- Lý luận - Phê bình
- Nước mắt trong Lục Bát Mẹ
Nước mắt trong Lục Bát Mẹ
HOÀNG XUÂN
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Đỗ Thành Đồng vừa làm lễ kỉ niệm 5 năm ngày mất của mạ, và dịp này anh ra mắt tập thơ thứ 9 “Lục bát mẹ”. Hơn 100 trang sách với 42 bài thơ lục bát viết về mẹ (mẹ anh sinh năm 1942), mỗi bài thơ là một cung bậc cảm xúc, cũng là những khúc ru của một người con hiếu đạo đối với mẹ ở nơi cõi Phật.

Nhà thơ Đỗ Thành Đồng và những người bạn trong lễ ra mắt tập thơ "Lục Bát Mẹ"
Những tập thơ đầu anh không ra mắt mà chỉ là giới thiệu, đến Đá anh ra mắt một cách khá bài bản. Và các tập tiếp theo, anh lại “lặng lẽ dâng cho đời” những giọt mật thơm giữa muôn vàn hoa trái. Như một lẽ tự nhiên của sự biến hóa trong cõi dân gian, vật chất sinh ra và vận động không ngừng, đến Đá trở nên vững chãi. Rồi sau đó lại biến chuyển thông qua lăng kính của một kiến trúc sư về thẩm mỹ học, qua tôi luyện lại tiếp tục sinh ra Lục Bát Đời, sự nung nấu qua thời gian mà sinh ra Lục Bát Mẹ. Vài điểm xuyết như thế để thấy, Đỗ Thành Đồng luôn vận động và kiến tạo thơ mình một cách vững vàng trên thi đàn văn học đương đại.
Buổi ra mắt trong một không gian gia đình, đầm ấm, không rộn ràng nhưng chứa nhiều cung bậc văn chương. Theo cách đếm thông thường, tôi đã bật khóc ít nhất là 5 lần. Nhà thơ Nguyễn Tiến Nên đã nghẹn ngào khi đọc mấy câu thơ trong “Con hư”, với một lời trách cứ đầy xót xa:
chiều nay rét tím cong mồ
mạ nằm dưới nớ ướt khô răng chừ
con là một đứa con hư
giữ không được mẹ giống như bạn mình
mạ ơi giữa cõi phù sinh
may con còn mạ bóng hình lương tri!
Những câu thơ mang nhiều biểu cảm lạ lùng, như một tiếng nấc bật lên giữa đời thường. Xuất phát từ một chi tiết nhỏ của mạng xã hội, vốn quen thuộc và bình dị “bạn khoe ảnh mẹ trên phây”, đủ khơi lên trong anh nỗi chạnh lòng sâu thẳm. Hình ảnh nụ cười mẹ bạn “tỏa ánh sáng ngày giá đông” gợi sự ấm áp, sum vầy nhưng đã mang đến cho anh cảm giác hụt hẫng. Và ông xúc động nói “Đỗ Thành Đồng đã làm được một điều phi thường vốn xưa nay hiếm, còn tôi thì đã ngoài 70 mà vẫn chưa ra trò trống gì, khi viết một câu thơ về mẹ cũng chưa nên hồn”, mặc dù mẹ ông cũng đã rời xa ông hơn 11 năm.
Nhà thơ Mai Văn Hoan, khi đọc đến “Mẹ kiêng” cũng đã lắng lòng trong giây lát:
tháng ba cá trích tươi xanh
đứng nhìn một lúc mẹ đành về không.
Những câu thơ sao cứ xoáy vào tâm can nhân tình đến thế, bởi người mẹ cả một đời cơ cực, tần tảo vì chồng vì con mà quên hết bản thân mình. Không có tiền mua cá, nhưng rồi nghĩ đến chồng con mà đành vay mượn:
phần cha con đã chục tròn
lẽ nào phần mẹ chỉ còn nước kho
mẹ cười con chớ có lo
mẹ kiêng cá trích ăn vô bệnh liền
Tôi đã đọc đi đọc lại 5 lần tập thơ, cứ mỗi lần đọc lại có một sự rung cảm rất riêng. Riêng bởi vì trong đó “vừa có mình vừa có ta”, và hơn ai hết, tôi cũng là đứa con chịu mồ côi mẹ khi mới vừa tuổi 42, trẻ hơn nhiều so với tuổi khi mồ côi mẹ của tác giả. Cũng như mẹ bao người, mẹ tôi có bao giờ giữ cho mình được má phấn môi son, và là phụ nữ nhưng chẳng bao giờ biết đến “môi son” là gì:
trời cho một chút môi son
mẹ đem phơi nắng vì lon gạo đầy.
Cuộc đời mẹ tần tảo là thế, cho nên khi chạm đến lòng trắc ẩn của 2 câu thơ, tự nhiên nước mắt cứ rơi. Cũng trong cảm xúc ấy, trong “Mạ lo”, anh lại đưa người đọc vào một miền kí ức khác:
sinh con má nỏ kịp thơm
đã quang gánh níu đã rơm rạ đè.
Hình ảnh lưu lại trong tiềm thức của nhiều người, khi nhìn thấy sự lam lũ, sự cơ cực của mẹ, và cũng là tiềm thức chung:
mỗi lần rét quắn đọt cây
là khi mẹ nứt nẻ đầu gót chân
Và trong “Nhớ mạ”, anh đã dùng phép “đếm” để làm nổi bật sự vất vả của mẹ:
mạ ơi từng đốt ngón tay
mạ còn ám cả tháng ngày gian truân
Hình ảnh người mẹ một nắng hai sương, cày sâu cuốc bẩm vì sự khôn lớn và vì giấc mơ con chữ của con, mà mẹ quản chi mưa nắng, giá rét, đặc biệt là khi xuống ruộng cày cấy cho vụ đông xuân trong tiết trời buốt lạnh. Và có lẽ gót chân của mẹ chẳng bao giờ đẹp đẽ, thậm chí có khi tứa ra cả máu tươi. Tiếp nối cảm xúc ấy, tác giả lại “thương ngày tết xưa”:
chân trần giẫm nát cơn mưa
sáng ba mươi tết cơm chưa đủ nồi.
Đi trong ngày, đi trong đêm, đi xuyên suốt cả năm, thế mà đến ngày cuối cùng của một năm, trước thềm của năm mới, mẹ đã hết lo đâu, phải chăng mẹ lại lo nhiều hơn những ngày thường. Không lo sao được khi “cơm chưa đủ nồi” mà con thì đang đói. Có người mẹ nào mà chẳng đứt cả ruột gan vì miếng cơm manh áo của con chưa đủ đầy, trong khi trời đất đã sắp vào xuân.
Làm lụng vất vả quanh năm, vậy nên khi miêu tả về dáng mẹ, nhà thơ viết:
lặng nhìn trăng khuyết cuối trời
tự nhiên thương lắm dáng người mẹ cong (trăng mẹ)
Câu thơ cứ thế tuôn trào, và rồi người đọc cũng cứ thế nước mắt lại rơi:
kiếp trăng khi khuyết khi tròn
mẹ thì năm tháng khuyết mòn cả đêm.
Những người mẹ của một thời lam lũ, vậy nên chẳng có khi nào “tròn” trong sâu thẳm tiềm thức của con.
Trong bài “con thèm”, theo nhà thơ Mai Văn Hoan, cái thèm của Đỗ Thành Đồng không giống ai và không mấy ai xây dựng được hình tượng “thèm” này, và nhà thơ khi chia sẻ đến đây cũng đã rơm rớm nước mắt vì sự đồng cảm:
con thèm cái chúm ngón tay
mạ bắt con chấy mỗi ngày cho con.
Hình ảnh này tôi lại nhớ đến mẹ tôi, cứ hở tay ra là lại chụm đầu con để bắt chấy. Mà sao ngày ấy chấy nhiều đến thế không biết nữa?
Nói về sự dạy dỗ của cha mẹ với con cái một thời, cũng trong cảm xúc “con thèm” nhà thơ dựng nên một hình ảnh rất đáng suy ngẫm trong tâm tưởng:
con thèm một nhánh ổi non
mạ bứt hết lá để còn làm roi
Tôi cũng đã bao lần nếm đòn roi của mẹ, nhưng cớ sao cái đòn roi ấy nó thân thương đến thế, và buộc nhà thơ phải “thèm”. Đây không chỉ là một thứ hoài niệm không thôi, mà còn là một lát cắt xuyên qua thời gian, khi coi đòn roi như là một thứ “xa xỉ” với trẻ thời hiện đại.
Trong “nhặt rét”, hình ảnh “bỏng tay” là một tứ thơ hay và có sự biến ảo lạ thường, cái tưởng chừng như vô lý nhưng lại hết sức có lý:
con ngồi vén lớp mưa bay
nhặt từng ngọn rét bỏng tay kiếp người
Với mẹ, 60 tuổi hay đến cả trăm tuổi trên đầu, con vẫn là con ngoan của mẹ, mẹ vẫn lo cho con. Ấy thế cho nên:
con đau biết gọi mẹ ơi
mẹ đau chỉ biết cả đời cắn răng (nỗi đêm)
Hay trong “núm vú”, tôi thực sự xúc động và lại bật khóc:
ngày xưa con ngứa răng non
cắn vào cơn đói mẹ mòn mỏi đêm...
Khi con ngồi “đợi mẹ” sau một ngày lam lũ ngược xuôi ngoài chợ, “xáo” từng mớ gạo để may sao có ra “lon” gạo lời, mang về nấu bữa cho con, nhà thơ lại rưng rưng:
chợ chiều cắp thúng mẹ đi
xáo từng mớ gạo cho hi vọng ngày
Trong sự lo toan nhưng cũng rất đỗi tự hào, rằng mẹ mình chính là một nhà nông đích thực, và dù vất vả đến mấy, mẹ vẫn luôn thường trực điểm sáng trên môi:
nông dân chỉ có nụ cười
mẹ hôn đá sỏi bằng lời ru con
Còn trong “đường tu”, tôi cho rằng đây là một bài thơ mang hơi hướng thiền. Vì cái đói của con mà mẹ “sát sinh” chẳng tha thứ gì, mẹ biết đó là “tội lỗi”, nhưng chỉ mong con khôn lớn mỗi ngày và cứ từ bi trong tâm mình:
đã không gõ mõ tụng kinh
mẹ còn phạm giới sát sinh mỗi ngày
….
mẹ ơi Phật ở trong tâm
lời ru của mẹ vẫn chầm chậm rơi…
Và cuối cùng, nhà thơ lắng lại bằng những lời ru của mạ, mà trong tập thơ này, anh đã nhắc đến 35 lần chữ “ru”:
con dù bèo dạt mây trôi
trăm năm thơ vẫn đọng lời mạ ru (đọng)
Trong tâm trí nhà thơ, cũng như bao người con, mẹ luôn ở bên con, mà dõi theo từng bước đi, từng lát cắt khi đục khi trong của cuộc sống, và mẹ chính là sự hiện thân của “sắc xanh”:
mẹ nằm dưới thảm cỏ non
bao nhiêu gót mẹ hãy còn sắc xanh (gót mẹ).
Đọc và ngẫm trong Lục Bát Mẹ, mỗi câu thơ như một giọt nước lăn dài trên khóe mắt của người đọc, và đó là những giọt nước rung cảm, rung động và rung tứ khi trái tim đã chạm đến được với trái tim.
Ba Đồn, 26/11/2025
H.X