thuê ăn tiền ngày cho lão. Không thấy lão làm gì cả mà tiền bạc của lão luôn dư dả. Với anh Thịnh, lão Bần đóng vai trò chỉ đạo kỹ thuật. Tức là gì lão cũng biết. Tôi xuống chơi thấy Thịnh xắn từng vá đất dưới sự trông coi của lão Bần. Lão ốm quắt queo không làm gì nổi, chỉ thuê mướn lao động. Gia đình lão có thế lực trong xóm.

                                                ***

          Như đã nói, lão Bần chỉ học hết lớp mười, lão đọc triết tùy tiện, thích ai lão ca tụng người đó hết lời, còn không thích lão cũng mạt sát hết lời. Lão chê bai Phạm Công Thiện, Nguyễn Duy Cần. Lão ca tụng Bùi Giáng, Nguyễn Hiến Lê. Điều đặc biệt là lão rất mê Heidegger. Mà triết gia người Đức nầy nổi tiếng khó hiểu. Lão chỉ mê cái âm vọng của câu văn Heidegger thông qua bản dịch. Hỏi lão hiểu gì không, lão không trả lời, chỉ cười cười. Sách của lão thì lão quý hơn vàng, sách người khác thì lão dè bỉu chê bai tơi tả. Lão quý sách, đó là điều tốt, nhưng lão coi sách như tài sản. Có những bộ sách lão mua để dành trong tủ kính chứ lão cũng không đọc. Mua sách mà lão dùng chữ “ sắm “ như sắm một món đồ đắt giá.

             Có thời gian tôi xuống lão chơi thường xuyên vì nghĩ lão là người tự học chân chính, nhưng càng về sau tôi càng thức nhận tính hơn thua của lão trong đời sống và học thuật. Cái loại người nầy ở Việt Nam rất nhiều, tức là không học hành bài bản, chỉ đọc dăm cuốn sách mà phát ngôn như thánh phán. Tôi có học mảng triết, kể cả đi vào tác phẩm Mác, Ăng – ghen, Lênin trong trường Sư Phạm mà tôi chưa dám nói gì vì trên tôi còn có những giáo sư tiến sỹ Triết học. Họ đều là những tay tài giỏi cả. Tôi chỉ dám làm thơ viết truyện như một cách phát ngôn, vì thơ truyện có vẻ ai làm cũng được do nó sử dụng chất liệu là ngôn ngữ. Mà ai chẳng sở hữu một ngôn ngữ riêng mình. Thôi, câu chuyện đến đây đã nhiều, tôi xin chấm dứt vì không muốn làm bạn đọc mệt mỏi với sự dở hơi của một lão triết gia miệt vườn.

Vương Huy

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm
Đuổi theo bóng nắng - Truyện ngắn của Lữ Thị Mai
Nhà tôi ở sườn đồi, nhìn xuống dòng sông Mã. Cha tôi kể rằng, xưa kia đây vốn là vùng chuyên quy tập hài cốt bộ đội hy sinh.
Xem thêm
Chuyện lạ ngày Xuân “Ăn trộm đào”
LTS: Mỗi độ Tết đến, giữa không khí lễ hội tưng bừng, không ít người phương Đông vẫn còn niềm tin mơ hồ rằng thực và ảo có thể bất chợt giao nhau. “Ăn Trộm Đào” là một câu chuyện như thế — vừa mang dáng dấp hội hè, vừa phảng phất trò ảo thuật dân gian. Truyện do nhà văn Bồ Tùng Linh (Pu Songling) ghi chép trong Liêu Trai Chí Dị vào đời Thanh. Bản tiếng Anh dùng để dịch ở đây là của Herbert A. Giles xuất bản năm 1880 trong cuốn Strange Stories from a Chinese Studio. Hiện nội dung được công khai trên Project Gutenberg, như một nhịp cầu nối kho tàng truyện cổ với độc giả quốc tế.
Xem thêm
Thương nhau ngày Tết - Truyện Võ Đào Phương Trâm
Mưa cuối mùa, tầm tã nặng hạt, như trút cho hết nước xuống từng ngõ ngách nội đô. Tiếng gió thốc mạnh, va vào tấm bạt như muốn xé toạc bằng cơn thịnh nộ. Mỗi lần gió lớn, tấm bạt tròng trành đổ ào đống nước nặng trịch xuống đường, văng tung tóe. Bên dưới, người đàn bà ngồi co ro, cái gánh chè đậu đen, đậu xanh còn nóng hổi nhưng chưa bán được một nửa, đành chịu cảnh vắng khách. Chiếc nón lá thỉnh thoảng bị gió thổi bật ra phía sau như một trò bỡn cợt với thân phận người nghèo, trượt giữa mặt đường đời, chông chênh và cam chịu.
Xem thêm
Quỳnh hương điện ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Dương Vân Nga lại tiến đến bên chiếc long bào. Tay đưa ra, rồi dừng lại giữa chừng. Vải gấm thêu chỉ vàng sáng lên lấp lánh dưới ánh nến. Mỗi sợi chỉ vàng là một lời thề, một trách nhiệm, một cái giá phải trả. Chiếc áo này của triều Đinh, của nhà Đinh. Nếu trao cho Lê Hoàn, nó sẽ thuộc về một triều đại khác, một dòng tộc khác. Nhưng nếu không trao? Bà nghĩ đến quân Tống đang rình rập. Nghĩ đến cảnh binh đao khói lửa ngút trời. Nước không còn, thì áo bào cũng mất. Nước không còn, thì ngai vàng cũng mất. Và mẹ con bà, làm sao toàn mạng? Không, vận nước phải lớn hơn vận mẹ con bà! Vận nước phải đặt lên trên hết! Lê Hoàn! Nếu ý trời đã định, nếu lòng người đã thuận, bà còn gì phải hoang mang?
Xem thêm
Thân thiện - Truyện ngắn của Lê Thanh Huệ
“Thân thiện” của Lê Thanh Huệ là một văn bản văn xuôi dung lượng lớn, được viết như một cuộc đối thoại mở giữa con người với tri thức, chiến tranh, công nghệ và tương lai nhân loại.
Xem thêm
Gặp gỡ bất ngờ – Truyện ngắn Đỗ Thị Thu Hiền
Nhà văn Đỗ Thị Thu Hiền, tên thật Đỗ Thị Hiền, sinh năm 1952 tại TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (cũ), nguyên giáo viên mất sức. Năm 1997 đến năm 2007 chị là UV.BCH, Chánh văn phòng Hội VHNT tỉnh Hà Nam. Hiện chị sống và viết tại TP. Bà Rịa (cũ).
Xem thêm
Gió đồng khoáng đạt – Truyện ngắn Hồ Tĩnh Tâm
Tôi cùng với anh bạn Dũng Hạnh đi xe gần hết nửa ngày, thêm gần nửa buổi ngồi đò nữa thì tới được đồng Ngao. Cánh đồng rộng ngút ngát, nhìn thấy ngờm ngợp con mắt. Anh bạn nói: “Phải mua thủ can rượu cho chắc. Nó sống mụ mị giữa đồng, hết rượu có mà chạy trào máu mắt”.
Xem thêm
Cánh ngỗng đỏ bay qua giếng ngọc – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Mối hòa hiếu của hai quốc gia lân bang được bắt đầu khi Trọng Thủy bước vào thành. Chàng là một người trẻ tuổi đẹp đẽ, trong trẻo, sáng ngời như ánh dương đầu hạ. Mắt đen thăm thẳm như nước giếng mới khơi. Lưng cao, tiếng nói dịu, lễ nghi chu toàn. Kim Quy không ngờ đó là con trai Triệu Đà. Vì chàng khác hẳn sự hiểm độc của người cha. Chàng chỉ là người trần, sinh ra từ người mẹ chết sớm, lớn lên trong cung cấm nhưng đầy mộng mơ. Chàng không biết cha mình là hóa thân của kẻ thù truyền kiếp của Kim Quy. Trọng Thủy khi ấy chỉ mang một ước vọng: tìm thấy một nơi bình yên, một người con gái xinh đẹp có thể khiến chàng được sống thật với lòng mình. Chàng cũng từng kinh sợ những cuộc giao tranh, trừng phạt, giết chóc của vua cha. Rời xa vua cha cùng kinh thành là điều chàng từng mong muốn.Trọng Thủy nhận lệnh vua cha đến Loa Thành gặp Mỵ Châu nhưng chưa một lần biết mặt người con gái đó. Chàng lãng mạn tin rằng Mỵ Châu là đóa hoa đẹp nhất của đất Âu Lạc.
