TIN TỨC

Julio Cortázar và tập truyện ngắn bị “bỏ quên”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-29 19:42:58
mail facebook google pos stwis
361 lượt xem

Mới đây, A Certain Lucas đã tái xuất sau nhiều thập kỉ, mở ra cánh cửa khám phá nhà văn vĩ đại người Argentina Julio Cortázar cũng như ảnh hưởng vượt khỏi châu Mĩ của cây bút này.

Trong bất kì bài viết nào về Julio Cortázar, có hai yếu tố không thể bỏ qua: ông là một trong những tên tuổi quan trọng nhất khi văn chương Mĩ Latinh bùng nổ vào thập niên 1960, và tiểu thuyết Hopscotch chính là kiệt tác của ông. Theo cách nghĩ đó, tập truyện A Certain Lucas có nhiều khả năng không mấy nổi bật: sáng tác vào cuối sự nghiệp, được dàn dựng lỏng lẻo, thiên về giải trí thay vì cho thấy tầm quan trọng trong việc khai thác lịch sử, tiểu sử và cả văn nghiệp của nhà văn này. Nhưng ở khía cạnh nào đó, nó lại cho thấy một mặt rất khác về di sản của ông mà không nhiều người biết.

 

Bậc thầy Argentina Julio Cortázar.

 

Trước hết, mặc dù không thể phủ nhận Cortázar là yếu nhân của thời kì bùng nổ văn học Mĩ Latinh (có lẽ chỉ sau Gabriel García Márquez trong việc đưa độc giả Anh ngữ đến với nền văn chương vốn xa lạ này), nhưng ông cũng có nhiều sự khác biệt so với các đồng nghiệp đương thời. Khi trả lời một cuộc phỏng vấn vào năm 1974, ông chia sẻ: "Tôi mang tính quốc tế sâu sắc" – điều đó có nghĩa tác phẩm của ông trải dài khắp thế giới về cả chủ đề lẫn tầm ảnh hưởng, giống như chính bản thân ông mà rồi ta biết ngày nay khi có độ lùi thời gian

Sinh tại Bỉ vào năm 1914, có cha mẹ là người Argentina, Cortázar đã thông thạo nhiều thứ tiếng từ năm 4 tuổi khi gia đình chuyển về thủ đô Buenos Aires. Ông sống ở đó đến năm 30 tuổi trước khi trở lại châu Âu cho đến cuối đời. Thuở nhỏ, ông yêu thích Jules Verne (Hai vạn dặm dưới đáy biển...) và muốn trở thành một người thủy thủ chu du khắp thế giới như nhiều nhân vật của tác giả này, nhưng bệnh hen suyễn đã giữ ông lại và đưa ông đến với cuộc phiêu lưu sách vở. Có thể nói ông chịu ơn rất nhiều từ những nhà văn đồng hương: từ Jorge Luis Borges, ông học được sự nghiêm khắc về mặt trí tuệ và nghệ thuật, trong khi từ Robert Arlt, ông lại tìm thấy sự gợi cảm và hoang dã. Bằng việc kết hợp những xung lực tương phản này, Cortázar đã tạo dựng nên nét đặc sắc nhất của riêng bản thân.

Tuy vậy nói thế là chưa đầy đủ, bởi ông cũng chịu ảnh hưởng từ các cây viết quốc tế, mà đặc biệt nhất là Edgar Allan Poe - người có những truyện ngắn chặt chẽ, kì ảo và đầy sức ảnh hưởng. Cây viết người Mĩ đã cho Cortázar biết ông nên viết một truyện ngắn theo motif nào. Từ khởi đầu này, như nhiều người đồng ý, những truyện ngắn trải dài từ hiện thực đến kì ảo khó tin chính là thành tựu văn học xuất sắc nhất của ông.

 

A Certain Lucas chứa đựng những gì là Cotarzar nhất

 

Khi xuất bản tiểu thuyết đầu tay The Winners vào năm 1960, ông đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của các trào lưu văn học châu Âu thời bấy giờ, đặc biệt là chủ nghĩa siêu thực. Cuốn sách là câu chuyện ngụ ngôn sắc sảo về chuyến du ngoạn của những kẻ ngốc rời khỏi Buenos Aires. Ảnh hưởng nói trên còn rõ nét hơn (nếu không nói nhất) trong tác phẩm tiếp theo mà Cronopios and Famas (1962), một tập hợp các tác phẩm văn xuôi phi lí hoàn toàn khác biệt với The Winners, là một điển hình.

Chỉ một năm sau, một sự đổi mới về phong cách lại được nhìn thấy ở Hopscotch - cuốn tiểu thuyết tâm lí đồ sộ đã giúp ông nổi tiếng khắp thế giới. Giống như trò chơi cùng tên, cuốn sách là sự chuyển đổi qua lại giữa các địa điểm mà trong trường hợp này là Argentina và châu Âu. Hình thức của tác phẩm cũng phản ánh sự chuyển động này, với việc người đọc có thể lựa chọn đọc theo bất cứ trình tự thời gian nào, từ đó đưa ra những cách đọc riêng, có thể không giống vời trình tự các chương đặt ra ở phần đầu truyện.

Nếu là một nhà văn khác, Cortázar có thể đã nối tiếp thành công của Hopscotch bằng một cuốn sách đồ sộ, hấp dẫn, nhưng ông luôn quan tâm đến tự do nghệ thuật hơn thành công đại chúng. Nhà văn Argentina này yêu nhạc jazz vì nó ngẫu hứng chứ không “cố định”, và Thiền tông vì nó vui tươi chứ không trang nghiêm. Là một người viết, ông biến hóa không ngừng trong những thập kỉ tiếp theo: Từ một tác phẩm Gothic ấn tượng mang tính thử nghiệm (62: A Model Kit, 1968), tiểu thuyết chính trị hiện thực (A Manual for Manuel, 1973) đến vô số tuyển tập, một số pha trộn nhiều thể loại đến mức các nhà phê bình đã xếp chúng vào loại “hỗn tạp”. Cortázar, người thích đặt tên cho mọi thứ, gọi chúng là “bọt biển”.

Nằm giữa một miếng bọt biển ấy là một tập truyện ngắn mang tên A Certain Lucas xuất bản vào năm 1979. Năm 1984, nó được dịch sang tiếng Anh bởi dịch giả Gregory Rabassa. Trong đó chứa đựng những giai thoại cá nhân, những câu chuyện châm biếm, những bài giảng giả tạo, những tiểu phẩm phi lí hài hước… xoay quanh nhân vật chính chính là Lucas. Điều đặc biệt là không có cốt truyện chính nào ở đây cả.

Chẳng hạn, cuốn sách có một bài thơ feuilleton châm biếm về sinh thái học xuất hiện bên cạnh một truyện ngắn kiểu Poe về ngành vận chuyển xác chết ở Argentina những năm 1930. Không dừng ở đó, nó còn một câu chuyện về một nghệ sĩ piano có 26 ngón tay, tài năng đến mức thính giả phải đeo thêm tai để nghe anh ta chơi, trong khi một chương là một câu đố vỏn vẹn bốn dòng. Cũng không thể không thấy một bài châm biếm kiểu Swift [Jonathan Swift, tác giả của Gulliver du kí - ND] về một nhà hàng sang trọng ở Paris và một đề xuất theo chủ nghĩa Dada [1] về việc đổi mới môn bơi lội Olympic bằng cách thay nước bằng bột yến mạch.

Cortázar từng tuyên bố: "Một cuốn sách không gì hơn là khoảnh khắc mà tác giả hoàn thành một tập truyện, tập hợp chúng lại và gửi đi in". Với tác phẩm này, người ta có cảm giác cuốn sách chỉ là hình thức giữ chúng lại với nhau, trong khi điều thực chất nhất lại là tuổi tác cũng như quan điểm. Điều đó có thể chứng minh trong câu đầu tiên mở ra cuốn sách: "Giờ thì Lucas đã già cả rồi". Nó nghe như một nốt trầm buồn bao trùm lên mọi thứ theo sau. Khi xuất bản A Certain Lucas, Cortázar 65 tuổi và sẽ qua đời 5 năm sau đó vì bệnh bạch cầu.

Ở một trong những câu chuyện dài nhất và đẹp nhất, Lucas phải để vợ mình ở lại bệnh viện giữa đêm để tìm cho bà một chiếc váy ngủ. Khi đang lạc lối, ông tình cờ tìm thấy tòa nhà mà bản thân đã không gặp lại trong 20 năm và đột nhiên "nhìn thấy những câu thần chú, ngửi thấy sự thật” như tiên đoán trước kết cục rồi sẽ xảy ra. Bên cạnh đó cũng có câu chuyện nhẹ nhàng về một gia đình nghệ sĩ lạc lõng, và một trang hồi tưởng về những nghệ sĩ piano vĩ đại mà Lucas yêu mến. Trong truyện cuối - câu chuyện ngụ ngôn hài hước về một con ốc sên đi khắp thị trấn để tìm người yêu nhưng không bao giờ tìm thấy, ông đã kết hợp giữa sự kì quặc và u sầu theo cách gợi nhớ đến tác phẩm Alice ở xứ sở thần tiên của Lewis Carroll. Đó cũng là một cuốn sách vui nhộn khác về tuổi già.

Từ những điều trên, A Certain Lucas khó có thể được ca ngợi là một kiệt tác của Cortázar, nhưng nó hoàn toàn xứng đáng được trao giải thưởng “giống Cortázar nhất” hay “mang đậm tinh thần của Cortázar nhất” – một tác phẩm được sáng tạo từ tinh thần tự do, và ở một khía cạnh nào đó, đây là đóng góp vĩ đại nhất của ông cho văn học thế giới bên cạnh danh xưng như “tứ trụ” bên cạnh Marquez, Llosa, Fuentes cũng như kiệt tác mang tên Hopscotch.

Dịch từ The New York Times

-------------
 

1. Chủ nghĩa Dada là một phong trào nghệ thuật và văn hóa tiên phong, ra đời ở Zurich, Thụy Sĩ vào năm 1916, trong bối cảnh Thế chiến I. Phong trào này mang tính phản kháng mạnh mẽ, bác bỏ các giá trị truyền thống của xã hội tư sản, chính trị và nghệ thuật đương thời. Đặc điểm chính của Dada là sự ngẫu nhiên, phi lý, châm biếm và có xu hướng "chống nghệ thuật".

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm