TIN TỨC

Văn Cao: Từ “Buồn tàn thu” tới mùa thu Cách mạng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-08-13 16:24:39
mail facebook google pos stwis
1901 lượt xem

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhạc sĩ Văn Cao (1923-2023), một chương trình nghệ thuật đặc biệt Đàn chim Việt sẽ được tổ chức để tôn vinh tài năng của người nghệ sĩ lớn. Chương trình diễn ra lúc 20 giờ ngày 20.8 tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Xin giới thiệu bài viết của nhạc sĩ Trần Lệ Chiến – Phó Tổng biên tập Tạp chí Âm nhạc – Hội nhạc sĩ Việt Nam về nhạc sĩ Văn Cao.

Nhạc sĩ Văn Cao

Nhạc sĩ Văn Cao sinh vào mùa thu năm 1923 và cũng nhẹ nhàng tạ thế vào mùa thu năm 1995. Với ông, “mùa thu vừa có cái ấm, có cái se lạnh cuối mùa và cũng là những ngày có nhiều tưởng tượng nhất”. Chính vì thế, ông có khoảng 30 ca khúc mang dấu ấn mùa thu.

Buồn tàn thu

Cuối những năm 1930, tân nhạc Việt Nam ra đời, chủ yếu là những bài ca trữ tình, lãng mạn. Ở Hải Phòng xuất hiện các tên tuổi như: Đinh Nhu, Lê Thương… Văn Cao tham gia vào nhóm Đồng Vọng cùng nhạc sĩ Hoàng Quý, Tô Vũ, Canh Thân, Đỗ Nhuận.

Ở tuổi 16, cái tuổi chưa hẳn đã lớn, nhưng cũng chẳng còn là trẻ thơ, song dường như suy nghĩ của Văn Cao chín hơn độ tuổi của mình. Trong ông luôn có sự dằn vặt, hoài nghi, tự đặt câu hỏi rồi lại tự đi tìm lời giải cho những nghĩ suy về thời cuộc.

Buồn tàn thu là sáng tác đầu tay có cảm xúc đa mang về thân phận con người, về nhân tình thế thái khiến người nghe giật mình bởi với tâm hồn của một chàng trai mới bước vào ngưỡng cửa cuộc đời, làm sao có thể cảm thấu được tình yêu, sự tuyệt vọng, cô đơn để viết ra được những ca từ thấm đẫm hồn thơ, hồn nhạc, quả thực là “độc nhất vô nhị”…

Người làm cho Buồn tàn thu trở nên nổi tiếng là danh ca Thái Thanh – giọng hát liêu trai, bàng bạc, ma mị của bà như cuốn người nghe vào câu chuyện tình yêu đầy trắc trở: “Người ơi! còn biết em nhớ mang/Tình xưa còn đó xa xôi lòng/Nhờ bóng chim uyên nhờ gió đưa duyên, chim với gió bay về chàng quên hết lời thề… Thôi tình em đấy như mùa thu chết rơi theo lá vàng”.

Không ai có thể tưởng tượng nổi, những ca từ, câu hát chất chứa bao nỗi niềm của yêu đương, luyến ái, đau khổ, nhớ nhung ấy lại được viết lên bởi một chàng thanh niên “mặt búng ra sữa”. Nói theo chữ của nhạc sĩ Thụy Kha “Văn Cao là trời cho”, nên ông đã cảm thấu được trọn vẹn những thanh âm của mùa thu đang dần tàn lụi; cảm nhận được sự khắc khoải đợi chờ như thắt từng khúc ruột. Cảm xúc yêu đương, luyến ái “kề má say sưa”.

Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha từng nhận xét: “Buồn tàn thu của Văn Cao ra đời với hơi hướng của âm nhạc ca trù, phong vị Đường thi ở lời ca. Tác phẩm mang một tâm trạng tiếc nuối về những sự ra đi không trở lại: Đêm mùa thu chết – Nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng…”.

Theo nhạc sĩ Văn Cao lúc sinh thời, trước khi Buồn tan thu được “đóng đinh” với giọng hát Thái Thanh thì nhạc sĩ Phạm Duy là người đầu tiên hát, góp phần lan tỏa ca khúc này cùng nhiều tác phẩm khác của ông đến với công chúng trong và ngoài nước.

Sau Thái Thanh, có nhiều người hát và định hình tiếng hát của mình với Buồn tàn thu, trong đó có ca sĩ Ánh Tuyết. Nhạc sĩ Văn Cao dành nhiều lời khen tặng cho Ánh Tuyết, bởi cô đã thấu cảm được ca từ, giai điệu của tác phẩm và cất lên tiếng hát nức nở bằng rung động sâu thẳm của trái tim người nghệ sĩ.

Lối hát tự sự, không nhạc đệm, theo một phong vị riêng khiến nhạc sĩ Văn Cao từng thốt lên rằng: “Ánh Tuyết là người đã chạm được vào những rung cảm của giai điệu bài hát và trình diễn nó theo cách mà tôi hài lòng nhất”.

Nhiều khán giả nhận xét: “Sau năm 1975, Ánh Tuyết là ca sĩ hát nhạc của Văn Cao hay nhất”. Bản thân người viết không ít lần chứng kiến ca sĩ Ánh Tuyết bỗng nhòa lệ khi hát Buồn tàn thu, và cũng nhiều khi khán phòng nhà hát có tiếng sụt sùi chung mạch cảm với ca sĩ.

Sau Buồn tàn thu, Văn Cao viết: Thiên Thai (1941), Bến xuân, Thu cô liêu, Cung đàn xưa, Đàn chim Việt, Suối mơ (1942), Trương Chi (1943). Mỗi tác phẩm là một câu chuyện thú vị, như những bức tranh âm thanh nhiều màu sắc. Ở đó có khoảng tối – sáng, trầm – bổng, khi da diết, lúc dồn dập… khiến người nghe bị cuốn vào mạch kể chuyện khó mà dứt ra nửa chừng, bởi giai điệu và ca từ như tuôn chảy, như con tằm rút ruột nhả tơ, nghe – cảm và thấu từng ca từ ẩn dụ, đầy tính triết lý và cũng thật giàu hình tượng.

Mặc dù sáng tác của Văn Cao mang hơi hướng phong cách của âm nhạc Châu Âu. Tuy nhiên, cái hồn cốt của âm nhạc Việt đã ngấm sâu trong từng mạch máu nên những tác phẩm ông viết trong thời kỳ đầu của tân nhạc Việt Nam vẫn ẩn chứa nét tinh túy của âm nhạc dân tộc.

Sau một loạt bài hát lãng mạn, trữ tình, cùng thời gian và biến động của đời sống xã hội, nhạc sĩ chuyển hướng sáng tác những bài hát có giai điệu hào hùng, là những hành khúc như lời kêu gọi, hiệu triệu các tầng lớp nhân dân cùng đồng tâm, đồng lòng một tình yêu Tổ quốc.

Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Văn Cao gắn liền với lịch sử, đồng hành cùng dân tộc.

Mùa thu Cách mạng

Sau một loạt những bản tình ca, Văn Cao viết Gò Đống Đa – một ca khúc yêu nước đầy khí phách, thể hiện tinh thần quả cảm, hùng tráng và dữ dội. Có lẽ khi tham gia vào nhóm Đồng Vọng, ông ít nhiều đã ảnh hưởng trong tư tưởng sáng tạo.

Song có lẽ bước ngoặt cuộc đời chính là sự xuất hiện của Tiến quân ca – ông khẳng định quyết tâm, ý chí một lòng đi theo cách mạng từ những động viên khích lệ của một cán bộ Việt Minh là ông Vũ Quý.

Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng – biểu trưng cho dân tộc Việt Nam hiện diện trong hành khúc đầy hào sảng, hùng tráng, mang khí phách, cốt cách của người Việt Nam “thà hi sinh chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.

Tác phẩm là sự xuất thần của Văn Cao cả về nội dung, hình thức thể hiện, tư tưởng và nghệ thuật. Ngay khi xuất hiện, Tiến quân ca đã được các tầng lớp nhân dân Việt Nam đón nhận, bởi dự cảm của ông cũng là điều mong mỏi của cả dân tộc.

Tiến quân ca như mốc son của âm nhạc Việt Nam trong dòng chảy lịch sử của dân tộc. Ngày 1.8.1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định lấy Tiến quân ca làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và lần đầu tiên Tiến quân ca được in trên trang Văn nghệ của báo Độc Lập tháng 11.1944 bằng bản in đá do chính Văn Cao viết.

Ngày 17.8.1945, trong cuộc mít tinh của nhân dân Hà Nội trước Quảng trường Cách mạng Tháng Tám, những câu hát được cất lên. Ngày 19.8.1945, trong cuộc mít tinh lớn, dàn đồng ca của Đội Thiếu niên Tiền phong cũng hát vang bài hát này. Ngày 2.9.1945, Tiến quân ca chính thức được cử hành trong Lễ Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, cùng Ban nhạc Giải phóng quân do nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên chỉ huy.

Từ đó cho tới nay, gần 80 năm qua đi, mỗi người dân đất Việt đều tự hào, xúc động mỗi khi Quốc ca Việt Nam được vang lên, nhất là trên các đấu trường quốc tế. Quốc ca được hát trang trọng trong lễ chào cờ, nhưng Tiến quân ca – Quốc ca còn được nhiều nghệ sĩ biểu diễn với các hình thức nghệ thuật khác nhau, mang lại cảm xúc đặc biệt.

Cuộc đời, sự nghiệp của nhạc sĩ Văn Cao hòa vào dòng chảy của lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Ở mỗi giai đoạn phải trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, song tình yêu Tổ quốc vẫn sắt son chung thủy và được ông ghi lại trong thơ – nhạc – họa.

Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn đã viết: “Cuộc đời 72 năm của Văn Cao gắn bó trọn vẹn với Việt Nam thế kỷ XX nhiều biến động, để lại cho thế hệ sau không ít câu hỏi không dễ trả lời… Những ngày tháng Văn Cao đã sống, cứ đổ cái bóng gầy hắt hiu và trắc ẩn vào lòng công chúng, mà những bài hát của ông không lý giải được, những bức tranh của ông cũng không lý giải được. Chỉ còn lại thơ, xoa dịu và tỏ bày giùm Văn Cao”.

Mỗi tác phẩm của nhạc sĩ Văn Cao ghi lại dấu ấn quan trọng có giá trị về tư tưởng, phong cách và nghệ thuật riêng biệt, không trộn lẫn. Những tác phẩm ấy đã vượt thời gian, trao truyền và lan tỏa đến nhiều thế hệ nghệ sĩ, công chúng trong và ngoài nước, khắc tên mình một cách chói sáng trong nền văn hoá nghệ thuật Việt Nam.

Năm 2016, gia đình nhạc sĩ Văn Cao đã thực hiện di nguyện của ông: hiến tặng bản quyền Quốc ca cho Tổ quốc. Đó cũng là điều rất đặc biệt và thiêng liêng.

TRẦN LỆ CHIẾN

Theo Vietnamnet

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ tuổi Bính Ngọ Đinh Nho Tuấn, ai gõ vào hồn phách?
Bước vào thi đàn khi đã ở tuổi ngũ tuần, Tiến sĩ Đinh Nho Tuấn không chọn cách đi thong dong mà quyết liệt bùng nổ với một năng lượng cảm xúc dồn nén suốt nửa đời người.
Xem thêm
Nhà thơ Bruce Weigl: “Không có cách nào đẹp hơn để tôn vinh văn hóa và đất nước mình bằng nghệ thuật và thi ca”
Nhà thơ Bruce Weigl (SN 1949) được biết đến là một nhà thơ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn ở Mỹ. Ông cũng là một dịch giả, giáo sư đại học và là tác giả của hàng chục tập thơ riêng và cuốn hồi kí nổi tiếng mang tên “Vòng tròn của Hạnh”. Bruce Weigl là một trong 2 cựu chiến binh Mỹ đã được Tổng Bí thư Tô Lâm trực tiếp trao tặng Huân chương Hữu nghị năm 2024, vì sự đóng góp tích cực cho việc quảng bá, giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới và góp phần xây dựng nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ.
Xem thêm
Trịnh Bích Ngân: Người nối dài những câu chuyện
Nhà văn Trịnh Bích Ngân hiện là Ủy viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh. Hành trình của chị không chỉ là hành trình của một cây bút đa tài, mà còn là hành trình của một người “giữ lửa” và “kết nối” không mệt mỏi cho văn chương.
Xem thêm
Tiểu thuyết Ngô Vương và dấu mốc Bạch Đằng
Chúng ta là công dân trong thời đại Hồ Chí Minh, trong thời đại số này chúng ta càng phải hiểu sâu sắc những bài học từ lịch sử như vậy. Chúng ta có hiểu chúng ta mới giáo dục được con cháu chứ. Chúng ta còn lờ mờ không hiểu rồi cũng không có hành động gì, làm gì cũng lười nhác, cống hiến thì ngại, so sánh rồi ganh ghét với các khu vực khác là người ta thế này thì tôi chỉ thế thôi... Chúng ta không cống hiến về thời gian về trí tuệ, vật chất thì đời nào có sự hào hùng về sau, mãi mãi sẽ tụt hậu, lại trở thành thu nhập thấp, trở thành bị lệ thuộc, lại thành không đáng có thì lấy đâu ra sự hào hùng dân tộc nữa? Cho nên tôi nghĩ rằng, bằng sức vóc của mình, bằng trí tuệ, niềm tin, bằng khả năng của mình, tôi đề nghị, đặc biệt là lớp trẻ chúng ta tự hào không thể tự hào suông được, tự tin không thể tự tin suông được, phải hành động bằng trí tuệ, khát vọng và sự cống hiến của mình thật tốt để tiếp tục xứng đáng với tổ tiên.
Xem thêm
Hành trình Chạm và gợi mở...
Cầm trên tay, ngắm, nhìn, chầm chậm lật giở từng trang LookBook Quảng Bình Đông Xuân, cuốn sách theo phong cách Travel Lookbook (sách ảnh du lịch) đầu tiên của Việt Nam; dành thời gian tiếp xúc, làm việc với nhóm thực hiện nội dung, nhất là người chịu trách nhiệm chính Mai Trịnh (Trịnh Thị Phương Mai), tôi có thêm góc nhìn về những người trẻ không ngại đầu tư lớn, khao khát sáng tạo, cống hiến và ghi dấu ấn riêng để tạo nên những giá trị nhân văn cho cộng đồng.
Xem thêm
Nam Hiệp và 300 cuộc hẹn với thi ca trên làn sóng phát thanh
Khi THI CA ĐIỂM HẸN chạm mốc số 300, đó vừa là một con số đáng nhớ của một chương trình phát thanh và là dấu mốc của một chặng đường bền bỉ, kiên định và đầy trách nhiệm với thơ ca Việt Nam đương đại.
Xem thêm
Đại tướng Lê Văn Dũng – Một “ông già Nam bộ”
Bài viết của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh: Ngày nào tôi cũng bì bõm trong những trang văn
Thấy nhà văn Nguyễn Nhật Ánh vẫn ra sách đều đặn sau nhiều năm, có người hỏi ông rằng bao giờ thì ngừng viết. Đối với ông, đó là câu hỏi kỳ lạ, giống như khi bạn hỏi một người đang yêu: “Bao giờ thì anh mới ngừng yêu?”.
Xem thêm
86 gương mặt văn nghệ sĩ của Phùng Văn Khai: Những “gương mặt” biết kể chuyện
Dưới những chuyển động gấp gáp của đời sống đương đại, khi văn chương không ít lúc bị cuốn vào vòng quay của sự kiện, truyền thông và thị hiếu, thì những cuốn sách chọn cách đi chậm lại, lặng lẽ quan sát con người, lắng nghe chiều sâu của từng phận đời nghệ sĩ, càng trở nên hiếm và đáng quý, như một sự trở về thể loại chân dung văn học truyền thống. 86 gương mặt văn nghệ sĩ (Nxb Hội Nhà văn, 2025) của Phùng Văn Khai thuộc về mạch sách như vậy. Đây không chỉ là một tập chân dung văn học theo nghĩa thông thường, mà còn là một bản phác thảo rộng mở về đời sống tinh thần của nhiều thế hệ sáng tạo Việt Nam, từ những cây đại thụ đã thành tên tuổi trong lịch sử văn học, đến những gương mặt đương thời và lớp trẻ đang từng bước không ngừng khẳng định mình. Và, ẩn tàng phía sau những chân dung văn nghệ sĩ, chính là một chân dung tinh tế của người cầm bút.
Xem thêm
Nhà văn Trương Anh Quốc – Văn chương như người đi tìm kho báu
Nhà văn Trương Anh Quốc, ủy viên Ban văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam, sinh năm 1976 tại vùng miền núi tỉnh Quảng Nam. Anh đạt giải Nhì cuộc thi Văn học tuổi 20 năm 2005 với tập truyện ngắn “Sóng biển rì rào”, giải Nhất cuộc thi văn học tuổi 20 năm 2010 với tiểu thuyết “Biển”, cùng nhiều giải thưởng truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Báo Sài Gòn Giải phóng… Nhân dịp anh vừa ra mắt cuốn tiểu thuyết thứ tư “Trùng khơi nghe sóng”, Trương Anh Quốc đã có cuộc trò chuyện nhỏ về văn chương với Văn nghệ Thành phố.
Xem thêm
Chuyện bút danh Đynh Trầm Ca và bài hát Ru con tình cũ
Đynh Trầm Ca tên thật Mạc Phụ, sinh năm 1941 tại Vĩnh Điện, Quảng Nam (cũ). Hơn 60 năm tuổi nghề, Đynh Trầm Ca đã sáng tác hơn 300 bài thơ và gần 100 bài ca khúc. Vì tuổi cao sức yếu, nhạc sĩ đã qua đời vào ngày 1/12/2025, hưởng thọ 85 tuổi.
Xem thêm
Vi Thùy Linh và hành trình vượt lên chính mình
Tính từ bài thơ đầu tiên viết năm 15 tuổi (tháng 9/1995), sau này được đưa vào tập thơ đầu tay (Khát, NXB Hội Nhà văn, 1999), Vi Thùy Linh đã có một hành trình sáng tác 30 năm với 7 tập thơ. 30 năm trôi đi gắn với bao đổi thay, biến động trong đời sống, thiếu nữ Vi Thùy Linh đã là bà mẹ hai con.
Xem thêm
Nhạc sĩ Thế Hiển - Người lính không mang quân hàm
Bài viết của NSND Nguyễn Thị Thanh Thúy
Xem thêm