TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tìm hiểu đặc trưng truyện ngắn Nam Cao dưới góc nhìn thi pháp hiện đại

Tìm hiểu đặc trưng truyện ngắn Nam Cao dưới góc nhìn thi pháp hiện đại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-01 01:48:17
mail facebook google pos stwis
1801 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Khi đọc truyện ngắn hiện đại, điều nhiều người quan tâm là yếu tố nào làm nên sự khác biệt giữa các tác giả. Thực ra không phải chỉ ở đề tài, chủ đề, nội dung tư tưởng, ngôn ngữ hay bố cục, kết cấu tác phẩm..., mà là ở giọng văn/giọng điệu mới chủ yếu làm nên sự khu biệt về phong cách tác giả.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Với truyện ngắn hiện đại, giọng văn biến hóa và phong phú vô cùng. Nó làm nên phong cách nghệ thuật riêng của các tác giả. Điều này đã được nhà thi pháp học M.M.Bakhtin nói đến từ lâu trong cuốn “Lý luận và thi pháp tiểu thuyết” (Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội, 1992): “Cái bản chất mâu thuẫn của xã hội đang hình thành vốn không thể chứa đựng được những ý thức độc thoại, trực quan, bình lặng, tự tin, cần phải thực hiện một cách gay gắt và đồng thời những đặc tính của thế giới va chạm vào nhau, bị mất thế cân bằng tin tưởng càng cần phải khắc họa đặc biệt đầy đặn và sắc nét. Những điều ấy đã tạo nên tiền đề khách quan cho sự đa bình diện, đa giọng điệu”. Và truyện Nam Cao trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 là một hiện tượng tiêu biểu cho điều này. Tính đa thanh, phức điệu của truyện ngắn Nam Cao thể hiện trên nhiều bình diện.

Lối kể chuyện bằng nhiều giọng điệu

Đa giọng điệu ở truyện Nam Cao trước hết là ở lối kể chuyện nhiều giọng. Nhà văn sử dụng một lối ngôn ngữ mang tính tạo hình và đa thanh. Ngôn ngữ đa thanh nhấn mạnh vào người khác, hướng về một tiếng nói khác, tiếng nói của tác giả hướng về tiếng nói của nhân vật, tiếng nói của nhân vật này hướng về tiếng nói của nhân vật khác. Các giọng này ở nhiều cấp độ: Giữa truyện với truyện; giữa các phần trong một truyện và nhỏ nhất là trong một đoạn của truyện. Tùy theo nội dung tư tưởng của từng truyện mà giọng chủ đạo nổi lên bên cạch các giọng khác. Chẳng hạn, một số truyện như: Lão Hạc, Từ ngày mẹ chết, Mua nhà, Dì Hảo… giọng nghiêm nghị thể hiện phẩm chất cao quý, tình mẫu tử, đức hy sinh của nhân vật qua sự trân trọng chân thật của người kể. Ngược lại, với những truyện như: Cái mặt không chơi được, Cười… giọng chủ đạo là hài hước, chua chát để kể về bộ mặt lạnh như nước đá, ngượng nghịu và vô duyên, những cảnh trớ trêu đành phải “cười trừ” vì cơm áo hàng ngày…

Sự đan cài giữa các giọng văn trong cùng một tác phẩm

Quán xuyến trong phần lớn các tác phẩm của Nam Cao là sự đan cài giữa các giọng trong cùng một tác phẩm, một đoạn văn. Chí Phèo, Trẻ con không được ăn thịt chó, Cười, Quên điều độ, Những chuyện không muốn viết, Lang rận… là những truyện có tính chất này. Ở đoạn đầu của truyện Chí Phèo: “Hắn vừa đi vừa chửi… Thế thì có khổ hắn không?” ta thấy có sự đan xen giữa hai giọng: Giọng nhà văn và giọng Chí Phèo. Hoặc ở một đoạn khác, lúc Chí Phèo cầm vỏ chai đến nhà Bá Kiến lần đầu tiên: “Thôi thì cứ đóng cái cổng cho thật chặt… Mới ngoa ngoắt làm sao”. Phân tích đoạn này, ta thấy các giọng lần lượt sau: Giọng của các bà, giọng của tác giả, giọng của người láng giềng và cuối cùng là giọng Chí Phèo. Giọng điệu cả hai đoạn văn trên và rất nhiều đoạn khác thường khai thác dưới hình thức “song thanh khác phương hướng”. Giọng của người kể thường mang sắc thái trêu trọc, mỉa mai, biếm phỏng. Giọng trêu chọc của người kể chuyện cứ tăng dần từng nấc và đến lúc nào đấy, ngôn ngữ nhân vật bật ra dưới dạng thức một ngôn thoại trực tiếp. Chuyện hướng về nhân vật với tính chất đối thoại, nhưng gây ấn tượng mạnh ở chỗ nó cũng đang hướng về người đọc.

Trong loại “song thanh cùng phương hướng”, giọng của người kể và giọng của nhân vật hòa quyện đến mức không thể phân biệt được nữa. Ta bắt gặp ở một số truyện như: Giăng sáng, Điếu văn, Đời thừa… Xin trích đoạn sau đây trong truyện Trẻ con không được ăn thịt chó: “Bây giờ thì mọi thức đã xong rồi… Hắn lảm nhảm bênh vực cho cái dự định của hắn như thế mãi, tuy chẳng có ai phản đối”. Chúng ta thấy ngôn ngữ người kể chuyện xê dịch giữa hai thái cực: Giữa thứ ngôn ngữ thông báo khô khan, có tính chất văn bản (bây giờ thì mọi thức đã xong rồi) và ngôn từ của nhân vật. Khi ngôn từ người kể chuyện hướng về ngôn từ của nhân vật thì nó trình bày với giọng đồng tình, cảm thông (chẳng cần múc làm gì cho rếch bát… Ăn thịt chó chứ có phải ăn bát đâu mà cần). Hai thứ ngôn ngữ đó hòa làm một. Chứng tỏ lối kể của Nam Cao là lối kể không có “viễn ảnh” – nói theo thuật ngữ của nghệ thuật học. Người kể chuyện ở ngay cạnh nhân vật và biến cố đang xảy ra. Nam Cao đã “đa thanh hóa” giọng điệu tự sự, giọng tác giả và giọng nhân vật đan cài vào nhau, tiếng nói của tác giả và tiếng nói nhân vật phụ họa nhau, có khi tranh cãi nhau quyết liệt. Giọng căng thường được thể hiện bằng lối đặc tả, trong đó sự kiện diễn biến dồn dập trong một thời gian gấp gáp, cụ thể, những lời đối thoại gây kích thích hành động và luôn hàm chứa trong nó nhiều giọng điệu luân phiên nhau, có khi hòa hợp khó phân biệt giữa giọng kể và giọng nhân vật. Giọng chùng là những lúc hồi ức về một quá khứ xa vời, một hành động diễn ra chậm chạp, một chuỗi suy nghiệm tính toán, những cảnh gợi liên tưởng hơn là kích thích hành động. Thủ pháp tạo giọng thường là dùng câu dài với những điệp ngữ xoắn xuýt, những kết từ, liên từ và lối tăng cấp tiệm tiến. Chính chất giọng chùng và căng này đã làm cho tấm bi kịch của một số nhân vật của Nam Cao hiện lên hồn một (Giăng sáng, Đời thừa, Một bữa no…).

Đời sống và tiếng nói riêng của nhân vật tạo nên sự đa giọng điệu

Trong truyện ngắn của Nam Cao, nhân vật sống thật và có tiếng nói riêng. Nhân vật với đầy đủ bản chất của nó như sinh hoạt, tính cách, dị dạng, ngôn ngữ… là hình tượng trung tâm của truyện. Nhân vật không phải là khách thể của lời văn tác giả, mà là chủ nhân có toàn vẹn giá trị và toàn quyền về lời nói của mình. Sự độc đáo của Nam Cao trong tính chất đa giọng điệu là việc khắc họa nhân vật. Nhân vật trong sáng tác của Nam Cao được miêu tả một cách thực tế chứ không phải biểu hiện, tức là không hòa nhập làm một với tác giả, không trở thành “cái loa” cho tiếng nói của tác giả. Khi xây dựng nhân vật, Nam Cao không nhằm xây dựng một tính cách mà ông chủ yếu khắc họa một tư tưởng. Tư tưởng tiến hành một cuộc sống độc lập trong ý thức nhân vật. Không phải nhân vật sống mà tư tưởng sống. Nam Cao không miêu tả cuộc đời của nhân vật mà ông miêu tả cuộc đời của tư tưởng nhân vật đó (những Chí Phèo, Lão Hạc, Dì Hảo, Hộ, Điền…).

Nam Cao lấy sự phân tích tâm lý làm chính để xây dựng truyện, dựng nhân vật. Dù nhân vật là nông dân hay trí thức, kẻ lưu manh hay người lương thiện, ngòi bút của tác giả khơi gợi đến cái phần nhạy cảm, phần nghĩ của chúng, bắt chúng phải tự bộc lộ. Chính vì vậy mà nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao nhiều tư tưởng, đa giọng điệu. Thi pháp truyền thống, khi xây dựng nhân vật bao giờ cũng tuân theo những nguyên tắc đồng nhất giữa các mặt: Ngoại hình và phẩm hạnh, ngôn ngữ và tính nết, hành động và suy nghĩ… Nam Cao tiến hành ngược lại. Nhân vật của ông có thể bề ngoài xấu xí nhưng tâm hồn đẹp (mụ Lợi trong Lang Rận), tâm địa xấu xa nhưng được trang mã khá đẹp (Kha trong Truyện tình), có khi chỉ một phương diện tâm hồn vừa đẹp vừa xấu (Điền, Hộ…). Ông nhận thức con người với tính chất phức tạp không cùng của nó, và mô tả chúng theo nguyên tắc không đồng nhất.

Sự xung khắc về tư tưởng dẫn đến sự đa giọng điệu

Sự xung khắc về tư tưởng đã dẫn đến sự đa giọng trong hình tượng nhân vật. Hãy tưởng tượng ra một đoạn văn đối thoại giữa hai người, trong đó những câu đối đáp của người tiếp chuyện thứ hai bị bỏ trống, nhưng làm sao cho ý nghĩa chung không bị suy suyển. Người trò truyện thứ hai hiện diện vô hình và tiếng nói của anh ta cũng vô hình, nhưng dấu vết sâu sắc của người đó lại quy định tất cả những lời nói hữu hình của người trò chuyện thứ nhất. Có thể nói truyện của Nam Cao đầy những kiểu đối thoại với “nhân vật vô hình” như thế, cho nên trong mỗi lời của nhân vật không phải là một giọng mà là đa giọng, là đối thoại ngầm. Chúng ta có thể gặp trong Chí Phèo, Dì Hảo, Trẻ con không được ăn thịt chó, Điếu văn, Giăng sáng, Đời thừa

Chẳng hạn trong Điếu văn tác giả là nhân vật xưng “tôi” viết về người đã khuất trong đoạn văn sau: “Chao ôi! Giá anh đã được ăn bát chè kia!... Có lẽ nào như thế được?”. Nỗi xót xa, niềm cảm thương của tác giả ở đoạn văn này sở dĩ dâng lên đầy ứa đến không cùng là bởi có sự đan xen giữa các giọng và sự đối thoại giữa chúng khá lý thú. Thứ nhất là sự đối thoại giữa nhà văn và “nhân vật vô hình” (người đã khuất): Thể hiện giọng điệu chân thành thương cảm của nhà văn đối với người đã khuất đang nói đến. Thứ hai là đối thoại với “nhân vật vô hình” khác (nhân vật vô hình ở đây có thể là tình cảnh khốn cùng, một kẻ nào đó, cả vợ của người đã khuất): thể hiện giọng điệu bất đồng, phản kháng… Nhà nghiên cứu Trần Đăng Xuyền cho rằng “nhân vật vô hình chủ yếu chính là thời gian đã mất”. Điền (Giăng sáng), Hộ (Đời thừa)  thường quay về quá khứ với những hồi ức tốt đẹp của mình. Nhìn ra “con người vô hình”, đứng trên “con người vô hình” trong một số trường hợp để thấy được bản chất thật của mỗi nhân vật và bênh vực cho nó, đó là tính nhân đạo ẩn giấu ở bên trong sự cảm thông, xót xa, tuy rằng lớp vỏ bên ngoài là miệt thị, là đay mỉa…

Sử dụng thủ pháp bộc lộ nội tâm

Trong hầu hết các tác phẩm, Nam Cao sử dụng biện pháp bộc lộ nội tâm bằng chính dòng suy nghĩ và câu hỏi mà nhân vật đặt cho mình, tự vấn mình. Những câu hỏi đó chỉ đặt ra mà không trả lời. Những dấu hỏi thường đặt ra sau mỗi sự kiện, mỗi biến cố, trước mỗi hoàn cảnh. Điền (Giăng sáng) tự vấn: “Hắn xẻn từ đồng xu uống nước trở đi. Hắn chịu nhục với mọi người như thế bởi vì đâu? Chẳng phải vì vợ con ư? Vợ hắn có nên tệ với hắn không? Hắn hà tiện vì ai!”. Chí Phèo, Đời thừa, Một đám cưới, Xem bói, Điếu văn, Từ ngày mẹ chết… đầy ấp những câu hỏi có tính chất này.

Thật ra thì đây không phải là những câu hỏi đòi sự trả lời, mà trong bản thân đã hàm ý trả lời - tự chất vấn chính sự khẳng định của "nhân vật vắng mặt" đồng tình hoàn cảnh. Nhà thi pháp Nga M.M.Bakhtin cho rằng: "Ngay sự truyền đạt một khẳng định người khác dưới hình thức câu hỏi cũng dẫn đến xung đột của hai sự lý giải trong một từ. Bởi vì chúng ta không chỉ hỏi mà chúng ta còn xem sự khẳng định của người khác là có vấn đề”.