Xem thêm
Tiếng trống gọi mùa ban - Truyện ngắn của Hà Minh Hưng
Tâm lý chung nhiều người khi đã đến một nơi rồi, lần trở lại thường không còn háo hức lắm.
Xem thêm
Chùm truyện siêu ngắn của Cristina Rivera Garza
Cristina Rivera Garza sinh năm 1964, nhà văn nổi tiếng người Mexico. Sự nghiệp của bà bắt đầu được ghi nhận từ những năm 1980, khi bà đoạt giải thơ Punto de Partida năm 1984 với Apuntes, giải truyện ngắn quốc gia San Luis Potosí năm 1987 với La guerra no importa. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Cristina Rivera Garza là Nadie me verá llorar, tác phẩm này đã mang lại cho bà Giải IMPAC/CONARTE/ITESM năm 2000. Carlos Fuentes từng gọi đây là “một trong những tiểu thuyết vừa đẹp vừa ám ảnh nhất từng được viết ở Mexico”. Năm 2024, bà đoạt giải Pulitzer cho thể loại hồi kí - tự truyện với tác phẩm El invencible verano de Liliana.
Xem thêm
Lock down – Truyện ngắn của Bùi Đế Yên.
Nhà văn Bùi Đế Yên làm thơ trước khi viết truyện ngắn. Đọc truyện của chị, tưởng chị đang ngồi thủ thỉ kể một câu chuyện vừa mới xãy ra đầy hấp dẫn, khi nghe hết chuyện, lòng ta cứ thấy bâng khuâng …
Xem thêm
Nguyền rủa - Truyện ngắn
Gia đình bà Hường chuyển về sống lam lũ với xóm nghèo. Các khu dân cư mọc lên như nấm sau mưa; lối mòn biến thành đường nhựa. Ông Tấn suốt ngày cắp laptop vợ mua, đi “quan hệ kinh doanh”; đám trẻ con tò mò kháo nhau ông không biết dùng máy vi tính.
Xem thêm
Đêm trước phiên chợ – Truyện ngắn của Lương Mỹ Hạnh
Lão Hạo không lộ mặt, ra lệnh cho tay chân nhanh chóng neo thuyền lại. Chúng lấy những đoạn dây chão to bằng cổ tay chằng buộc hai thuyền kẹp cứng với nhau. Mặt đằng đằng sát khí, hơn chục thằng cầm dao, kiếm, côn nhảy sang thuyền thằng Lanh. Một cuộc ẩu đả bất phân thắng bại nổ ra, hai bên cùng xông vào nhau đấm đá túi bụi.
Xem thêm
Tro bụi ngược chiều – Truyện ngắn Tịnh Bảo
Nắng trưa vàng như chảo mật ong tưới xuống. Nghĩa trang lớn nằm ở ngoại ô, những ngôi mộ nơi góc khuất bị cỏ dại bọc kín, bia đá lấm bụi, từng vệt bẩn kéo dài chảy xuống theo vệt nước mưa, có lẽ do cơn mưa chiều qua.
Xem thêm
Nắng chiều còn chảy – Truyện ngắn Đỗ Thanh Tuân
Trời xứ núi chuyển giông lúc nào cũng dữ dội như đón bão. Gió ầm ào. Cây rừng nghiêng ngả. Lá bay tứ tán. Mây ùn ùn về sắp đầy đầu núi, đen kịt.Chiếc xe máy chở Lan vừa chạy vừa nhảy cà tưng qua mấy ổ gà, những mỏm đá nhô cao của con đường núi thiên thẹo. Nước lùa ra đường đầy rều rác, cây bụi. Nhìn lên một bên là vách cheo leo, nhìn xuống bên kia là vực trong mưa chiều, trong cái sâu hun hút. Xa dưới kia, thác nước ào ào dội. Chốc chốc, chiếc xe dẹo mình cót két. Vậy mà bà chủ tiệm tạp hóa cứ đinh ninh là sẽ bắt cho cô chiếc xe thồ xịn nhất để vào nóc. Đúng xe núi hẳn hoi. Thiệt núi. Bà cười cố ý nhấn mạnh chữ “núi”. Xe cô, cứ để đó, khi mô trở ra thì lấy về. Dù chuẩn bị tâm lí trước nhưng Lan vẫn ngẩn người. Ở đây người ta sống bằng niềm tin. Lời nói ra xác tín như rìu chặt vào cây. Bà đưa Lan cái choàng mưa, tiện tay dúi thêm cái bao bóng lớn, nói ngó trời trong rứa chứ chút nữa thể nào cũng mưa, bỏ ba lô vào bọc ni lông cho khỏi ướt. Nhìn mớ đồ lỉnh kỉnh trong hành trang của Lan, bà cười. “Mong cái nóc Tu Mơ Rông giữ chân cô được.”
Xem thêm
Cô gái đứng trước biển Nhật Lệ - Truyện ngắn Vũ Khắc Tĩnh
Cô gái đã từng có nhiều ước mộng trong đời. Ngoài những giờ học ở trường, những lúc rảnh rỗi cô gái thích đi biển, thích đứng một mình trước biển hằng giờ ở đó, nhìn biển bình minh, mặt trời tròn vành vạnh đỏ rực lung linh, nhìn những con chim hải âu tung cánh bay dật dờ, chao nghiêng trên biển. Một buổi sáng bình minh trên biển rất đẹp, lung linh, lung linh, những đợt sóng vỗ tung toé trắng xoá. Lúc này biển đông người tắm, biển xao động tiếng cười nói của mọi người đánh tan sự im lặng, họ đùa giỡn với sóng nhấp nhô. Ai làm gì mặc kệ, cô gái vẫn đứng bất động một mình trước biển, trong đầu suy nghĩ gì không biết. Làm sao mà biết được. Tắm biển thì không bao giờ tắm. Một cô gái lạ lùng, tôi chưa từng thấy, từng gặp trường hợp này bao giờ. Đến biển, cô gái đứng nhìn biển trong tích tắc bình minh rồi về.
Xem thêm
Đoạn chi ma cước - Truyện ngắn của Châu Đăng Khoa
“Đoạn chi ma cước” dẫn người đọc vào cõi thiền – kiếm huyền bí của Edo, nơi một Ronin tật nguyền đối diện cái chết, ký ức và bản thể. Với bút pháp giàu hình ảnh và triết lý, Châu Đăng Khoa đã tạo nên một truyện ngắn độc đáo, đẹp và ám ảnh như một đường kiếm xé tuyết.
Xem thêm
Bất ngờ - Truyện ngắn của Lê Thúy Hà
Nhìn theo cô giáo trẻ lễ phép, thân thiện gửi xe chỗ ông, rồi bước đi hướng về căn phòng của lão trưởng phòng giáo dục thành phố, lòng ông Thái bỗng dấy lên nỗi bất an, “sao bây giờ vẫn còn có người đẹp tự nhiên, hương sắc mộc mạc thế, khéo lại là món mồi ngon tiếp theo của hắn rồi”. Nhưng ông đang mong muốn cơ hội này xuất hiện từng ngày, mà sao khả năng cao là đang đến, ông lại thấy lo lắng, bất an? Có phải sự mộc mạc, nhân hậu toát ra từ ánh mắt, giọng nói, con người cô giáo trẻ ấy khiến ông thấy bứt rứt.
Xem thêm