TIN TỨC

Về tác giả và nguồn gốc bài thơ Nam quốc sơn hà

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-31 17:37:14
mail facebook google pos stwis
1238 lượt xem

“Nam quốc sơn hà” không chỉ đơn thuần là một bài thơ, mà là tiếng nói của hồn thiêng sông núi trong buổi đầu giữ nước. Bài viết dưới đây được chia sẻ từ Văn nghệ Online sẽ góp một cách nhìn lại hành trình ra đời, truyền tụng và giá trị đặc biệt của tác phẩm được xem là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc.

VŨ THANH

Nam quốc sơn hà vốn không có nhan đề, người đời sau lấy bốn chữ đầu tiên của câu đầu để đặt tên cho bài thơ (nhan đề này xuất hiện lần đầu trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 2, NXB Văn học, 1976).

Tác phẩm còn được gọi là Thơ thần do có xuất xứ gắn với truyền thuyết về hai anh em Trương Hống, Trương Hát, thần sông Như Nguyệt (một nhánh của sông Cầu ngày nay). Bài thơ còn chưa được xác định về tác giả và thời điểm ra đời và là chủ đề tranh luận của giới nghiên cứu qua nhiều năm, chủ yếu trên các phương diện: tác giả, thời điểm ra đời tác phẩm, văn bản, dịch thuật…

Nam quốc sơn hà có nhiều văn bản khác nhau, và có lẽ đã được sử dụng, sửa chữa, bổ sung qua nhiều đời. Ở đây chúng tôi chọn văn bản được in trong quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên làm văn bản chính thức. Phần dịch nghĩa và dịch thơ cũng có nhiều bản của nhiều dịch giả khác nhau, chúng tôi tạm chọn bản in trong cuốn Lịch sử Việt Nam, tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013 (không ghi tên người dịch) để tìm hiểu.

Một thời gian dài chúng ta cho rằng chính Lý Thường Kiệt là người sáng tác bài thơ Nam quốc sơn hà. Thuyết này, có lẽ, bắt đầu từ học giả Trần Trọng Kim. Trong cuốn Việt Nam sử lược xuất bản năm 1918, ông viết: “Lúc bấy giờ quân nhà Tống đánh hăng lắm, Lý Thường Kiệt hết sức chống giữ, nhưng sợ quân mình có ngã lòng chăng, bèn đặt ra một chuyện, nói rằng có thần cho bốn câu thơ…”(2) Từ đó các sách vở đời sau và nhiều nhà nghiên cứu đều mặc nhiên coi tác giả bài thơ là Lý Thường Kiệt. Nhưng các tư liệu hiện có như các thần tích, sử sách, địa chí, truyền thuyết, truyện ký… đều không ghi tên tác giả và cho thấy Lý Thường Kiệt không phải là người đầu tiên đã sử dụng bài thơ và có lẽ bài thơ đã ra đời trước khi ông cho đọc trong đền Trương Hát để khích lệ tướng sĩ trong cuộc chiến chống quân xâm lược Tống năm 1077 trên phòng tuyến sông Như Nguyệt. “Không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà là của Lý Thường Kiệt. Không một sử liệu nào cho biết điều đó cả.”(3)

Theo Trần Nghĩa trong bài Thử xác lập văn bản bài thơ “Nam quốc sơn hà” thì ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Viện Sử học hiện lưu trữ khoảng 26 văn bản Nam quốc sơn hà. Bùi Duy Tân trong Truyền thuyết về bài thơ “Nam quốc sơn hà” là vô danh không phải của Lý Thường Kiệt thì cung cấp một con số là 31. Còn theo Nguyễn Thị Oanh trong bài viết Văn bản xưa nhất về truyền thuyết trong có bài thơ “Nam quốc sơn hà”(4) thì con số thống kê lên tới khoảng 35 dị bản sách và 8 dị bản thần tích về truyền thuyết trong đó có bài thơ được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm hiện còn lưu trữ tại các thư viện ở Hà Nội. Nhưng đó chỉ là những văn bản đã có trong tay. Vùng sông Cầu có đến 291 xã có miếu đền thờ thần Trương Hống, Trương Hát. Nếu như mỗi đền có một thần tích thì ta sẽ có một số lượng dị bản của bài thơ còn lớn hơn nhiều. Trong tất cả các văn bản được các nhà nghiên cứu tìm hiểu ở trên thì không có văn bản nào đề rằng Lý Thường Kiệt là tác giả, hoặc tương truyền là tác giả của Nam quốc sơn hà. Cũng trong bài viết trên, tác giả Nguyễn Thị Oanh còn cho biết “trong các thần tích sưu tầm ở đền họ Trương ở các vùng ven sông Cầu, truyền thuyết trong có bài thơ Nam quốc sơn hà phần nhiều được chép gắn với Lê Đại Hành và công cuộc kháng chiến chống giặc Tống năm 981…” Tác giả bài viết cũng dẫn ra nhiều chứng cớ và đi đến nhận định rằng “truyền thuyết xưa nhất có bài thơ Nam quốc sơn hà là truyền thuyết gắn với Lê Đại Hành”. Bài thơ gắn liền và là một phần hữu cơ của truyền thuyết về hai anh em thần sông Như Nguyệt. Truyền thuyết ghi lại rằng: Trương tướng quân anh em hai người, anh tên là Hống, em là Hát, đều là tướng giỏi của Triệu Việt Vương (524 - 571) trong cuộc kháng chiến anh dũng chống quân Lương xâm lược. Sau Triệu Việt Vương thất bại về tay Lý Phật Tử. Phật Tử xưng là Hậu Lý Nam Đế dụ hai anh em ra cho làm quan, hai người đều nói: “Bề tôi trung không làm quan với vua đã làm hại chúa mình.” Rồi ẩn mình ở núi Phù Long. Nam đế gọi ép mấy lần hai anh em đều từ chối rồi tự vẫn để giữ tiết với chủ cũ. Truyền thuyết này được ghi chép trong các thần phả, thần tích như: Trương tôn thần sự tích - thần tích về Trương Hống, Trương Hát được ghi chép tại đền miếu thờ hai ông ở vùng sông Cầu; trong Việt điện u linh tập - tập thần tích ghi chép về các vị thần đất Việt của Lý Tế Xuyên; trong Lĩnh Nam chích quái tương truyền của Trần Thế Pháp và trong sử ký như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên…

Bài thơ Sông núi nước Nam trong SGK Ngữ văn 8, tập 1 bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, NXB Giáo dục Việt Nam, 2023, tr. 70.

Việt điện u linh tập (1329) của Lý Tế Xuyên có truyện Khước địch thiện hựu trợ thuận đại vương, Uy địch dũng cảm hiển thắng đại vương ghi lại câu chuyện hai thần Trương Hống, Trương Hát. Ông anh được lập đền thờ ở cửa sông Như Nguyệt, ông em được lập đền thờ ở cửa sông Nam Bình, đã âm phù đọc thơ giúp Lý Thường Kiệt đánh giặc Tống. Theo những tư liệu mà chúng ta hiện có trong tay thì Việt điện u linh tập là cuốn sách cổ nhất ghi chép truyền thuyết về bài thơ Nam quốc sơn hà: “Triều vua Lý Nhân Tông, quân Tống nam xâm, kéo tới địa hạt của ta, nhà vua liền sai Thái úy Lý Thường Kiệt đặt hàng rào dọc bờ sông để cố thủ.

Một đêm kia, quân sĩ bỗng nhiên nghe trong đền cất tiếng cao, ngâm rằng:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Quả nhiên quân Tống thua trận, thần mộng rõ ràng.”(5) Văn bản của bài thơ này giống hệt như trong Đại Việt sử ký toàn thư sau này.

Lĩnh nam chích quái lục của Trần Thế Pháp (khoảng cuối thế kỷ XIV) trong truyện Hai thần Long Nhãn và Như Nguyệt thì lại chỉ ghi việc Trương Hống, Trương Hát âm phù và đọc thơ giúp Lê Hoàn đánh quân Tống (năm 981) trên đoạn sông Đại Than (gần sông Cầu) và cũng cho ta một văn bản ít nhiều khác với văn bản quen thuộc, chứ không ghi việc thần âm phù cho Lý Thường Kiệt (6).

Theo Bùi Duy Tân trong bài viết đã dẫn ở trên thì Trương tôn thần sự tích (bản in VHv 1268 - Viện Nghiên cứu Hán Nôm) mặc dù được in muộn, song là văn bản tích hợp được nhiều tư liệu về truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát liên quan đến Nam quốc sơn hà hơn cả. Tấm lòng thủy chung son sắt và ý chí quật cường, cũng như cái chết oan khuất của hai anh em đã cảm đến trời đất, sự linh thiêng được nhân lên gấp nhiều lần. Hai anh em được phong thần và được thờ cúng ở nhiều nơi, trở thành hai trong những vị thần có nhiều công tích nhất trong việc âm phù cho các bậc vua chúa trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và chinh phạt những đám giặc nổi loạn. Năm Thiên Phúc thứ hai (981) đời vua Lê Đại Hành, nhà Tống sai Hầu Nhân Bảo đem quân xâm lược nước ta, hai thần theo âm phù nhà vua đánh giặc. Lời thơ Nam quốc sơn hà đã vang lên từ trong đền thờ thần. Thần tích này cũng ghi việc hai thần giúp Lý Thường Kiệt đánh quân Tống trên sông Như Nguyệt.

Trong nhiều truyền thuyết khác về giai đoạn lịch sử này còn thấy có việc nhiều vị thần khác âm phù cho các vua chúa, tướng lĩnh đánh giặc ngoại xâm. Như trong Việt điện u linh tập còn có truyện Chứng An Minh ứng Hựu Quốc Công(7) ghi việc Lý Thái Tổ nằm mộng thấy Lý Phục Man, tướng của Lý Nam Đế kể lại chuyện đã đem quỷ binh phù giúp Ngô Tiên chủ đánh quân Nam Hán, giúp Lê Đại Hành đánh Tống và trước khi trở về cõi trời còn để lại một bài thơ tặng lại nhà vua. Ba vị thần đền Đào Xá (Thanh Thủy, Phú Thọ) cũng đọc thơ phù giúp Lý Thường Kiệt thêm ý chí đánh Tống(8).

Qua một số tư liệu đã trình bày ở trên có thể thấy rằng, bài thơ Nam quốc sơn hà nằm trong truyền thuyết về hai anh em Trương Hống, Trương Hát với các sự kiện chủ yếu diễn ra ở những địa điểm quanh vùng sông Cầu từ thời kỳ đầu đất nước tự chủ gắn liền với tên tuổi của hai anh hùng dân tộc chống quân xâm lược Tống là Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt (hai thần âm phù cho rất nhiều bậc vua chúa, tướng lĩnh như Nam Tấn vương nhà Ngô, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn... nhưng không phải trong trường hợp nào cũng xuất hiện bài thơ). Các cuốn sách được coi là chính thống có tính chất nhà nước như Việt điện u linh tập hoặc Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chép bài thơ thì cũng đều lấy từ những lời “tục truyền”, “tương truyền”, tức là đều lấy từ các tư liệu dân gian. Bài thơ không ghi tên người sáng tác, không có một văn bản chính thức mà mang tính chất dân gian, được truyền tụng và sửa chữa cho phù hợp với từng bối cảnh mà các truyền thuyết kể lại.

Từ đó có thể xác định một cách tương đối thời điểm ra đời của bài thơ như sau:

- Nam quốc sơn hà là một bài thơ mà chúng ta chưa biết thời gian sáng tác cụ thể. Dựa vào nội dung thể hiện: khẳng định chủ quyền, độc lập dân tộc, gắn liền với những chiến công oanh liệt của Lê Hoàn và Lý Thường Kiệt trên vùng sông Cầu, có thể đi đến kết luận: bài thơ nhiều khả năng ra đời vào thời kỳ đầu tự chủ, khoảng thế kỷ X, có thể vào những năm Lê Đại Hành lãnh đạo nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống.

- Không phải ngẫu nhiên mà bài thơ lại gắn với truyền thuyết về hai anh hùng chống giặc ngoại xâm Trương Hống, Trương Hát. Thứ nhất, đây là hai vị thần rất linh thiêng, đền thờ các vị nằm trên vùng sông Cầu, nơi gắn tên tuổi Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt với những chiến công hiển hách của dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống. Thứ hai, việc bài thơ quan hệ mật thiết với các truyền thuyết dân gian mang tính chất linh thiêng, kỳ ảo là biểu hiện của một trong những đặc trưng của văn học thời kỳ đầu dựng nước. Chất kỳ ảo trong văn học giai đoạn này còn mang đậm màu sắc siêu nhiên, thô phác và gắn liền mật thiết với tín ngưỡng và văn hóa, văn học dân gian.

Ở giai đoạn đầu của văn học dân tộc đã xuất hiện một hiện tượng thơ khá lạ. Đó là những bài thơ “thần”, thơ “sấm” mang những lời lẽ khó hiểu, được gắn liền với những truyền thuyết, những huyền thoại khá bí hiểm. Việc xuất hiện những bài sấm truyền, dùng lời nói kín (ẩn ngữ) để dự đoán hung cát có lẽ đã xuất hiện từ thế kỷ IX - X. Nổi bật hơn cả là những chùm thơ bí hiểm xuất hiện rầm rộ trong giai đoạn chuẩn bị cho việc Lý Công Uẩn lên ngôi thay nhà Tiền Lê. Điều độc đáo là chỉ có thể lý giải một cách thấu đáo ý nghĩa tiên tri mang tính chất thần linh của những bài thơ này khi đặt nó trong bối cảnh của những huyền thoại xung quanh, giữa chúng có sự lý giải, bổ sung mật thiết cho nhau. Một số bài thơ theo lối chiết tự đã xuất hiện chỉ rõ việc nhà Lý lên thay nhà Tiền Lê mà Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi lại như bài Đại sơn (Núi lớn) tính chất thần bí khá rõ nét, bài Đại đức (Đức lớn) xuất hiện khi sư Đa Bảo chùa Kiến Sơ nghe thần đọc thơ để khen đức lớn của Lý Công Uẩn khi vị hoàng đế tương lai đến thăm chùa; hoặc khi trong đêm tĩnh mịch sư Vạn Hạnh nghe thấy tiếng ngâm thơ vọng tới từ mộ Hiển Khánh vương (cha của Lý Công Uẩn) và ông đã sai người ghi lại được bốn bài. Suốt trong một thời gian dài, những điều linh dị như vậy cứ liên tiếp xuất hiện…

Như vậy là sự ra đời của các bài thơ “thần” kỳ bí được gắn với những truyền thuyết kỳ ảo lại xuất phát từ những yêu cầu chính trị cấp bách của đất nước. Hầu như những vấn đề lớn, những sự kiện chính trị quan trọng đương thời đều có thể nhận thấy dấu vết qua những mẩu huyền thoại và những bài thơ “thần”. Trước các cuộc chiến quan trọng, các bậc vua chúa, tướng lĩnh đều tiến hành việc cầu cúng, xin các vị thần linh, tổ tiên của đất nước phù trợ cho con cháu. Sử sách cũng ghi lại rằng, Lê Hoàn trước họa xâm lược của quân Tống đã nhờ Khuông Việt đại sư đi cầu nguyện tại núi Vệ Linh (nơi thờ Thánh Gióng), cầu cho quân ta chiến thắng trước kẻ thù hung bạo.

Rất nhiều khả năng Nam quốc sơn hà đã ra đời từ một “phương thức” sáng tác như vậy. Để bài thơ trở nên linh thiêng, có sức mạnh thu phục nhân tâm, khích lệ sức mạnh tinh thần và thể chất của quân sĩ trước một kẻ thù hùng mạnh nhưng phi nghĩa và khiến chúng phải kinh sợ mà tan vỡ thì người sáng tác - chắc chắn là một nhân vật quan trọng, tài năng đương thời buộc phải giấu kín tên tuổi mình và gán những lời thơ mang hào khí và sức mạnh chính nghĩa của dân tộc do mình sáng tác cho thần linh, vị thần bản địa nơi sẽ diễn ra cuộc chiến đấu một mất, một còn với kẻ thù xâm lược. Nhà nghiên cứu Lê Mạnh Thát trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam(9) đã cho rằng bài thơ nhiều khả năng là do thiền sư Đỗ Pháp Thuận viết, nhưng ông cũng không đưa ra được chứng cứ nào thật sự thuyết phục.

Nam quốc sơn hà chính là một bài hịch bố cáo với thiên hạ về chủ quyền và sức mạnh của dân tộc, là một bài sấm truyền tiên đoán sự thất bại tất yếu của kẻ thù xâm lược và là bài thơ khẳng định thắng lợi đã được báo trước của quân dân Đại Việt. Điều đó sẽ như một lời khích lệ quan trọng khiến cho ý chí tiêu diệt kẻ thù của các chiến binh dưới quyền chỉ huy của Lê Đại Hành và nguyên soái Lý Thường Kiệt trở nên vô địch và cũng là điều khiến kẻ thù hoảng sợ mà tan rã. Bởi đó là “tiếng nói” của “thần”, của hồn thiêng sông núi, là ý chí của cả một dân tộc đang quyết hy sinh tất cả để bảo vệ độc lập và chủ quyền. Và thần Trương Hống, Trương Hát với sự linh thiêng nhân đôi, hai vị thần nổi danh với những chiến công chống giặc ngoại xâm và sẵn sàng chết để chứng tỏ lòng trung nghĩa - một đức tính vốn được cả thần linh và con người đề cao đã được lựa chọn để thực hiện sứ mệnh thiêng liêng mà thời đại giao phó. Bài thơ “do thần linh đọc” gắn liền với những cuộc chiến một mất một còn với kẻ thù xâm lược diễn ra trong thời kỳ đầu dân tộc ta mới giành được độc lập cho thấy tính chất lễ nghi, tâm linh của tác phẩm quan trọng này. Vì vậy, khi nghiên cứu, tìm hiểu Nam quốc sơn hà phải luôn gắn với môtíp “âm phù dương trợ” linh thiêng, với nghi lễ đọc thơ thần, thơ sấm, thơ hịch10 của văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, có một điều mà chúng ta có thể suy đoán là truyền thuyết nhiều khả năng đã xuất hiện trước khi bài thơ ra đời, khi mà sự linh thiêng của hai vị thần, tinh thần yêu nước quật cường của họ đã được lưu truyền rộng rãi trong dân chúng.

Bài thơ “thần” này đã được huyền thoại hóa, truyền thuyết hóa, linh thiêng hóa, được lưu truyền như một tác phẩm dân gian, phi thời gian, không gian và có nhiều dị bản, được sửa chữa và thay đổi cho phù hợp với từng bối cảnh cụ thể. Nam quốc sơn hà cũng đã đạt tới vẻ đẹp nghệ thuật; huyền thoại về sự ra đời của tác phẩm cũng tìm được một khung cảnh lý tưởng: Trời đêm tĩnh mịch, sông nước mênh mông, sự căng thẳng của chiến trường và huyền bí của ngôi đền… Tất cả những yếu tố đó tạo nên không khí thiêng liêng khi bài thơ được ngâm vang, tuyên bố chủ quyền độc lập và cảnh cáo kẻ thù xâm lược. Các chiến binh Đại Việt trong khung cảnh đó đã tiếp nhận bài thơ vừa với khí thế và vị thế chủ nhân của một đất nước có chủ quyền độc lập, vừa với niềm tin có màu sắc tôn giáo, tâm linh bên cạnh sự rung cảm nghệ thuật.

Có thể khẳng định, Nam quốc sơn hà chắc chắn được ra đời vào thời kỳ đầu khi nền độc lập, tự chủ của dân tộc Việt còn đang trứng nước và đứng trước thử thách lớn lao, trước các cuộc chiến tranh xâm lược của phong kiến phương Bắc. Do phải thực hiện một vai trò vô cùng đặc biệt mang tính chất tâm linh, tín ngưỡng, phục vụ cho công cuộc bảo vệ và gìn giữ nền độc lập non trẻ của dân tộc, bài thơ không lưu tên tác giả, được gán cho thần linh và lưu truyền như một tác phẩm dân gian. Bài thơ có nội dung và giá trị nghệ thuật vô cùng lớn lao, được coi như bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam, mở đầu cho một thời kỳ phát triển trong độc lập, tự do của đất nước.

........................................

(1). Theo Trần Thị Vinh (chủ biên), Lịch sử Việt Nam, tập 2, NXB Khoa học xã hội, H, 2013, tr.289.

(2). Trích theo Việt Nam sử lược, tái bản, NXB Văn hóa thông tin, H., 1999, tr.112.

(3). Hà Văn Tấn, “Lịch sử, sự thật và sử học”, Tạp chí Tổ quốc số 401, tháng 1-1988.

(4). Xin xem Tạp chí Văn hóa dân gian, số 2-2002, tr.33-42.

(5), (6), (7). Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 3: “Văn học thế kỷ X-XIV”, NXB Khoa học xã hội, 2004, tr.260, 415, 260.

(8). Theo Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, H., 1971, tr.139.

(9). Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 2, NXB TP Hồ Chí Minh, 2001, tr.473-483.

(10). Về nghi lễ đọc thơ thiêng, Đại Việt sử ký toàn thư sau này còn chép việc Nguyễn Thuyên đời Trần làm thơ “Văn tế đuổi cá sấu”: Mùa thu, tháng 8 năm Nhâm Ngọ 1282, khi quân Nguyên đang ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai “Bấy giờ cá sấu đến sông Lô. Vua sai Thượng thư Hình bộ là Nguyễn Thuyên làm văn ném xuống sông, cá sấu tự nhiên đi mất… (tập 2, NXB Khoa học xã hội, 1971, tr.52).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cho ngày 30 tháng 4: Chuyện bây giờ mới kể
Thời gian là cỗ máy mài vô tình và tàn nhẫn đối với ký ức cá nhân. Trong biển thông tin hỗn loạn và nhiều kênh hôm nay, ký ức lại càng gặp nhiều thách thức thường trực và dữ dội. Một cách cổ sơ và thủ công cưỡng chống lại sự bào mòn vô tình và tàn nhẫn ấy là tìm dịp nhắc lại, thường xuyên nhắc lại.
Xem thêm
Cần chấm dứt việc truy đuổi người vi phạm giao thông
Tết Bính Ngọ về thăm quê, mình chứng kiến một vụ tai nạn giao thông hơi vô lý. Một lão nông điều khiển xe máy đang chạy trên đường, chợt lão nghe tiếng còi hụ của xe CSGT phía sau, ngỡ là cảnh sát đuổi mình nên lão tăng tốc chạy nhanh hơn. Đến đoạn km 108, QL 20 thì bị lạc tay lái, xe lao vào lề đường té bổ nhào, khiến mặt mày và tay chân lão bê bết máu. Hai anh CSGT dừng xe đỡ lão dậy cùng với người dân mang dầu, băng cad sơ cứu. Trong lúc băng lại vết thương, hai anh cảnh sát nói với lão nông và mọi người rằng, các anh chỉ truy đuổi xe của nam thanh niên vi phạm chứ không phải đuổi xe lão nông này. Do lão hoảng quá, cố chạy nhanh nên gây ra tai nạn. Sau đó ông lão được đưa vào bệnh viện chữa trị. Rất may là ông già này chỉ bị thương nhẹ nên xuất viện một ngày sau đó.
Xem thêm
Biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành hiệu quả
Mọi thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay đều khởi nguồn từ sự giao thoa tất yếu giữa ý chí của Đảng và khát vọng của nhân dân. Ý chí tại Đại hội XIV không chỉ đơn thuần là hệ thống văn kiện chính trị, mà là sự kết tinh cao độ giữa bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực dự báo chiến lược tài tình và khát vọng cháy bóng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Quyết sách của Đảng là thành quả của một quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc, dưới ánh sáng của lý luận khoa học và tinh hoa trí tuệ của toàn dân tộc.
Xem thêm
Biết không hay sao vẫn lao vào?
Trong lĩnh vực văn học, đã có trường hợp sử dụng AI để sáng tác đăng báo, thậm chí in thành sách. Dẫu biết, khi sử dụng AI, tác phẩm sẽ thiếu cảm xúc, khó tạo nên giọng điệu riêng, nhưng vì lợi nhuận, vì sốt ruột nổi tiếng, người ta vẫn lao vào.
Xem thêm
Chuyên đề: Chống AI lũng đoạn văn chương
Không còn là chuyện có nên hay không sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sáng tác văn học nữa, mà thực tế đang đặt ra yêu cầu ứng phó với việc lợi dụng, lạm dụng AI để tạo nên những sản phẩm mang tên tác giả cụ thể nhưng không thấm mồ hôi của lao động nghề nghiệp, không “đóng dấu” được bản sắc của người viết.
Xem thêm
Thời cơ mới cho sáng tạo văn học - nghệ thuật
Năm 2025 là một năm in dấu đậm trong lịch sử phát triển của đất nước, không chỉ bởi kỉ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, mà còn là năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị - xã hội quan trọng; kịp thời nhìn lại những tác động xã hội nhiều mặt, đồng thời rút ra nhiều vấn đề đáng và cần để tổ chức tốt hơn cho hoạt động kỉ niệm 100 năm ra đời của Đảng (1930 - 2030), 100 năm ra đời của chế độ mới (1945 - 2045) với nội dung thiết thực, nhiều hình thức mới mẻ, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc.
Xem thêm
Học sinh “đánh thức” văn học bằng trải nghiệm sáng tạo
Không dừng lại ở việc học văn qua trang sách, học sinh Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa (TP.HCM) đã biến văn chương thành một hành trình trải nghiệm đa giác quan. Dự án “Tiếng tơ lòng” cho thấy một hướng tiếp cận mới: đưa văn học dân gian và văn học trung đại sống lại trong đời sống hiện đại, bằng chính sự sáng tạo và cảm xúc của người học.
Xem thêm
Thúc đẩy việc dạy và học tiếng Việt trong thế hệ trẻ kiều bào tại Hàn Quốc
Ngày 12/4, Tọa đàm với chủ đề “Thực trạng và giải pháp phát triển việc giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam trong cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc” đã diễn ra tại thành phố Gwangju, Hàn Quốc.
Xem thêm
Bốn văn nhân, một mạch văn chương
Bốn con người, bốn phong cách, nhưng cùng chung một mạch nguồn: đi ra từ chiến tranh, sống và viết bằng trải nghiệm thật, và giữ trọn sự tử tế với văn chương.
Xem thêm
Văn chương Việt trong vòng xoáy AI
Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) đưa văn chương và người đọc vào thời khắc chuyển mình chưa từng có. Nó có thể được xem là công cụ hỗ trợ người viết, cũng gợi mở vô số thách thức cùng các áp lực mới cần đối mặt.
Xem thêm
Nỗi trăn trở của người làm chính sách trước những vấn đề nhân sinh
Những ngày gần đây, dư luận xã hội không khỏi bàng hoàng trước thông tin gần 300 tấn thịt lợn nhiễm bệnh bị tuồn ra thị trường, len lỏi vào cả bữa ăn học đường. Những mâm cơm tưởng như an toàn nhất - nơi trẻ em ăn uống mỗi ngày - bỗng trở thành tâm điểm của nỗi lo lắng. Phụ huynh hoang mang, nhà trường lúng túng, cơ quan quản lý khẩn trương rà soát, còn người làm chính sách thì không khỏi trăn trở.
Xem thêm
Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
Xem thêm
Trại sáng tác cần tránh hình thức, lãng phí
Nhiều năm qua, các trại sáng tác văn học nghệ thuật được tổ chức đã góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ, đồng thời cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị. Tuy nhiên, mô hình cũ đã bộc lộ những hạn chế về hiệu quả, cách tổ chức.
Xem thêm
Làm mới “chất Việt” trong trang văn trẻ thơ
Giữa “bão” giải trí số, văn học thiếu nhi Việt Nam đang âm thầm chuyển mình để không bị lãng quên. Từ việc cách tân ngôn ngữ đến mở rộng biên độ sáng tạo, mỗi trang viết hôm nay là một nỗ lực nhằm tìm lại vị thế trang trọng nhất trong thế giới tinh thần của độc giả nhỏ tuổi.
Xem thêm
Một chuyến xe, một câu nói, và chiếc gương soi vào nhân cách
Có những câu chuyện, thoạt nhìn rất nhỏ. Một chuyến xe. Một cuộc tranh cãi. Một câu nói buột miệng.
Xem thêm
Từ tâm sự của vợ chồng dịch giả tiếng Đức đến dấu ấn cổ tích của Anh Grimm
Qua thư giới thiệu của nhà văn Hồ Anh Thái, tôi đã có cuộc hẹn tại nhà riêng của hai dịch giả Đức ngữ nổi tiếng là GS.TS Günter Giesenfeld và Marianne Ngo. Thành phố Marburg của họ cách chỗ tôi ở chỉ một tiếng rưỡi tàu. Vì biết người Đức rất tôn trọng giờ giấc nên tôi đã đến sớm hơn 2 tiếng đồng hồ để vừa tránh chậm tàu, có thể vừa tranh thủ thời gian dạo quanh một trong những thành phố cổ kính và huyền bí nhất nước Đức.
Xem thêm
Vị thế của văn chương trong Công nghiệp Văn hoá Việt Nam
Đến vùng xa vùng đảo và lắng nghe ý kiến của người dân, tôi càng thấy rõ hơn, cái nghèo về đời sống tinh thần, đời sống văn hoá vẫn chưa được người dân quan tâm. Họ cần những ích lợi vật chất và gần như xa lạ với nhu cầu thụ hưởng thành quả văn học nghệ thuật.
Xem thêm
Vì sao người Việt lại đi khinh thơ của mình?
Từ một cuộc đối thoại hóm hỉnh nhưng không kém phần thẳng thắn, bài phỏng vấn của Nguyễn Văn Mạnh - Nguyễn Đình Minh đặt ra một câu hỏi khiến nhiều người làm thơ phải giật mình: Vì sao người Việt lại đi khinh thơ của mình?
Xem thêm
Đấu tranh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng
Nghị quyết số 29-NQ/TW về Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng xác định: “... Bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia-dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước...”.
Xem thêm
Nhìn lại năm 2025, ấn tượng văn hóa, và suy ngẫm văn học
Năm 2025 vừa khép lại với nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, trong đó không thể không nhắc đến những hoạt động nổi bật kỉ niệm 80 năm Quốc khánh và 50 năm non sông liền một dải. Hòa trong không khí ấy, đời sống văn hóa và văn học có những ấn tượng gì đáng suy ngẫm?
Xem thêm