Thủ pháp viết câu chưa hoàn kết tạo nên nhân tố đa giọng điệu

Bên cạnh việc đặt câu hỏi, hình thức viết câu chưa hoàn kết trong truyện cũng tạo nên yếu tố đa giọng điệu. "Ở khắp nơi, nhất là những chỗ có chấm lửng, hình như có thể nghe được những câu đối đáp của người khác có thể dự kiến. Và những đoạn này có thể triển khai thêm dưới hình thức đối thoại. Nhưng ở đây phức tạp hơn. Nếu ở lời nói ra mang giọng điệu tranh luận với "người khác" thì ở đây lại có hai tiếng nói: một tiếng tự tin thái quá và một tiếng khác quá rụt rè, nhượng bộ tất cả, đầu hàng hoàn toàn”.

Đặc sắc về đa thanh, phức điệu của Nam Cao trùng với quan niệm trên. Không ở tác giả nào mà việc sử dụng dấu chấm lửng, viết câu chưa hoàn kết lại thể hiện rõ và nhiều như thế ở trong truyện ngắn Nam Cao. Chính vì sự đan xen các giọng đến mức tối đa, vừa hướng đến một sự hồi đáp, vừa kích thích gợi mở đối với nhân vật đối diện. Sự chồng chất các giọng, sự luân phiên các giọng như dòng suối chảy, nó trở thành một “đà quán tính” có tính chất quy luật mà khi viết những câu văn, đoạn văn đến đó buộc tác giả không thể dừng lại hoàn toàn. Âm vang của nó chưa dứt, những lời đối thoại đang còn và quan trọng nhất là tư tưởng của nó chưa hoàn kết. Tất cả đều nằm dưới hình thức thể hiện của dấu ba chấm (…). Chỉ cần thống kê truyện Lão Hạc thì đã có 14 đoạn có dấu ba chấm trong tổng số 21 đoạn của truyện. Trong 40 lời đối thoại thì có đến 17 câu dùng hình thức quãng trống này. Truyện ngắn Lão Hạc có giọng của ông Giáo và giọng của người thuật chuyện… Giọng người thuật chuyện đóng vai trò thứ yếu, mang sắc thái cảm thông, chia sẻ. Giọng nhân vật ông Giáo ngược lại, có trạng thái hơi ngỡ ngàng, bất đồng và ít nhiều miệt thị. Vì thế mà truyện ngắn Lão Hạc đượm tính nhân văn ngay cả những đoạn văn tưởng chừng như đang mạt hờn, khinh bạc…

Tính chất phức điệu về ngôn ngữ

Điểm cuối cùng là tính chất phức điệu về ngôn ngữ. Trong truyện ngắn Nam Cao, thành phần ngôn ngữ nhân vật không có những phương ngữ hay biệt ngữ thật nổi bật. Mặt khác, do quan tâm truyền đạt những dao động, những biến thiên của tâm lí, tâm trạng, nên Nam Cao tạo nên được một ngôn ngữ ít nhiều có tính chất phức điệu, tổ chức được những mạng lưới phức tạp gồm cả ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong, ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ tự sự, ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật, có khi cả những đan xen, nhòe lẫn vào nhau của hai ngôn ngữ ấy. Điều này hoàn toàn khác với ngôn ngữ của các tác giả Tự lực văn đoàn. Họ như một chủ thể đưa ra một kiểu loại ngôn ngữ chuẩn mực, nhưng nó trở lên đơn điệu vì tất cả đều được phục vụ cho một “cái loa” tư tưởng, và càng đơn điệu hơn khi nó trở thành phổ biến. Vấn đề cũng khác với các tác giả Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng. Các tác giả này có xu thế “điều tra xã hội học” cho nên đưa lại thành phần ngôn ngữ nhân vật, nhất của các tầng lớp dưới đáy xã hội, đem lại cho ngôn ngữ tác phẩm những phong vị mới, chất lượng mới. Nhưng chính mang tính chất “điều tra xã hội học” này mà các tác giả khi miêu tả nhân vật, ngôn ngữ của họ thể hiện rất rõ, và điển hình cho một loại cá tính, một loại người trong giai cấp cụ thể.

Bảo rằng truyện Nam Cao gần như có đủ các chất liệu “hài và bi, trào phúng và chính luận, triết lí và trữ tình, nghịch dị và nhàm tẻ, thô thám và chất thơ...”, thì đó chính là sự đa thanh, phức điệu theo cách chúng tôi trình bày ở trên. Những “gam” giọng này đan bện vào nhau, tạo thành một hòa âm tuyệt vời của phong cách truyện ngắn Nam Cao.

(viết năm 1997, gọt chỉnh 2025)

T.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm