TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình - hành trình trở về với cội nguồn tinh thần dân tộc

Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình - hành trình trở về với cội nguồn tinh thần dân tộc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-06 18:35:10
mail facebook google pos stwis
1000 lượt xem

Ghi chép “Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình” được viết sau chuyến đi thực tế sáng tác năm 2025 – một hành trình đầy ý nghĩa của Đoàn Văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh do Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. Hồ Chí Minh tổ chức.

Theo dấu chân Bác Hồ – từ nơi Người ra đi tìm đường cứu nước đến nơi Người yên nghỉ giữa lòng dân tộc – tác giả không chỉ ghi lại cảm xúc của một chuyến đi tri ân, mà còn gửi gắm suy tưởng về lịch sử, văn chương và sứ mệnh của người cầm bút hôm nay. Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin giới thiệu bài đăng trên Văn nghệ Công an số 784, ngày 6/11/2025.



TỪ BẾN NHÀ RỒNG ĐẾN BA ĐÌNH

Ghi chép của NGUYÊN HÙNG

Từ Bến Nhà Rồng đến Làng Sen

Tôi đã nhiều lần đứng trước Bến Nhà Rồng, nơi dòng sông Sài Gòn ôm lấy thành phố như một cánh tay trìu mến. Mỗi lần đến, tôi lại thấy lòng mình rưng rưng. Ở đó, vào sáng sớm ngày 5 tháng 6 năm 1911, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành, tuổi vừa hai mươi mốt, khoác chiếc vali nhỏ, bước lên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville, ra đi tìm đường cứu nước. Từ nơi này, hành trình của Người bắt đầu - hành trình định đoạt vận mệnh dân tộc.

Hơn trăm năm sau, tôi - một người cầm bút nhỏ bé, một người con xứ Nghệ, quê Bác - lại đứng nơi ấy. Không phải để khởi hành sang trời Tây, mà đến chào nơi đây để cùng đoàn văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh lên đường theo dấu chân Người, trong chuyến đi mang tên giản dị mà thiêng liêng: "Từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình”.

Một cuộc hành hương không chỉ bằng đôi chân, mà bằng cả tấm lòng tri ân, bằng niềm kính yêu của thế hệ hôm nay đối với Người - vị lãnh tụ vĩ đại, người cha già của dân tộc, đồng thời là một nhà thơ, nhà báo, một người nghệ sĩ lớn.

Đoàn Văn nghệ sĩ TP. Hồ Chí Minh trước căn nhà tranh, nơi Bác sống từ năm 1901 - 1906.

Về Làng Sen, nắng tháng Mười sau những ngày bão giông càng trải vàng lối nhỏ. Con đường dẫn vào làng như vẫn còn in dấu chân cậu bé Nguyễn Sinh Cung ngày nào, vừa tinh nghịch, vừa trầm tư. Căn nhà tranh đơn sơ ba gian, hàng cau, giếng nước, hàng rào râm bụt... tất cả như đang kể lại câu chuyện về một tuổi thơ trong sáng và giản dị, nhưng đã sớm ươm mầm một ý chí lớn.

Đứng trước mái nhà quê ấy, tôi bỗng nghe lòng mình lặng lại. Bởi trong sự mộc mạc đến tận cùng ấy, ta nhận ra cội nguồn của một tâm hồn vĩ đại: yêu thương, nhân hậu, chân thành, sống giản dị mà sâu sắc đến không cùng. Từ nơi này, Người đã ra đi, và cũng từ nơi này, cả dân tộc ta đã tìm lại được chính mình.

ATK và Tân Trào: Rừng núi và lời thề lịch sử

Từ Nghệ An, đoàn chúng tôi hướng ra Bắc. Đường về ATK Định Hóa và Tân Trào quanh co giữa mây ngàn Việt Bắc. Dưới tán rừng xanh thẳm, gió thổi rì rào như tiếng thời gian vọng lại.

KTS Nguyễn Trường Lưu, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. HCM ghi sổ lưu niệm tại Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh (ATK Định Hóa) - Ảnh: Minh Phúc.

Ở Tân Trào, tôi như còn nghe vang vọng giọng Người đọc Quân lệnh số 1, dõng dạc giữa căn lán nhỏ bên suối Lê-nin, khơi nguồn cho cuộc Tổng khởi nghĩa mùa Thu lịch sử. Còn ở ATK Định Hóa, giữa đại ngàn Thái Nguyên, Người đã ký Quyết định phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp, mở đầu một trang mới cho Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Đoàn VNS từ TP. HCM viếng thăm Di tích Quốc gia ATK Định Hóa - Ảnh Minh Phúc.

Tiếng trống khởi nghĩa, tiếng chân người ra trận, tiếng gọi non sông – tất cả dường như vẫn ngân vang trong gió, hòa cùng nhịp thở thiêng liêng của rừng núi Việt Bắc. Giữa không gian ấy, tôi nhớ đến lời Bác từng nhắc nhở: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Đó không chỉ là lời căn dặn người cán bộ, mà cũng là lời nhắc cho những người cầm bút hôm nay: phải viết bằng hơi thở của nhân dân, phải đứng giữa cuộc đời chứ không đứng ngoài nó. Càng không thể thờ ơ đứng nhìn và phán xét!

Tân Trào khiến tôi hiểu thêm rằng: mỗi trang viết cũng là một hạt giống – gieo xuống đất lành của lòng tin, nó sẽ mọc lên những mầm xanh. Người đã dạy chúng ta cách viết, không phải bằng ngòi bút, mà bằng chính cuộc đời mình.

Cây đa Tân Trào – chứng nhân của lời thề năm ấy – nay đã gần như hóa thân vào đất. Nhưng từ gốc rễ già nua ấy, bao chồi xanh lại vươn lên. Như một quy luật của sự sống và niềm tin: những gì chân thật, dù qua bao mùa gió bão, vẫn tìm thấy cách hồi sinh.

Lán Nà Nưa: Phép màu bình dị và lời thề "đốt cháy"

Khi đến thăm Lán Nà Nưa, nơi Bác Hồ từng ở và làm việc trong những năm tháng quyết định của cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng tôi lặng người nghe hướng dẫn viên kể lại một câu chuyện cảm động.

Đoàn VNS từ TP. HCM tham quan Lán Nà Nưa (Tân Trào) - Ảnh: ...

Có lần, tại chính nơi này, Bác Hồ bị bệnh rất nặng - chín phần dữ, một phần lành. Đại tướng Võ Nguyên Giáp lúc ấy đang làm việc ở một điểm khác, khi biết tin đã lập tức cho người đi tìm thầy thuốc giỏi trong các bản làng quanh vùng. Cuối cùng, họ gặp được một ông lang già, người Tày, lặng lẽ vào rừng hái lá, nấu thuốc mang đến tận nơi cho Bác.

Chỉ sau vài ngày, Bác hồi phục, tiếp tục làm việc, chủ trì những quyết sách lớn của cuộc kháng chiến. Nhưng lạ thay, sau này dù tổ chức có tìm mãi, người thầy thuốc ấy như tan vào rừng, chẳng ai gặp lại nữa.

Nghe kể đến đây, tôi bỗng rùng mình nghĩ: Nếu ngày ấy không có ông thầy thuốc bình dị mà kỳ diệu ấy, không biết vận mệnh dân tộc sẽ ra sao? Có lẽ, chính nhờ ân huệ của trời đất và lòng dân mà Bác được giữ lại, để rồi soi sáng con đường cho dân tộc ta đi tới độc lập, tự do.

Ngay gần căn lán nhỏ, trên tảng đá khắc dòng chữ vàng: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập!"
 

Bia đá khắc lời Bác Hồ bên di tích Lán Nà Nưa - Ảnh: Nguyên Hùng.

Câu nói của Bác như tiếng sấm giữa rừng già Việt Bắc. Từng chữ, từng lời - là lửa, là máu, là mệnh lệnh từ trái tim yêu nước nồng nàn. Đọc lại, tôi bỗng thấy mình như đứng giữa ranh giới của quá khứ và hiện tại, nơi ngọn lửa cách mạng vẫn chưa hề tắt, chỉ đổi hình hài - từ súng đạn năm xưa sang những cây bút, những trang viết hôm nay.

Câu chuyện ở Lán Nà Nưa khiến tôi tin rằng: trong những khúc quanh của lịch sử, dân tộc ta luôn có những bàn tay vô danh nhưng đầy nhân nghĩa nâng đỡ vận mệnh non sông. Và, mỗi người cầm bút cũng cần biết tri ân những điều bình dị ấy, để ngòi bút không chỉ chạm đến lý trí, mà còn chạm đến lòng người.

Ba Đình: Nơi hội tụ niềm tin và nước mắt hạnh phúc

Sáng Hà Nội se lạnh, chúng tôi đứng trước Quảng trường Ba Đình. Trên nền trời thu bảng lảng mây, lá cờ đỏ sao vàng tung bay. Dòng người lặng lẽ nối dài. Tôi bỗng thấy những bước chân của đoàn mình thật nhỏ bé giữa không gian thấm đẫm linh khí thiêng liêng này.

Tôi từng là sinh viên Hà Nội và đã nhiều lần vào Lăng viếng Bác từ những năm đầu tiên. Nhưng lần này, sau nhiều năm mới có dịp về lại, cảm xúc lại rất khác. Khi bước vào, thấy Người nằm đó - thanh thản, hiền từ - lòng tôi dâng lên một niềm xúc động lạ thường.

Tôi thầm cảm ơn Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đã "một lần làm trái ý Bác", khi quyết định giữ gìn và bảo quản thi hài của Người. Bởi nếu chỉ nghe lời Người dặn trong Di chúc: "Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, mà hãy hỏa táng tôi đi”, thì làm sao hôm nay chúng ta - và cả những thế hệ mai sau - có thể tận mắt được nhìn thấy dung nhan Người, để càng thêm yêu, thêm kính, thêm tự hào và thêm trách nhiệm với non sông.

Bước ra khỏi Lăng, tôi thấy tim mình ấm lạ. Giữa những bộn bề của đời sống hôm nay, vẫn còn đó một nơi để con người ta hướng về, để lắng lại, để tìm thấy trong mình niềm tin và sự trong sáng.

Các văn nghệ sĩ TPHCM trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Người truyền lửa cho những trang văn

Là người cầm bút, tôi đặc biệt xúc động khi đọc lại những lời Bác Hồ viết về nghề viết:

“Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”; “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”; “Viết cho hay, cho chân thật, cho trong sáng, để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”…

Những lời ấy, dù đã viết cách nay hàng chục năm, vẫn như kim chỉ nam cho người cầm bút hôm nay. Trong thời đại ồn ào của công nghệ, giữa biển thông tin mênh mông, nhà văn, nhà báo càng cần giữ cho mình sự trong sáng của ngòi bút và lòng trung thực của tâm hồn.

Bởi, như Bác từng dạy: “Người làm báo phải có lập trường chính trị vững vàng, phải có đạo đức cách mạng; nói đúng, viết đúng”.

Viết, vì thế, không chỉ là ghi lại, mà là dựng xây. Không chỉ để ca ngợi, cổ vũ mà còn để thức tỉnh. Và mỗi câu chữ, nếu được viết bằng lương tâm, sẽ trở thành một nhịp cầu nối giữa con người với con người, giữa hiện tại với tương lai.

Tôi sinh ra ở Nghệ An – miền đất gió Lào cát trắng, nơi Bác đã sinh ra, lớn lên, ra đi và hóa thành huyền thoại. Và tôi đang sống ở Thành phố Hồ Chí Minh – thành phố mang tên Người, nơi Bác đã khởi hành cho con đường cách mạng của mình. Hai đầu của một hành trình ấy, nay được nối lại bằng ký ức và lòng biết ơn. 

Đôi khi, tôi tự hỏi: nếu Bác còn sống, Người sẽ dặn dò gì những người cầm bút hôm nay? Có lẽ, Bác sẽ vẫn nhắc điều giản dị: “Phải học dân, hiểu dân, yêu dân – viết cho dân đọc, dân hiểu, dân tin, dân làm theo”.

Và tôi tin, Người sẽ mỉm cười hiền hậu khi thấy lớp con cháu hôm nay vẫn đang miệt mài viết, vẫn muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc giữ gìn tiếng Việt, giữ gìn linh hồn dân tộc.

Con tàu thời gian đã đi qua hơn một thế kỷ, nhưng tiếng sóng dưới chân Bến Nhà Rồng dường như vẫn thì thầm gọi. Từ nơi ấy, Người ra đi để mang về cho Tổ quốc ánh sáng của độc lập, tự do. Từ Ba Đình, Người về yên nghỉ giữa lòng dân tộc.

Còn chúng tôi - những người cầm bút hôm nay - vẫn tiếp tục hành trình ấy, bằng cây bút, bằng trang viết, bằng những nỗ lực không ngừng để góp phần giữ cho dòng chảy văn hóa dân tộc mãi trong lành, sáng trong.

Đi từ Bến Nhà Rồng đến Ba Đình, không chỉ là một chuyến đi qua không gian địa lý, mà là hành trình trở về với cội nguồn tinh thần dân tộc. Ở đó, mỗi người chúng ta đều tìm thấy một phần của chính mình - phần tốt đẹp nhất, lặng lẽ mà bền bỉ như mạch suối nguồn.

TP. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2025
N.H.

Mời đọc chùm bài liên quan:

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm