TIN TỨC

Vàng của tâm hồn, vàng của văn chương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-16 21:41:38
mail facebook google pos stwis
219 lượt xem

NGÔ XUÂN HỘI

Tài năng nói chung, tài năng văn chương nói riêng luôn là của hiếm. Vì thế, hàng năm Hội Nhà văn Việt Nam vẫn xét trao giải thưởng cho những tác phẩm xuất sắc in trong năm, nhưng đọng lại với thời gian chẳng bao nhiêu. Trong lĩnh vực văn xuôi, được nhắc đến hơn hai mươi năm nay, nhiều nhất vẫn là những tiểu thuyết “Thời xa vắng” của Lê Lựu, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, “Bến không chồng” của Dương Hướng.

Với tâm lý “Tôi có chờ đâu có đợi đâu…” đó, ngày Hội công bố giải thưởng văn học của Hội năm 2013, cân nhắc trong “Tứ tử trình làng” tôi không biết mình nên đọc ai. Tử thứ nhất Ma Văn Kháng thì nổi tiếng quá rồi, thêm một giải nữa cũng chẳng làm ông nổi tiếng hơn. Tử thứ hai, tử thứ ba tôi cũng đã biết. Còn tử thứ tư, Nguyễn Trí? Đầu năm ngoái đi họp Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, thấy Tô Hoàng cầm cuốn Thiên đường ảo vọng, tôi hỏi:

“Hay không bác?”.

 “Hay! - Tô Hoàng đáp, đoạn nói thêm - Ban đầu tớ nghĩ Nguyễn Trí chắc chỉ có vốn sống, nhưng đọc thì biết mình nhầm. Nó viết giỏi…”.

Được tác giả “Ngửa mặt kêu trời” đảm bảo, họp xong tôi phóng đến hiệu sách tìm mua ngay. Đọc, thấy đúng như bác ấy nhận xét: “Hay!” và “Nó viết giỏi”. Trước hết nói về mặt đề tài. Giống như  Đãi vàng, Giã từ vàng, Đá quý, Trầm hương… những truyện ngắn đã đưa Trí đến với giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, Thiên đường ảo vọng vẫn là chuyện đi tìm vàng, nhưng được tác giả triển khai trên bình diện tiểu thuyết với một dung lượng lớn về không gian và thời gian.

Câu chuyện bắt đầu từ việc hai nhân vật Lâm lạnh, Cường Linh rời trại lao cải về nhà. Rồi cả ba (thêm Bình võ) hành phương Nam tới Suối Bến Tỷ (tức Suối Nho trên thực địa) của miền Đông Nam bộ. “Cường thì phải vào cùng vợ con, Bình kiếm công việc. Lâm, sao cũng được…”. Trên đường đi, đụng sự với nhà xe, có thêm Bá Điển chánh hiệu dân miền Đông nhập bọn. Được Bá Điển hướng đạo, cả bọn tìm tới Suối Bến Tỷ làm nghề cưa cây. “Hôm ấy bộ tứ sạch bách sau hành quân truy quét tệ nạn phá rừng. Bên bờ con suối có tên Một Chặng. Cả bốn nằm gối đầu lên đá thở dài… Thấy Bình đang quỳ bên vách bờ suối. Lâm hỏi: “Mày làm gì đó Bình?”. “Tao nghi nghi”. “Nghi gì, nói nghe chơi?”. Tao nghi đất này có vàng. Hồi ở Êzimbar luống bổi có vàng y như thớ đất này” (tr. 37). Bãi vàng Suối Nho cộm cán ở Đồng Nai những năm tám chín mươi, kỷ hai mươi được bắt đầu như vậy.

Về công việc đào đãi vàng, trước Nguyễn Trí đã có nhiều người viết, nhưng hầu hết họ cưỡi ngựa xem hoa, hóng hớt được vài ba câu chuyện rồi tưởng tượng thêm bớt, từ đó sinh ra những trang sách đọc chỉ thấy dao găm, súng lục. Viết với tư cách là người trong cuộc, từng bổ cuốc khui hầm, ra suối lắc mâm, xuống địa tầng lấy bổi… tính đến nay có thể nói ông là người “độc nhất vô nhị”. Điều này kể cũng không có gì lạ, anh quen thuộc cái gì thì viết cái ấy, nhà văn nào chẳng vậy. Cái lạ là ở bản thân người viết. Làm sao từ một người mê chữ nghĩa, sách đọc đến thiên kinh vạn quyển, cuộc sống sàng lắc thế nào mà lại trở thành dân địu, phu vàng, thành đại ca trong những chuyện làm ăn, thuộc hết sáu câu của các trò lừa đảo khiến một người đọc là tôi cứ phải băn khoăn đi tìm căn nguyên. Và căn nguyên như thế này.

 Ông thân sinh Nguyễn Trí quê Bố Trạch, Quảng Bình, bị Pháp bắt lính năm 1945 khi vừa tròn hai mươi tuổi. To khỏe, đẹp trai, giỏi võ ông được áp ngay vào Huế làm Ngự lâm quân cho vua Bảo Đại. Cách mạng tháng 8 bùng nổ. Hoàng đế trở thành cựu hoàng, đưa cả đội lính Ngự lâm lên Đà Lạt sinh sống. Năm 1955, cựu hoàng ra nước ngoài định cư, đội lính ngự lâm nghiễm nhiên trở thành lính của chế độ Việt Nam cộng hòa. Không như bộ đội cụ Hồ: “Khi có giặc người con trai ra trận/ Người con gái ở nhà nuôi cái cùng con…” (*), bộ đội của các cụ Bảo Đại, Diệm, Khánh, Thiệu, Dương Văn Minh đi đâu cũng đùm túm vợ con theo. Nên mới có chuyện mười đứa con ông cựu Ngự lâm quân, mỗi đứa sinh một nơi. Mới có chuyện Nguyễn Trí, đứa con thứ năm của ông đẻ ở Bình Định, lại học tiểu học ở Gia Lai, học Trung học cơ sở ở Buôn Ma Thuột, Trung học phổ thông ở Quy Nhơn. Với cách giáo dục tôi tạm gọi “ngụ nho ư binh” đó, chẳng có gì ngạc nhiên khi nho sinh Trí dù trí rất sáng, đường học cũng chỉ dừng ở mức chữ tạc không vạc thành chữ tộ. Ông cựu Ngự lâm quân chẳng mong gì hơn. Ngày cậu Sáu vào Trung học phổ thông, mừng, ông thưởng khuyến học con một nồi lẩu dê.

Xảy ra sự kiện 30-4-1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đang sống đời sung túc, gia đình ông cựu Ngự lâm quân bỗng rơi thẳng đứng xuống bần cùng: Nhà ở, một gian trong khu gia binh ngụy, không có của dự trữ, bố mẹ và các con mười hai nhân mạng không một ai có công ăn việc làm.

Để xảy ra tình trạng này, nói do thời thế cũng được, nhưng nếu nói do sự ngu tín của gia chủ cũng không sai. Bị bắt lính năm hai mươi tuổi, ông cựu Ngự lâm quân lòng mang nặng nỗi hoài hương. Tiền lương đáng lẽ dùng mua nhà, kiếm một chỗ ở ổn định cho vợ con, ông lại đem gửi hết vào ngân hàng. Hy vọng một ngày nào đó trở về quê Quảng Bình, xây tòa ngang dãy dọc. Sau 30/4/1975, gần 600 cây vàng (quy từ số dư tiền gửi của ông) trở thành giấy lộn, gia sản gia đình lùi về số mo. Nhưng với niềm tin ngây thơ sẽ có một ngày Mỹ trở lại miền Nam, ông kiên quyết không đi Đăklăk, Lâm Đồng hay Cát Tiên, những vùng kinh tế mới nhiều hứa hẹn lúc đó. Tuy nhiên trước đời sống ngày một khó khăn, năm 1978 gia đình ông cũng phải dinh tê lên Tuy Phước, khu kinh tế mới giáp ranh, cách Quy Nhơn mười cây số. Rồi không sống nổi ở Tuy Phước, hai vợ chồng hồi cư Quy Nhơn, con cái thì ly tán mỗi đứa một nơi. Nguyễn Trí vào Đồng Nai như thế. Anh vào cùng người bạn gái, bắt đầu một thiên tình sử đầy nước mắt. Hai người yêu nhau đã mấy năm. Nhà gái thấy nhà trai nghèo quá, từ chối gả con. Lỡ gắn bó với nhau quá rồi, cô gái quyết định trốn gia đình, cùng anh xa xứ. Tới miền Đông đất đỏ, cả hai dắt dìu nhau xuống Bình Giã. Nam bộ lúc ấy hoang vu, lộ 51 Sài Gòn đi Cấp rừng mọc sát mép đường, có khoanh chiếm cả Bình Giã chắc cũng xuôi. Và thế là Trí chặt cây dựng lán, làm chỗ trú thân cho hai người. Đến lúc này anh bỗng tin chuyện Mai An Tiêm, chuyện Rôbimxơn Cruxô là có thật. Nhưng mô hình gia đình “một mái lều tranh, hai trái tim vàng” chỉ đẹp trong những tích tuồng cổ, trên thực tế nó chó hơn đời chó. Được ba tháng, cô gái của anh kham không nổi, đành giã từ bạn tình để quy cố hương. Không làm cách nào được, Trí theo về, giục người lớn xuống nhà cô thưa chuyện tiếp. Thương quá mà làm vậy, chứ kết quả ra sao thì Trí biết rồi.

Về phía nhà gái, việc con gái bỏ nhà theo trai là một ô nhục lớn. Tránh búa rìu dư luận, gia đình lặng lẽ dắt con bỏ Quy Nhơn đi biệt tích. “Tìm em như thể tìm chim…” Suốt ba năm (1980-1983), Trí lăn lóc làm thuê làm mướn khắp các khu kinh tế mới ở Đồng Nai để dò tung tích vợ. Và quả là anh đã dò được thật, nhưng không phải vợ này mà là vợ kia. Sau khi đã quần nát Suối Nho, Phú Hòa, Thanh Sơn, 107… những khu kinh tế mới dọc quốc lộ 20, lên cả Tà Lài (Lâm Đồng), người anh tìm vẫn mất hút bóng chim tăm cá. Thất vọng, năm 1983 Trí mò xuống quốc lộ 56, đến Châu Đức, Bà Rịa – Vũng Tàu thì gặp một cô gái cũng người Quy Nhơn. Cả hai trở thành vợ chồng, sống đời với nhau tới nay.

Năm 2005, tròm trèm năm mươi tuổi, giang hồ hết mộng bốn phương. Gã dắt vợ con rời Sài Gòn về Nhơn Trạch, Đồng Nai làm phu hồ xây nhà trong khu công nghiệp. Một buổi trưa gã cùng đứa con trai đầu ngồi dưới bóng một cây phượng già ăn cơm. Ăn xong, con trai đi thụt bi da, còn gã loay hoay tìm chỗ chợp mắt. Bỗng một chiếc Taxi trờ tới. Từ trên xe một thiếu phụ bước xuống, hỏi gã đường đi Công ty hóa mỹ phẩm Debon. Gã ngẩng đầu lên nhìn khách mà chết lặng cả người, một nửa cuộc đời gã hơn hai mươi năm trước đang hiển hiện bằng xương bằng thịt trước mặt. Thiếu phụ cũng giật mình nhận ra người xưa, liền hấp tấp bước trở lại xe. Chiếc Taxi vội vã quay đầu, lao vút. Rất nhanh, gã phóng Honda đuổi theo. Sau khi đã chạy gần một trăm cây số, tới thị trấn Chơn Thành, tỉnh Bình Phước chiếc Taxi dừng lại, cũng là lúc giang hồ cập sát. Biết không thể trốn chạy quá khứ, thiếu phụ đứng đợi gã. Hai người gặp nhau. Không có nước mắt cũng không có nụ cười, chỉ có những lời trao qua đổi lại. Nhờ đó, gã biết mình có một đứa con trai, hai lăm tuổi. Một năm sau ngày hai bố con gặp nhau, con trai của gã và thiếu phụ bị chết do tai nạn giao thông.

Câu chuyện tình buồn này tôi nghe Nguyễn Trí kể. Nhưng tôi đoan chắc sẽ được đọc nó trong một tác phẩm nào đó của ông nay mai, vì Nguyễn Trí là vậy. Không một chi tiết đời sống nào ông bỏ qua. Từ phút im lìm ngậm một cọng cỏ may nằm bên vệ đường thuở thiếu thời, cho đến cảnh bị đám xã hội đen Sài Gòn truy sát khi đã nhiều nếm trải do trót vay nặng lãi để lấy tiền chữa bệnh ápxe gan, sinh ra một đống nợ, trả không nổi dù đã bán nhà… tất cả, tất cả được ông viết thành những trang văn sống động.

Henri Charrière viết “Người tù khổ sai” vì thấy chuyện tù tội của mình hay hơn chuyện tù tội của nhân vật được kể trong một cuốn sách thuộc loại Best Sellers thời ấy. Nguyễn Trí không có được sự tự tin của ông nhà văn người Pháp nọ. Ông viết là để giải tỏa những bức bách trong lòng, không hề mơ in báo. Nhưng điều phải đến cũng đến. Một hôm đi dạo trong nhà sách Thăng Long ở đường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Hồ Chí Minh, ông nghe hai người khách bên cạnh trao đổi với nhau email của Nhà văn Hồ Anh Thái. Nhập tâm địa chỉ mạng của người lạ, về Đồng Nai ông ra tiệm Internet gần nhà nghĩ và viết ngay một truyện ngắn vào ô viết thư gửi cho nhà văn.

Về chuyện này Hồ Anh Thái kể: “Ngày nọ trong hộp thư điện tử của tôi xuất hiện một bức thư lạ, ở ô trống để viết thư chỉ là một truyện ngắn được dán thẳng vào, không kèm theo một lời giới thiệu hoặc nhắn gửi. Tôi đọc thử mấy dòng. Cái tên tác giả Nguyễn Trí thì còn lạ lắm, nhưng một trang đầu đã chứng tỏ người viết có chữ và biết dùng chữ, có chuyện và biết kể chuyện…”

Truyện ngắn Hồ Anh Thái nói ở đây chính là truyện Nín lặng khóc được ông biên tập, gửi Tuổi trẻ cuối tuần, trở thành truyện ngắn đầu tiên in báo của Nguyễn Trí. Từ đó đến nay năm năm trôi qua, Nguyễn Trí đã có hơn một trăm truyện in báo. Xuất bản năm tập truyện ngắn, dài. Tất cả đều được chắt ra từ cuộc đời ông, một cuộc đời đầy máu và nước mắt. Tôi nói điều này không ngoa. Nguyễn Trí có năm đứa con. Đứa con trai đầu với người vợ trước, bị chết vì tai nạn giao thông như đã kể. Đứa con gái lớn của người vợ sau, năm hai mươi tuổi bị người ta giết chết. Còn lại hai trai, một gái thì đứa trai thứ ba sa vào nghiện hút, con dâu bỏ đi để hai cháu lại cho ông bà nội nuôi. Thế là khi sắp sửa về già vợ chồng ông vẫn phải cặm cụi bán mặt cho đất, bán lưng cho trời làm lụng nuôi con, nuôi mình, nuôi cháu. Vì những sự nuôi ấy mà bản thân ông đã hơn một lần chết hụt ở các bãi vàng, ở các cung đường lầm bụi. Để sống được chứ chưa nói để viết, để trở thành nhà văn, biết bao lần ông đã phải “Rũ bùn đứng dậy…” (**). Đọc “Nhà văn Việt Nam hiện đại” do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản, đố ai tìm thấy một nhà văn nào có tiểu sử “hoành tráng” như ông. Này nhé: “…sinh năm 1956 tại Bình Định…Từng qua các nghề: Nhảy tàu, đào đãi vàng, đá quý, khai thác trầm hương, chặt củi đốt than, nấu đường lậu, cưa xẻ gỗ, phu hồ, làm đồ tể; dạy Anh văn hợp đồng 7 năm, sau đó vào TP HCM chạy xe ôm ở bến Bạch Đằng 2 năm thì về Đồng Nai làm công nhân trong các khu công nghiệp…”. Trừ bảy năm gõ đầu trẻ, còn lại toàn những nghề dành cho kẻ mạt, không có trường lớp nào dạy, buổi sáng nhập môn buổi chiều đã rành việc. Người làm chỉ cần sức lực và chút liều lĩnh là xong.

Điều đáng ngạc nhiên, dù cực khổ vậy nhưng từ đáy sâu tâm hồn ông không hề oán thán cuộc đời, tác phẩm viết ra cái nào cũng “Đẹp và Thiện”(***) . Đối nhân xử thế thì luôn giữ được sự bao dung, dám làm dám chịu của một chính nhân quân tử. Ngày tòa xử vụ con gái bị giết, ông đã đứng ra xin tòa mở lượng khoan hồng cho kẻ thủ ác. Có lần nhặt được ví tiền của ai đó đánh rơi, ông liền công bố lên Facebook để chủ nhân cái ví biết, đến nhận. Lại có lần vợ ông bắt được mấy món đồ nữ trang bằng vàng, người mất nghe tin, tìm tới xin lại. Xác định đúng khổ chủ, ông trả lại ngay. Từng ăn trên vàng, ngủ trên vàng, dẫm đạp lên vàng mà khi rời bãi, trong túi không có một đồng đi xe. Chân lý ông ngộ ra là Cái gì không phải của mình thì mình không có quyền giữ! Chân lý này toát ra từ Bãi vàng, đá quý, trầm hương, từ Thiên đường ảo vọng, từ hơn một trăm truyện ngắn ông in báo, in sách.

Nguyễn Trí còn sẽ viết nhiều, nhưng với những gì đã công bố, truyện ngắn rõ ràng là một thế mạnh của ông. Mạnh ở đời sống, ở cốt truyện, và nhất là ở ngôn ngữ thể hiện. Ngôn ngữ trong các truyện ngắn của Nguyễn Trí là một thứ ngôn ngữ bụi, được sử dụng một cách tự nhiên, vừa đủ, rất hợp với các nội dung cần chuyển tải. Chúng ta thử hình dung cũng những cốt truyện ấy, nếu tác giả thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ “salon”, liệu chúng có dậy mùi được không? Chắc chắn không. Lúc ấy thay vì đọc ông, người ta sẽ đọc các trang báo, nhất là báo về pháp luật và an ninh. Nhưng người đọc đọc Nguyễn Trí, vì truyện của ông “…có vô số thông tin và ông đã biến những thông tin đó thành thế giới tưởng tượng của riêng mình để truyện nào cũng có nhân vật rõ tới sờ thấy được và tình huống truyện rất kỳ lạ và cái quan trọng là cảm xúc nhân văn tràn đầy ở người viết biến những cái thông thường thành cảm xúc chung lớn lao…”(***)

Ở người làm nghề văn, đây là một năng lực trời cho. Nếu để mất nó, bất cứ người viết nào cũng sẽ lẫn trong muôn vàn khuôn mặt văn chương khác.

Xuân Bính Thân 2016

*  Thơ Nguyễn Khoa Điềm.
**  Thơ Nguyễn Đình Thi:
“Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”
*** Lê Minh Khuê.

Nhà văn Nguyễn Trí, sinh năm 1956 tại Bình Định, nguyên quán Quảng Bình.
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP, CÔNG TÁC, SÁNG TÁC: Từng làm lao động phổ thông kiếm sống bằng nhiều nghề vất vả, hiện ở nhà viết văn.
TÁC PHẨM CHÍNH ĐÃ XUẤT BẢN: Bãi vàng, đá quý, trầm hương (tập truyện ngắn, Nxb Trẻ-2012. Tái bản 2013, 2014), Đồ tể (tập truyện ngắn, Nxb Trẻ-2014), Thiên đường ảo vọng (tiểu thuyết, Nxb Trẻ-2015). Ảo và sợ (tập truyện ngắn, Nxb Trẻ-2016), Tuổi thơ không có cánh diều (Truyện dài, Nxb Kim Đồng-2016)…
GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2013 (cho tập truyện ngắn Bãi vàng, đá quý, trầm hương)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Những trang văn phảng phất mùi thuốc súng
Bài tham luận của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm
Xem thêm
Di cảo thơ Chế Lan Viên: Khi thơ là thuốc, là lời kinh kệ
Chế Lan Viên là người mà sự nghĩ ngợi vận vào thơ như thể thơ cũng là thuốc, thơ chẩn ra được cái bệnh đau của kiếp người, và “Có vào nỗi đau mới có ích cho người”.
Xem thêm
Cảm hứng sinh thái trong thơ Đặng Bá Tiến
 Là một nhà báo, nhà thơ mấy chục năm gắn bó với vùng đất Đắk Lắk, Đặng Bá Tiến đã sáng tác thành công về thiên nhiên, con người và văn hoá Tây Nguyên với nhiều tác phẩm: Lời chân thành với cỏ (Thơ, 2009), Rừng cổ tích (Trường ca, 2012), Hồn cẩm hương (Thơ, 2017), Linh hồn tiếng hú (Thơ, 2020). Anh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Tây Nguyên đương đại, một nhà thơ “thứ thiệt”[1] có bản sắc riêng, thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo. Nổi bật trong sáng tác của anh là những tác phẩm viết về rừng, về sinh thái văn hoá và nhân văn.      
Xem thêm
Sức bền của ngòi bút
Nguồn: Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 116, ngày 21/3/2024
Xem thêm
Nguyễn Bính ở phương Nam
Nguyễn Bính (1918-1966), tên thật là Nguyễn Trọng Bính (có lúc tên Nguyễn Bính Thuyết), quê ở Nam Định nhưng sống khắp ba miền đất nước. Ông có phong cách một nhà thơ lãng tử, sáng tác về chủ đề tình cảm làng quê và tình yêu, tổ quốc. Thơ tình cảm mộc mạc của ông được rất nhiều người thuộc. Tác phẩm gồm 26 thi tập trong đó có : + 1 kịch thơ : Bóng giai nhân (1942): + 3 truyện thơ : Truyện Tỳ Bà (1942); Trong bóng cờ bay (1957); Tiếng trống đêm xuân (1958): + 1 vở chèo : Người lái đò sông Vỹ (1964) và rất nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được nhạc sĩ phổ thành ca khúc : Tiểu đoàn 307 (Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc, Quốc Hương ca);  Cô hái mơ (Phạm Duy); Ghen (Trọng Khương), Cô lái đò (Nguyễn Đình Phúc); Chân quê (Minh Quang). Hiện nay, nhiều thành phố có những con đường mang tên ông. Nhà thơ Nguyễn Bính nhận được giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (2000) cùng với Hoài Thanh, Bùi Đức Ái, Nguyễn Quang Sáng, …
Xem thêm
“Đánh thức mình bằng chân lý vô ngôn”
Tôi biết Nguyễn Minh Thuận (nguyên Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tư pháp Đắk Lắk) làm thơ đã lâu, dễ hơn ba chục năm trước, thỉnh thoảng anh vẫn đọc cho tôi nghe và rải rác anh cho đăng trên facebook Trương Thị Hiền - vợ anh (TS, giảng viên Trường Đại học Tây Nguyên).
Xem thêm
Đọc “Thơ mười năm” của Hoàng Đình Quang
Bài viết của nhà thơ Trần Quang Khánh
Xem thêm
Hoàng hôn chín – chín mọng yêu thương
Về tập thơ in chung của Võ Miên Trường và Triệu Kim Loan
Xem thêm
Thơ Phan Hoàng trong hành trình ngược lối – Tiểu luận của Mai Thị Liên Giang
Tập thơ “Chất vấn thói quen” của Phan Hoàng từng nhận được nhận Giải thưởng Hội Nhà văn TPHCM và Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2012, sau đó tập thơ này được trao Giải thưởng Nghệ thuật Danube năm 2023 của Hungary. Ngoài ra tập trường ca “Bước gió truyền kỳ” của ông cũng được Ủy ban nhân dân TPHCM trao Giải thưởng Văn học Nghệ thuật TPHCM 5 năm lần thứ II. Để hiểu thêm về hành trình sáng tạo thi ca của nhà thơ Phan Hoàng, xin trân trọng giới thiệu bài viết của nhà lý luận phê bình văn học Mai Thị Liên Giang.
Xem thêm
Những giải mã thú vị, khoa học của một người đọc tri âm
Với kiến văn sâu rộng, sự nghiên cứu cẩn trọng mang tính học thuật cao, khai thác nhiều vấn đề tri thức lý luận mới mẻ; Trần Hoài Anh đã đem đến những trang viết tinh tế, khai mở nhiều điều lý thú và bổ ích.
Xem thêm
Hồn xuân trong thơ Hồ Chí Minh
Nhà thơ Trung Quốc Viên Ưng đã nhận định sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một trí tuệ lớn, một dũng khí lớn, một tâm hồn lớn”.
Xem thêm
“Trung thực và quả cảm” trong sáng tác và phê bình văn học, nghệ thuật
Bài viết của nhà thơ Mai Nam Thắng trên Văn nghệ số 4/2024
Xem thêm
Nguyễn Quang Thiều với ‘Nhật ký người xem đồng hồ’
Bài viết của Nguyễn Văn Hòa về tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ của Nguyễn Quang Thiều
Xem thêm
Nửa lo giá chợ nửa ngây vì trời
Nguồn: Báo Văn nghệ số 4, ra ngày 27/1/2024.
Xem thêm
Dòng kinh yêu thương
Tháng 8 năm 1969, chương trình Thi văn Về Nguồn góp tiếng trên Đài phát thanh Cần Thơ vừa tròn một tuổi. Nhân dịp nầy, cơ sở xuất bản về Nguồn ấn hành đặc san kỷ niệm. Đặc san tập họp sáng tác của bằng hữu khắp nơi, với các thể loại như thơ, truyện, kịch… và phần ghi nhận sinh hoạt văn học nghệ thuật ở miền Tây trong một năm qua. Trong đặc san này, chúng tôi in một sáng tác của nhà thơ Ngũ Lang (Nguyễn Thanh) viết ngày 24/8/1969, gởi về từ Vị Thanh (Chương Thiện), có tựa đề “Đưa em xuôi thuyền trên kinh Xà No” Hơn nửa thế kỷ trôi qua với bao nhiêu biến động, ngay cả tác giả bài thơ chắc cũng không còn nhớ. Xin được chép lại trọn bài thơ của anh đã đăng trong Đặc san kỷ niệm Đệ nhất chu niên Chương trình Thi văn Về Nguồn, phát hành vào tháng 8 năm 1969.
Xem thêm
Minh Anh, người đánh thức thế giới
từng chữ từng chữ/ rơi vào từng dòng từng dòng/ chúng chụp lấy những khoảnh khắc/ đẹp não nùng/ không thể rời khỏi con tim/ cách duy nhất để tự nó đừng nở rộ quá mức/ vượt khỏi ký ức của ta/ là hãy viết xuống (Sự kỳ lạ của nghệ thuật viết).
Xem thêm
Ta sẽ không như cốc trà nguội cuối ngày
Bài viết của Nguyên Bình về tập thơ Vọng thiên hà của Hoa Mai.
Xem thêm
Con người Chí Phèo
Cái chết của Chí phèo như bản cáo trạng về xã hội thực dân nửa phong kiến thối rữa, nhàu nát, là tiếng kêu oan khốc thấu tận trời xanh của những kiếp người “siêu khổ”.
Xem thêm