TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tìm hiểu đặc trưng truyện ngắn Nam Cao dưới góc nhìn thi pháp hiện đại

Tìm hiểu đặc trưng truyện ngắn Nam Cao dưới góc nhìn thi pháp hiện đại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-01 01:48:17
mail facebook google pos stwis
719 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Khi đọc truyện ngắn hiện đại, điều nhiều người quan tâm là yếu tố nào làm nên sự khác biệt giữa các tác giả. Thực ra không phải chỉ ở đề tài, chủ đề, nội dung tư tưởng, ngôn ngữ hay bố cục, kết cấu tác phẩm..., mà là ở giọng văn/giọng điệu mới chủ yếu làm nên sự khu biệt về phong cách tác giả.

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Với truyện ngắn hiện đại, giọng văn biến hóa và phong phú vô cùng. Nó làm nên phong cách nghệ thuật riêng của các tác giả. Điều này đã được nhà thi pháp học M.M.Bakhtin nói đến từ lâu trong cuốn “Lý luận và thi pháp tiểu thuyết” (Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội, 1992): “Cái bản chất mâu thuẫn của xã hội đang hình thành vốn không thể chứa đựng được những ý thức độc thoại, trực quan, bình lặng, tự tin, cần phải thực hiện một cách gay gắt và đồng thời những đặc tính của thế giới va chạm vào nhau, bị mất thế cân bằng tin tưởng càng cần phải khắc họa đặc biệt đầy đặn và sắc nét. Những điều ấy đã tạo nên tiền đề khách quan cho sự đa bình diện, đa giọng điệu”. Và truyện Nam Cao trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 là một hiện tượng tiêu biểu cho điều này. Tính đa thanh, phức điệu của truyện ngắn Nam Cao thể hiện trên nhiều bình diện.

Lối kể chuyện bằng nhiều giọng điệu

Đa giọng điệu ở truyện Nam Cao trước hết là ở lối kể chuyện nhiều giọng. Nhà văn sử dụng một lối ngôn ngữ mang tính tạo hình và đa thanh. Ngôn ngữ đa thanh nhấn mạnh vào người khác, hướng về một tiếng nói khác, tiếng nói của tác giả hướng về tiếng nói của nhân vật, tiếng nói của nhân vật này hướng về tiếng nói của nhân vật khác. Các giọng này ở nhiều cấp độ: Giữa truyện với truyện; giữa các phần trong một truyện và nhỏ nhất là trong một đoạn của truyện. Tùy theo nội dung tư tưởng của từng truyện mà giọng chủ đạo nổi lên bên cạch các giọng khác. Chẳng hạn, một số truyện như: Lão Hạc, Từ ngày mẹ chết, Mua nhà, Dì Hảo… giọng nghiêm nghị thể hiện phẩm chất cao quý, tình mẫu tử, đức hy sinh của nhân vật qua sự trân trọng chân thật của người kể. Ngược lại, với những truyện như: Cái mặt không chơi được, Cười… giọng chủ đạo là hài hước, chua chát để kể về bộ mặt lạnh như nước đá, ngượng nghịu và vô duyên, những cảnh trớ trêu đành phải “cười trừ” vì cơm áo hàng ngày…

Sự đan cài giữa các giọng văn trong cùng một tác phẩm

Quán xuyến trong phần lớn các tác phẩm của Nam Cao là sự đan cài giữa các giọng trong cùng một tác phẩm, một đoạn văn. Chí Phèo, Trẻ con không được ăn thịt chó, Cười, Quên điều độ, Những chuyện không muốn viết, Lang rận… là những truyện có tính chất này. Ở đoạn đầu của truyện Chí Phèo: “Hắn vừa đi vừa chửi… Thế thì có khổ hắn không?” ta thấy có sự đan xen giữa hai giọng: Giọng nhà văn và giọng Chí Phèo. Hoặc ở một đoạn khác, lúc Chí Phèo cầm vỏ chai đến nhà Bá Kiến lần đầu tiên: “Thôi thì cứ đóng cái cổng cho thật chặt… Mới ngoa ngoắt làm sao”. Phân tích đoạn này, ta thấy các giọng lần lượt sau: Giọng của các bà, giọng của tác giả, giọng của người láng giềng và cuối cùng là giọng Chí Phèo. Giọng điệu cả hai đoạn văn trên và rất nhiều đoạn khác thường khai thác dưới hình thức “song thanh khác phương hướng”. Giọng của người kể thường mang sắc thái trêu trọc, mỉa mai, biếm phỏng. Giọng trêu chọc của người kể chuyện cứ tăng dần từng nấc và đến lúc nào đấy, ngôn ngữ nhân vật bật ra dưới dạng thức một ngôn thoại trực tiếp. Chuyện hướng về nhân vật với tính chất đối thoại, nhưng gây ấn tượng mạnh ở chỗ nó cũng đang hướng về người đọc.

Trong loại “song thanh cùng phương hướng”, giọng của người kể và giọng của nhân vật hòa quyện đến mức không thể phân biệt được nữa. Ta bắt gặp ở một số truyện như: Giăng sáng, Điếu văn, Đời thừa… Xin trích đoạn sau đây trong truyện Trẻ con không được ăn thịt chó: “Bây giờ thì mọi thức đã xong rồi… Hắn lảm nhảm bênh vực cho cái dự định của hắn như thế mãi, tuy chẳng có ai phản đối”. Chúng ta thấy ngôn ngữ người kể chuyện xê dịch giữa hai thái cực: Giữa thứ ngôn ngữ thông báo khô khan, có tính chất văn bản (bây giờ thì mọi thức đã xong rồi) và ngôn từ của nhân vật. Khi ngôn từ người kể chuyện hướng về ngôn từ của nhân vật thì nó trình bày với giọng đồng tình, cảm thông (chẳng cần múc làm gì cho rếch bát… Ăn thịt chó chứ có phải ăn bát đâu mà cần). Hai thứ ngôn ngữ đó hòa làm một. Chứng tỏ lối kể của Nam Cao là lối kể không có “viễn ảnh” – nói theo thuật ngữ của nghệ thuật học. Người kể chuyện ở ngay cạnh nhân vật và biến cố đang xảy ra. Nam Cao đã “đa thanh hóa” giọng điệu tự sự, giọng tác giả và giọng nhân vật đan cài vào nhau, tiếng nói của tác giả và tiếng nói nhân vật phụ họa nhau, có khi tranh cãi nhau quyết liệt. Giọng căng thường được thể hiện bằng lối đặc tả, trong đó sự kiện diễn biến dồn dập trong một thời gian gấp gáp, cụ thể, những lời đối thoại gây kích thích hành động và luôn hàm chứa trong nó nhiều giọng điệu luân phiên nhau, có khi hòa hợp khó phân biệt giữa giọng kể và giọng nhân vật. Giọng chùng là những lúc hồi ức về một quá khứ xa vời, một hành động diễn ra chậm chạp, một chuỗi suy nghiệm tính toán, những cảnh gợi liên tưởng hơn là kích thích hành động. Thủ pháp tạo giọng thường là dùng câu dài với những điệp ngữ xoắn xuýt, những kết từ, liên từ và lối tăng cấp tiệm tiến. Chính chất giọng chùng và căng này đã làm cho tấm bi kịch của một số nhân vật của Nam Cao hiện lên hồn một (Giăng sáng, Đời thừa, Một bữa no…).

Đời sống và tiếng nói riêng của nhân vật tạo nên sự đa giọng điệu

Trong truyện ngắn của Nam Cao, nhân vật sống thật và có tiếng nói riêng. Nhân vật với đầy đủ bản chất của nó như sinh hoạt, tính cách, dị dạng, ngôn ngữ… là hình tượng trung tâm của truyện. Nhân vật không phải là khách thể của lời văn tác giả, mà là chủ nhân có toàn vẹn giá trị và toàn quyền về lời nói của mình. Sự độc đáo của Nam Cao trong tính chất đa giọng điệu là việc khắc họa nhân vật. Nhân vật trong sáng tác của Nam Cao được miêu tả một cách thực tế chứ không phải biểu hiện, tức là không hòa nhập làm một với tác giả, không trở thành “cái loa” cho tiếng nói của tác giả. Khi xây dựng nhân vật, Nam Cao không nhằm xây dựng một tính cách mà ông chủ yếu khắc họa một tư tưởng. Tư tưởng tiến hành một cuộc sống độc lập trong ý thức nhân vật. Không phải nhân vật sống mà tư tưởng sống. Nam Cao không miêu tả cuộc đời của nhân vật mà ông miêu tả cuộc đời của tư tưởng nhân vật đó (những Chí Phèo, Lão Hạc, Dì Hảo, Hộ, Điền…).

Nam Cao lấy sự phân tích tâm lý làm chính để xây dựng truyện, dựng nhân vật. Dù nhân vật là nông dân hay trí thức, kẻ lưu manh hay người lương thiện, ngòi bút của tác giả khơi gợi đến cái phần nhạy cảm, phần nghĩ của chúng, bắt chúng phải tự bộc lộ. Chính vì vậy mà nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao nhiều tư tưởng, đa giọng điệu. Thi pháp truyền thống, khi xây dựng nhân vật bao giờ cũng tuân theo những nguyên tắc đồng nhất giữa các mặt: Ngoại hình và phẩm hạnh, ngôn ngữ và tính nết, hành động và suy nghĩ… Nam Cao tiến hành ngược lại. Nhân vật của ông có thể bề ngoài xấu xí nhưng tâm hồn đẹp (mụ Lợi trong Lang Rận), tâm địa xấu xa nhưng được trang mã khá đẹp (Kha trong Truyện tình), có khi chỉ một phương diện tâm hồn vừa đẹp vừa xấu (Điền, Hộ…). Ông nhận thức con người với tính chất phức tạp không cùng của nó, và mô tả chúng theo nguyên tắc không đồng nhất.

Sự xung khắc về tư tưởng dẫn đến sự đa giọng điệu

Sự xung khắc về tư tưởng đã dẫn đến sự đa giọng trong hình tượng nhân vật. Hãy tưởng tượng ra một đoạn văn đối thoại giữa hai người, trong đó những câu đối đáp của người tiếp chuyện thứ hai bị bỏ trống, nhưng làm sao cho ý nghĩa chung không bị suy suyển. Người trò truyện thứ hai hiện diện vô hình và tiếng nói của anh ta cũng vô hình, nhưng dấu vết sâu sắc của người đó lại quy định tất cả những lời nói hữu hình của người trò chuyện thứ nhất. Có thể nói truyện của Nam Cao đầy những kiểu đối thoại với “nhân vật vô hình” như thế, cho nên trong mỗi lời của nhân vật không phải là một giọng mà là đa giọng, là đối thoại ngầm. Chúng ta có thể gặp trong Chí Phèo, Dì Hảo, Trẻ con không được ăn thịt chó, Điếu văn, Giăng sáng, Đời thừa

Chẳng hạn trong Điếu văn tác giả là nhân vật xưng “tôi” viết về người đã khuất trong đoạn văn sau: “Chao ôi! Giá anh đã được ăn bát chè kia!... Có lẽ nào như thế được?”. Nỗi xót xa, niềm cảm thương của tác giả ở đoạn văn này sở dĩ dâng lên đầy ứa đến không cùng là bởi có sự đan xen giữa các giọng và sự đối thoại giữa chúng khá lý thú. Thứ nhất là sự đối thoại giữa nhà văn và “nhân vật vô hình” (người đã khuất): Thể hiện giọng điệu chân thành thương cảm của nhà văn đối với người đã khuất đang nói đến. Thứ hai là đối thoại với “nhân vật vô hình” khác (nhân vật vô hình ở đây có thể là tình cảnh khốn cùng, một kẻ nào đó, cả vợ của người đã khuất): thể hiện giọng điệu bất đồng, phản kháng… Nhà nghiên cứu Trần Đăng Xuyền cho rằng “nhân vật vô hình chủ yếu chính là thời gian đã mất”. Điền (Giăng sáng), Hộ (Đời thừa)  thường quay về quá khứ với những hồi ức tốt đẹp của mình. Nhìn ra “con người vô hình”, đứng trên “con người vô hình” trong một số trường hợp để thấy được bản chất thật của mỗi nhân vật và bênh vực cho nó, đó là tính nhân đạo ẩn giấu ở bên trong sự cảm thông, xót xa, tuy rằng lớp vỏ bên ngoài là miệt thị, là đay mỉa…

Sử dụng thủ pháp bộc lộ nội tâm

Trong hầu hết các tác phẩm, Nam Cao sử dụng biện pháp bộc lộ nội tâm bằng chính dòng suy nghĩ và câu hỏi mà nhân vật đặt cho mình, tự vấn mình. Những câu hỏi đó chỉ đặt ra mà không trả lời. Những dấu hỏi thường đặt ra sau mỗi sự kiện, mỗi biến cố, trước mỗi hoàn cảnh. Điền (Giăng sáng) tự vấn: “Hắn xẻn từ đồng xu uống nước trở đi. Hắn chịu nhục với mọi người như thế bởi vì đâu? Chẳng phải vì vợ con ư? Vợ hắn có nên tệ với hắn không? Hắn hà tiện vì ai!”. Chí Phèo, Đời thừa, Một đám cưới, Xem bói, Điếu văn, Từ ngày mẹ chết… đầy ấp những câu hỏi có tính chất này.

Thật ra thì đây không phải là những câu hỏi đòi sự trả lời, mà trong bản thân đã hàm ý trả lời - tự chất vấn chính sự khẳng định của "nhân vật vắng mặt" đồng tình hoàn cảnh. Nhà thi pháp Nga M.M.Bakhtin cho rằng: "Ngay sự truyền đạt một khẳng định người khác dưới hình thức câu hỏi cũng dẫn đến xung đột của hai sự lý giải trong một từ. Bởi vì chúng ta không chỉ hỏi mà chúng ta còn xem sự khẳng định của người khác là có vấn đề”.

Thủ pháp viết câu chưa hoàn kết tạo nên nhân tố đa giọng điệu

Bên cạnh việc đặt câu hỏi, hình thức viết câu chưa hoàn kết trong truyện cũng tạo nên yếu tố đa giọng điệu. "Ở khắp nơi, nhất là những chỗ có chấm lửng, hình như có thể nghe được những câu đối đáp của người khác có thể dự kiến. Và những đoạn này có thể triển khai thêm dưới hình thức đối thoại. Nhưng ở đây phức tạp hơn. Nếu ở lời nói ra mang giọng điệu tranh luận với "người khác" thì ở đây lại có hai tiếng nói: một tiếng tự tin thái quá và một tiếng khác quá rụt rè, nhượng bộ tất cả, đầu hàng hoàn toàn”.

Đặc sắc về đa thanh, phức điệu của Nam Cao trùng với quan niệm trên. Không ở tác giả nào mà việc sử dụng dấu chấm lửng, viết câu chưa hoàn kết lại thể hiện rõ và nhiều như thế ở trong truyện ngắn Nam Cao. Chính vì sự đan xen các giọng đến mức tối đa, vừa hướng đến một sự hồi đáp, vừa kích thích gợi mở đối với nhân vật đối diện. Sự chồng chất các giọng, sự luân phiên các giọng như dòng suối chảy, nó trở thành một “đà quán tính” có tính chất quy luật mà khi viết những câu văn, đoạn văn đến đó buộc tác giả không thể dừng lại hoàn toàn. Âm vang của nó chưa dứt, những lời đối thoại đang còn và quan trọng nhất là tư tưởng của nó chưa hoàn kết. Tất cả đều nằm dưới hình thức thể hiện của dấu ba chấm (…). Chỉ cần thống kê truyện Lão Hạc thì đã có 14 đoạn có dấu ba chấm trong tổng số 21 đoạn của truyện. Trong 40 lời đối thoại thì có đến 17 câu dùng hình thức quãng trống này. Truyện ngắn Lão Hạc có giọng của ông Giáo và giọng của người thuật chuyện… Giọng người thuật chuyện đóng vai trò thứ yếu, mang sắc thái cảm thông, chia sẻ. Giọng nhân vật ông Giáo ngược lại, có trạng thái hơi ngỡ ngàng, bất đồng và ít nhiều miệt thị. Vì thế mà truyện ngắn Lão Hạc đượm tính nhân văn ngay cả những đoạn văn tưởng chừng như đang mạt hờn, khinh bạc…

Tính chất phức điệu về ngôn ngữ

Điểm cuối cùng là tính chất phức điệu về ngôn ngữ. Trong truyện ngắn Nam Cao, thành phần ngôn ngữ nhân vật không có những phương ngữ hay biệt ngữ thật nổi bật. Mặt khác, do quan tâm truyền đạt những dao động, những biến thiên của tâm lí, tâm trạng, nên Nam Cao tạo nên được một ngôn ngữ ít nhiều có tính chất phức điệu, tổ chức được những mạng lưới phức tạp gồm cả ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong, ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ tự sự, ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật, có khi cả những đan xen, nhòe lẫn vào nhau của hai ngôn ngữ ấy. Điều này hoàn toàn khác với ngôn ngữ của các tác giả Tự lực văn đoàn. Họ như một chủ thể đưa ra một kiểu loại ngôn ngữ chuẩn mực, nhưng nó trở lên đơn điệu vì tất cả đều được phục vụ cho một “cái loa” tư tưởng, và càng đơn điệu hơn khi nó trở thành phổ biến. Vấn đề cũng khác với các tác giả Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng. Các tác giả này có xu thế “điều tra xã hội học” cho nên đưa lại thành phần ngôn ngữ nhân vật, nhất của các tầng lớp dưới đáy xã hội, đem lại cho ngôn ngữ tác phẩm những phong vị mới, chất lượng mới. Nhưng chính mang tính chất “điều tra xã hội học” này mà các tác giả khi miêu tả nhân vật, ngôn ngữ của họ thể hiện rất rõ, và điển hình cho một loại cá tính, một loại người trong giai cấp cụ thể.

Bảo rằng truyện Nam Cao gần như có đủ các chất liệu “hài và bi, trào phúng và chính luận, triết lí và trữ tình, nghịch dị và nhàm tẻ, thô thám và chất thơ...”, thì đó chính là sự đa thanh, phức điệu theo cách chúng tôi trình bày ở trên. Những “gam” giọng này đan bện vào nhau, tạo thành một hòa âm tuyệt vời của phong cách truyện ngắn Nam Cao.

(viết năm 1997, gọt chỉnh 2025)

T.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc việt nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một nhiệm vụ phải được coi trọng nhằm tạo lập được cơ sở xã hội vững chắc để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng của đất nước để góp phần “quốc tế hóa” các giá trị văn hóa Việt Nam và “Việt Nam hóa” các giá trị văn hóa quốc tế.
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm