TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình - hành trình trở về với cội nguồn tinh thần dân tộc

Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình - hành trình trở về với cội nguồn tinh thần dân tộc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-06 18:35:10
mail facebook google pos stwis
1580 lượt xem

Ghi chép “Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình” được viết sau chuyến đi thực tế sáng tác năm 2025 – một hành trình đầy ý nghĩa của Đoàn Văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh do Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh tổ chức.

Theo dấu chân Bác Hồ – từ nơi Người ra đi tìm đường cứu nước đến nơi Người yên nghỉ giữa lòng dân tộc – tác giả không chỉ ghi lại cảm xúc của một chuyến đi tri ân, mà còn gửi gắm suy tưởng về lịch sử, văn chương và sứ mệnh của người cầm bút hôm nay. Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin giới thiệu bài đăng trên Văn nghệ Công an số 784, ngày 6/11/2025.



TỪ BẾN NHÀ RỒNG ĐẾN BA ĐÌNH

Ghi chép của NGUYÊN HÙNG

Từ Bến Nhà Rồng đến Làng Sen

Tôi đã nhiều lần đứng trước Bến Nhà Rồng, nơi dòng sông Sài Gòn ôm lấy thành phố như một cánh tay trìu mến. Mỗi lần đến, tôi lại thấy lòng mình rưng rưng. Ở đó, vào sáng sớm ngày 5 tháng 6 năm 1911, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành, tuổi vừa hai mươi mốt, khoác chiếc vali nhỏ, bước lên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville, ra đi tìm đường cứu nước. Từ nơi này, hành trình của Người bắt đầu - hành trình định đoạt vận mệnh dân tộc.

Hơn trăm năm sau, tôi - một người cầm bút nhỏ bé, một người con xứ Nghệ, quê Bác - lại đứng nơi ấy. Không phải để khởi hành sang trời Tây, mà đến chào nơi đây để cùng đoàn văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh lên đường theo dấu chân Người, trong chuyến đi mang tên giản dị mà thiêng liêng: "Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình”.

Một cuộc hành hương không chỉ bằng đôi chân, mà bằng cả tấm lòng tri ân, bằng niềm kính yêu của thế hệ hôm nay đối với Người - vị lãnh tụ vĩ đại, người cha già của dân tộc, đồng thời là một nhà thơ, nhà báo, một người nghệ sĩ lớn.

Đoàn Văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh trước căn nhà tranh, nơi Bác sống từ năm 1901 - 1906.

Về Làng Sen, nắng tháng Mười sau những ngày bão giông càng trải vàng lối nhỏ. Con đường dẫn vào làng như vẫn còn in dấu chân cậu bé Nguyễn Sinh Cung ngày nào, vừa tinh nghịch, vừa trầm tư. Căn nhà tranh đơn sơ ba gian, hàng cau, giếng nước, hàng rào râm bụt... tất cả như đang kể lại câu chuyện về một tuổi thơ trong sáng và giản dị, nhưng đã sớm ươm mầm một ý chí lớn.

Đứng trước mái nhà quê ấy, tôi bỗng nghe lòng mình lặng lại. Bởi trong sự mộc mạc đến tận cùng ấy, ta nhận ra cội nguồn của một tâm hồn vĩ đại: yêu thương, nhân hậu, chân thành, sống giản dị mà sâu sắc đến không cùng. Từ nơi này, Người đã ra đi, và cũng từ nơi này, cả dân tộc ta đã tìm lại được chính mình.

ATK và Tân Trào: Rừng núi và lời thề lịch sử

Từ Nghệ An, đoàn chúng tôi hướng ra Bắc. Đường về ATK Định Hóa và Tân Trào quanh co giữa mây ngàn Việt Bắc. Dưới tán rừng xanh thẳm, gió thổi rì rào như tiếng thời gian vọng lại.

KTS Nguyễn Trường Lưu, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. HCM ghi sổ lưu niệm tại Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh (ATK Định Hóa) - Ảnh: Minh Phúc.

Ở Tân Trào, tôi như còn nghe vang vọng giọng Người đọc Quân lệnh số 1, dõng dạc giữa căn lán nhỏ bên suối Lê-nin, khơi nguồn cho cuộc Tổng khởi nghĩa mùa Thu lịch sử. Còn ở ATK Định Hóa, giữa đại ngàn Thái Nguyên, Người đã ký Quyết định phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp, mở đầu một trang mới cho Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Đoàn VNS từ TP. HCM viếng thăm Di tích Quốc gia ATK Định Hóa - Ảnh Minh Phúc.

Tiếng trống khởi nghĩa, tiếng chân người ra trận, tiếng gọi non sông – tất cả dường như vẫn ngân vang trong gió, hòa cùng nhịp thở thiêng liêng của rừng núi Việt Bắc. Giữa không gian ấy, tôi nhớ đến lời Bác từng nhắc nhở: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Đó không chỉ là lời căn dặn người cán bộ, mà cũng là lời nhắc cho những người cầm bút hôm nay: phải viết bằng hơi thở của nhân dân, phải đứng giữa cuộc đời chứ không đứng ngoài nó. Càng không thể thờ ơ đứng nhìn và phán xét!

Tân Trào khiến tôi hiểu thêm rằng: mỗi trang viết cũng là một hạt giống – gieo xuống đất lành của lòng tin, nó sẽ mọc lên những mầm xanh. Người đã dạy chúng ta cách viết, không phải bằng ngòi bút, mà bằng chính cuộc đời mình.

Cây đa Tân Trào – chứng nhân của lời thề năm ấy – nay đã gần như hóa thân vào đất. Nhưng từ gốc rễ già nua ấy, bao chồi xanh lại vươn lên. Như một quy luật của sự sống và niềm tin: những gì chân thật, dù qua bao mùa gió bão, vẫn tìm thấy cách hồi sinh.

Lán Nà Nưa: Phép màu bình dị và lời thề "đốt cháy"

Khi đến thăm Lán Nà Nưa, nơi Bác Hồ từng ở và làm việc trong những năm tháng quyết định của cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng tôi lặng người nghe hướng dẫn viên kể lại một câu chuyện cảm động.

Đoàn VNS từ TP. HCM tham quan Lán Nà Nưa (Tân Trào) - Ảnh: ...

Có lần, tại chính nơi này, Bác Hồ bị bệnh rất nặng - chín phần dữ, một phần lành. Đại tướng Võ Nguyên Giáp lúc ấy đang làm việc ở một điểm khác, khi biết tin đã lập tức cho người đi tìm thầy thuốc giỏi trong các bản làng quanh vùng. Cuối cùng, họ gặp được một ông lang già, người Tày, lặng lẽ vào rừng hái lá, nấu thuốc mang đến tận nơi cho Bác.

Chỉ sau vài ngày, Bác hồi phục, tiếp tục làm việc, chủ trì những quyết sách lớn của cuộc kháng chiến. Nhưng lạ thay, sau này dù tổ chức có tìm mãi, người thầy thuốc ấy như tan vào rừng, chẳng ai gặp lại nữa.

Nghe kể đến đây, tôi bỗng rùng mình nghĩ: Nếu ngày ấy không có ông thầy thuốc bình dị mà kỳ diệu ấy, không biết vận mệnh dân tộc sẽ ra sao? Có lẽ, chính nhờ ân huệ của trời đất và lòng dân mà Bác được giữ lại, để rồi soi sáng con đường cho dân tộc ta đi tới độc lập, tự do.

Ngay gần căn lán nhỏ, trên tảng đá khắc dòng chữ vàng: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập!"
 

Bia đá khắc lời Bác Hồ bên di tích Lán Nà Nưa - Ảnh: Nguyên Hùng.

Câu nói của Bác như tiếng sấm giữa rừng già Việt Bắc. Từng chữ, từng lời - là lửa, là máu, là mệnh lệnh từ trái tim yêu nước nồng nàn. Đọc lại, tôi bỗng thấy mình như đứng giữa ranh giới của quá khứ và hiện tại, nơi ngọn lửa cách mạng vẫn chưa hề tắt, chỉ đổi hình hài - từ súng đạn năm xưa sang những cây bút, những trang viết hôm nay.

Câu chuyện ở Lán Nà Nưa khiến tôi tin rằng: trong những khúc quanh của lịch sử, dân tộc ta luôn có những bàn tay vô danh nhưng đầy nhân nghĩa nâng đỡ vận mệnh non sông. Và, mỗi người cầm bút cũng cần biết tri ân những điều bình dị ấy, để ngòi bút không chỉ chạm đến lý trí, mà còn chạm đến lòng người.

Ba Đình: Nơi hội tụ niềm tin và nước mắt hạnh phúc

Sáng Hà Nội se lạnh, chúng tôi đứng trước Quảng trường Ba Đình. Trên nền trời thu bảng lảng mây, lá cờ đỏ sao vàng tung bay. Dòng người lặng lẽ nối dài. Tôi bỗng thấy những bước chân của đoàn mình thật nhỏ bé giữa không gian thấm đẫm linh khí thiêng liêng này.

Tôi từng là sinh viên Hà Nội và đã nhiều lần vào Lăng viếng Bác từ những năm đầu tiên. Nhưng lần này, sau nhiều năm mới có dịp về lại, cảm xúc lại rất khác. Khi bước vào, thấy Người nằm đó - thanh thản, hiền từ - lòng tôi dâng lên một niềm xúc động lạ thường.

Tôi thầm cảm ơn Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đã "một lần làm trái ý Bác", khi quyết định giữ gìn và bảo quản thi hài của Người. Bởi nếu chỉ nghe lời Người dặn trong Di chúc: "Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, mà hãy hỏa táng tôi đi”, thì làm sao hôm nay chúng ta - và cả những thế hệ mai sau - có thể tận mắt được nhìn thấy dung nhan Người, để càng thêm yêu, thêm kính, thêm tự hào và thêm trách nhiệm với non sông.

Bước ra khỏi Lăng, tôi thấy tim mình ấm lạ. Giữa những bộn bề của đời sống hôm nay, vẫn còn đó một nơi để con người ta hướng về, để lắng lại, để tìm thấy trong mình niềm tin và sự trong sáng.

Các văn nghệ sĩ TPHCM trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Người truyền lửa cho những trang văn

Là người cầm bút, tôi đặc biệt xúc động khi đọc lại những lời Bác Hồ viết về nghề viết:

“Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”; “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”; “Viết cho hay, cho chân thật, cho trong sáng, để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”…

Những lời ấy, dù đã viết cách nay hàng chục năm, vẫn như kim chỉ nam cho người cầm bút hôm nay. Trong thời đại ồn ào của công nghệ, giữa biển thông tin mênh mông, nhà văn, nhà báo càng cần giữ cho mình sự trong sáng của ngòi bút và lòng trung thực của tâm hồn.

Bởi, như Bác từng dạy: “Người làm báo phải có lập trường chính trị vững vàng, phải có đạo đức cách mạng; nói đúng, viết đúng”.

Viết, vì thế, không chỉ là ghi lại, mà là dựng xây. Không chỉ để ca ngợi, cổ vũ mà còn để thức tỉnh. Và mỗi câu chữ, nếu được viết bằng lương tâm, sẽ trở thành một nhịp cầu nối giữa con người với con người, giữa hiện tại với tương lai.

Tôi sinh ra ở Nghệ An – miền đất gió Lào cát trắng, nơi Bác đã sinh ra, lớn lên, ra đi và hóa thành huyền thoại. Và tôi đang sống ở Thành phố Hồ Chí Minh – thành phố mang tên Người, nơi Bác đã khởi hành cho con đường cách mạng của mình. Hai đầu của một hành trình ấy, nay được nối lại bằng ký ức và lòng biết ơn. 

Đôi khi, tôi tự hỏi: nếu Bác còn sống, Người sẽ dặn dò gì những người cầm bút hôm nay? Có lẽ, Bác sẽ vẫn nhắc điều giản dị: “Phải học dân, hiểu dân, yêu dân – viết cho dân đọc, dân hiểu, dân tin, dân làm theo”.

Và tôi tin, Người sẽ mỉm cười hiền hậu khi thấy lớp con cháu hôm nay vẫn đang miệt mài viết, vẫn muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc giữ gìn tiếng Việt, giữ gìn linh hồn dân tộc.

Con tàu thời gian đã đi qua hơn một thế kỷ, nhưng tiếng sóng dưới chân Bến Nhà Rồng dường như vẫn thì thầm gọi. Từ nơi ấy, Người ra đi để mang về cho Tổ quốc ánh sáng của độc lập, tự do. Từ Ba Đình, Người về yên nghỉ giữa lòng dân tộc.

Còn chúng tôi - những người cầm bút hôm nay - vẫn tiếp tục hành trình ấy, bằng cây bút, bằng trang viết, bằng những nỗ lực không ngừng để góp phần giữ cho dòng chảy văn hóa dân tộc mãi trong lành, sáng trong.

Đi từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình, không chỉ là một chuyến đi qua không gian địa lý, mà là hành trình trở về với cội nguồn tinh thần dân tộc. Ở đó, mỗi người chúng ta đều tìm thấy một phần của chính mình - phần tốt đẹp nhất, lặng lẽ mà bền bỉ như mạch suối nguồn.

TP. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2025
N.H.

Mời đọc chùm bài liên quan:

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hà Nội và nỗi niềm hoa sữa – Tản văn Đào Thị Thu Hiền
Nhớ đến những mùa hoa Hà Nội, những người yêu mảnh đất này không thể không nhắc đến mùa hoa sữa. Đó là một mùa hoa nhưng cũng có thể gọi về cả mùa thơ, mùa nhạc khiến cho đất trời thủ đô khoảnh khắc cuối thu chầm chậm sang đông bỗng trở nên rạo rực, thao thức, nồng nàn với những vấn vương bởi cái hương thơm ngọt ngào, đằm sâu, quyến rũ đang dịu dàng gửi vào trong gió. Mùi hương ấy làm cho bao bước chân qua không khỏi ngập ngừng như thể đang bị níu lại. Có lẽ vì thế mà loài hoa này, từ lâu, đã được xem là tình yêu và nỗi nhớ của người Hà Nội.
Xem thêm
Kiến nghị lấy ngày 27/7 làm ngày Quốc giỗ
Tôi quan niệm rằng sự hy sinh của những người con đất Việt không bị giới hạn bởi một thời đại, một cuộc chiến tranh hay một thế hệ. Tất cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do và sự trường tồn của đất nước đều xứng đáng được các thế hệ hôm nay và mai sau tưởng nhớ. Bởi vậy, khi bàn về Ngày Quốc giỗ, cần phân biệt rõ giữa việc lựa chọn một ngày tưởng niệm chung và việc bảo đảm sự tri ân đối với từng đối tượng, từng giai đoạn lịch sử. Hai việc này không nhất thiết loại trừ nhau.
Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm