TIN TỨC

Nước mắt trong Lục Bát Mẹ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-29 13:52:30
mail facebook google pos stwis
496 lượt xem

HOÀNG XUÂN

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nhà thơ Đỗ Thành Đồng vừa làm lễ kỉ niệm 5 năm ngày mất của mạ, và dịp này anh ra mắt tập thơ thứ 9 “Lục bát mẹ”. Hơn 100 trang sách với 42 bài thơ lục bát viết về mẹ (mẹ anh sinh năm 1942), mỗi bài thơ là một cung bậc cảm xúc, cũng là những khúc ru của một người con hiếu đạo đối với mẹ ở nơi cõi Phật.

 

Nhà thơ Đỗ Thành Đồng và những người bạn trong lễ ra mắt tập thơ "Lục Bát Mẹ"

 

Những tập thơ đầu anh không ra mắt mà chỉ là giới thiệu, đến Đá anh ra mắt một cách khá bài bản. Và các tập tiếp theo, anh lại “lặng lẽ dâng cho đời” những giọt mật thơm giữa muôn vàn hoa trái. Như một lẽ tự nhiên của sự biến hóa trong cõi dân gian, vật chất sinh ra và vận động không ngừng, đến Đá trở nên vững chãi. Rồi sau đó lại biến chuyển thông qua lăng kính của một kiến trúc sư về thẩm mỹ học, qua tôi luyện lại tiếp tục sinh ra Lục Bát Đời, sự nung nấu qua thời gian mà sinh ra Lục Bát Mẹ. Vài điểm xuyết như thế để thấy, Đỗ Thành Đồng luôn vận động và kiến tạo thơ mình một cách vững vàng trên thi đàn văn học đương đại.

Buổi ra mắt trong một không gian gia đình, đầm ấm, không rộn ràng nhưng chứa nhiều cung bậc văn chương. Theo cách đếm thông thường, tôi đã bật khóc ít nhất là 5 lần. Nhà thơ Nguyễn Tiến Nên đã nghẹn ngào khi đọc mấy câu thơ trong “Con hư”, với một lời trách cứ đầy xót xa:

chiều nay rét tím cong mồ

mạ nằm dưới nớ ướt khô răng chừ

con là một đứa con hư

giữ không được mẹ giống như bạn mình

mạ ơi giữa cõi phù sinh

may con còn mạ bóng hình lương tri!

Những câu thơ mang nhiều biểu cảm lạ lùng, như một tiếng nấc bật lên giữa đời thường. Xuất phát từ một chi tiết nhỏ của mạng xã hội, vốn quen thuộc và bình dị “bạn khoe ảnh mẹ trên phây”, đủ khơi lên trong anh nỗi chạnh lòng sâu thẳm. Hình ảnh nụ cười mẹ bạn “tỏa ánh sáng ngày giá đông” gợi sự ấm áp, sum vầy nhưng đã mang đến cho anh cảm giác hụt hẫng. Và ông xúc động nói “Đỗ Thành Đồng đã làm được một điều phi thường vốn xưa nay hiếm, còn tôi thì đã ngoài 70 mà vẫn chưa ra trò trống gì, khi viết một câu thơ về mẹ cũng chưa nên hồn”, mặc dù mẹ ông cũng đã rời xa ông hơn 11 năm.

Nhà thơ Mai Văn Hoan, khi đọc đến “Mẹ kiêng” cũng đã lắng lòng trong giây lát:

tháng ba cá trích tươi xanh

đứng nhìn một lúc mẹ đành về không.

Những câu thơ sao cứ xoáy vào tâm can nhân tình đến thế, bởi người mẹ cả một đời cơ cực, tần tảo vì chồng vì con mà quên hết bản thân mình. Không có tiền mua cá, nhưng rồi nghĩ đến chồng con mà đành vay mượn:

phần cha con đã chục tròn

lẽ nào phần mẹ chỉ còn nước kho

mẹ cười con chớ có lo

mẹ kiêng cá trích ăn vô bệnh liền

Tôi đã đọc đi đọc lại 5 lần tập thơ, cứ mỗi lần đọc lại có một sự rung cảm rất riêng. Riêng bởi vì trong đó “vừa có mình vừa có ta”, và hơn ai hết, tôi cũng là đứa con chịu mồ côi mẹ khi mới vừa tuổi 42, trẻ hơn nhiều so với tuổi khi mồ côi mẹ của tác giả. Cũng như mẹ bao người, mẹ tôi có bao giờ giữ cho mình được má phấn môi son, và là phụ nữ nhưng chẳng bao giờ biết đến “môi son” là gì:

trời cho một chút môi son

mẹ đem phơi nắng vì lon gạo đầy.

Cuộc đời mẹ tần tảo là thế, cho nên khi chạm đến lòng trắc ẩn của 2 câu thơ, tự nhiên nước mắt cứ rơi. Cũng trong cảm xúc ấy, trong “Mạ lo”, anh lại đưa người đọc vào một miền kí ức khác:

sinh con má nỏ kịp thơm

đã quang gánh níu đã rơm rạ đè.

Hình ảnh lưu lại trong tiềm thức của nhiều người, khi nhìn thấy sự lam lũ, sự cơ cực của mẹ, và cũng là tiềm thức chung:

mỗi lần rét quắn đọt cây

là khi mẹ nứt nẻ đầu gót chân

Và trong “Nhớ mạ”, anh đã dùng phép “đếm” để làm nổi bật sự vất vả của mẹ:

mạ ơi từng đốt ngón tay

mạ còn ám cả tháng ngày gian truân

Hình ảnh người mẹ một nắng hai sương, cày sâu cuốc bẩm vì sự khôn lớn và vì giấc mơ con chữ của con, mà mẹ quản chi mưa nắng, giá rét, đặc biệt là khi xuống ruộng cày cấy cho vụ đông xuân trong tiết trời buốt lạnh. Và có lẽ gót chân của mẹ chẳng bao giờ đẹp đẽ, thậm chí có khi tứa ra cả máu tươi. Tiếp nối cảm xúc ấy, tác giả lại “thương ngày tết xưa”:

chân trần giẫm nát cơn mưa

sáng ba mươi tết cơm chưa đủ nồi.

Đi trong ngày, đi trong đêm, đi xuyên suốt cả năm, thế mà đến ngày cuối cùng của một năm, trước thềm của năm mới, mẹ đã hết lo đâu, phải chăng mẹ lại lo nhiều hơn những ngày thường. Không lo sao được khi “cơm chưa đủ nồi” mà con thì đang đói. Có người mẹ nào mà chẳng đứt cả ruột gan vì miếng cơm manh áo của con chưa đủ đầy, trong khi trời đất đã sắp vào xuân.

Làm lụng vất vả quanh năm, vậy nên khi miêu tả về dáng mẹ, nhà thơ viết:

lặng nhìn trăng khuyết cuối trời

tự nhiên thương lắm dáng người mẹ cong (trăng mẹ)

Câu thơ cứ thế tuôn trào, và rồi người đọc cũng cứ thế nước mắt lại rơi:

kiếp trăng khi khuyết khi tròn

mẹ thì năm tháng khuyết mòn cả đêm.

Những người mẹ của một thời lam lũ, vậy nên chẳng có khi nào “tròn” trong sâu thẳm tiềm thức của con.

Trong bài “con thèm”, theo nhà thơ Mai Văn Hoan, cái thèm của Đỗ Thành Đồng không giống ai và không mấy ai xây dựng được hình tượng “thèm” này, và nhà thơ khi chia sẻ đến đây cũng đã rơm rớm nước mắt vì sự đồng cảm:

con thèm cái chúm ngón tay

mạ bắt con chấy mỗi ngày cho con.

Hình ảnh này tôi lại nhớ đến mẹ tôi, cứ hở tay ra là lại chụm đầu con để bắt chấy. Mà sao ngày ấy chấy nhiều đến thế không biết nữa?

Nói về sự dạy dỗ của cha mẹ với con cái một thời, cũng trong cảm xúc “con thèm” nhà thơ dựng nên một hình ảnh rất đáng suy ngẫm trong tâm tưởng:

con thèm một nhánh ổi non

mạ bứt hết lá để còn làm roi

Tôi cũng đã bao lần nếm đòn roi của mẹ, nhưng cớ sao cái đòn roi ấy nó thân thương đến thế, và buộc nhà thơ phải “thèm”. Đây không chỉ là một thứ hoài niệm không thôi, mà còn là một lát cắt xuyên qua thời gian, khi coi đòn roi như là một thứ “xa xỉ” với trẻ thời hiện đại.

Trong “nhặt rét”, hình ảnh “bỏng tay” là một tứ thơ hay và có sự biến ảo lạ thường, cái tưởng chừng như vô lý nhưng lại hết sức có lý:

con ngồi vén lớp mưa bay

nhặt từng ngọn rét bỏng tay kiếp người

Với mẹ, 60 tuổi hay đến cả trăm tuổi trên đầu, con vẫn là con ngoan của mẹ, mẹ vẫn lo cho con. Ấy thế cho nên:

con đau biết gọi mẹ ơi

mẹ đau chỉ biết cả đời cắn răng (nỗi đêm)

Hay trong “núm vú”, tôi thực sự xúc động và lại bật khóc:

ngày xưa con ngứa răng non

cắn vào cơn đói mẹ mòn mỏi đêm...

Khi con ngồi “đợi mẹ” sau một ngày lam lũ ngược xuôi ngoài chợ, “xáo” từng mớ gạo để may sao có ra “lon” gạo lời, mang về nấu bữa cho con, nhà thơ lại rưng rưng:

chợ chiều cắp thúng mẹ đi

xáo từng mớ gạo cho hi vọng ngày

Trong sự lo toan nhưng cũng rất đỗi tự hào, rằng mẹ mình chính là một nhà nông đích thực, và dù vất vả đến mấy, mẹ vẫn luôn thường trực điểm sáng trên môi:

nông dân chỉ có nụ cười

mẹ hôn đá sỏi bằng lời ru con

Còn trong “đường tu”, tôi cho rằng đây là một bài thơ mang hơi hướng thiền. Vì cái đói của con mà mẹ “sát sinh” chẳng tha thứ gì, mẹ biết đó là “tội lỗi”, nhưng chỉ mong con khôn lớn mỗi ngày và cứ từ bi trong tâm mình:

đã không gõ mõ tụng kinh

mẹ còn phạm giới sát sinh mỗi ngày

….

mẹ ơi Phật ở trong tâm

lời ru của mẹ vẫn chầm chậm rơi…

Và cuối cùng, nhà thơ lắng lại bằng những lời ru của mạ, mà trong tập thơ này, anh đã nhắc đến 35 lần chữ “ru”:

con dù bèo dạt mây trôi

trăm năm thơ vẫn đọng lời mạ ru (đọng)

Trong tâm trí nhà thơ, cũng như bao người con, mẹ luôn ở bên con, mà dõi theo từng bước đi, từng lát cắt khi đục khi trong của cuộc sống, và mẹ chính là sự hiện thân của “sắc xanh”:

mẹ nằm dưới thảm cỏ non

bao nhiêu gót mẹ hãy còn sắc xanh (gót mẹ).

Đọc và ngẫm trong Lục Bát Mẹ, mỗi câu thơ như một giọt nước lăn dài trên khóe mắt của người đọc, và đó là những giọt nước rung cảm, rung động và rung tứ khi trái tim đã chạm đến được với trái tim.

Ba Đồn, 26/11/2025   

H.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm