TIN TỨC

Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-22 23:19:59
mail facebook google pos stwis
706 lượt xem

TRẦN NGỌC TUẤN

Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…

 

Tác giả Trần Ngọc Tuấn

 

Sách “Đại Nam liệt truyện”, bộ sách lịch sử ghi chép về gia phả triều Nguyễn, chép về Nguyễn Công Trứ như sau: “Công Trứ là người trác lạc, có tài khí, có tài làm văn, càng giỏi về quốc âm, làm ra thi ca rất nhiều, đến nay hãy còn truyền tụng. Trứ làm quan thường bị bãi cách rồi được cất nhắc lên ngay; tỏ sức ở chiến trường nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức doanh điền, sửa sang, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn. Khi tuổi già về nghỉ, tức thì bỏ qua việc đời, chơi thú sơn thủy. Sau khi Trứ mất, các huyện ấp do ông lập ra đều đựng đền để thờ”.

Tổng kết cuộc đời làm quan đầy thăng trầm của mình, Nguyễn Công Trứ khái quát trong mấy câu hát nói: “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú/ Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung/ Trong triều ai ngất ngưởng như ông” (Bài ca ngất ngưởng).

Từ lúc chào đời cho đến chết vẫn cứ… ngông!

Ngày mồng một, tháng mười một, năm Mậu Tuất (1778), Nguyễn Công Trứ chào đời. Người xưa nói “trai mồng một, gái hôm rằm” (ý nói trai, gái sinh vào ngày này thường khó nuôi và bướng bỉnh) quả không sai. Giai thoại kể lại, vừa lọt lòng mẹ, cậu bé Củng (tên húy Nguyễn Công Trứ từ nhỏ) đã tỏ ngay sự ngông bướng bằng cách không thèm khóc như những đứa trẻ sơ sinh khác. Người nhà và hàng xóm đưa hết nồi đồng, mâm thau đến khua gõ liên hồi, cậu cũng mặc. Chỉ đến khi cả đám người lớn đã mỏi rã rời thì cậu mới cất tiếng khóc oang oang như tiếng chuông đồng.

Thuở trẻ, Nguyễn Công Trứ thi hỏng nhiều lần, nhưng ông tin vào tài mình. Khi vua Minh Mạng mở khoa thi, ông làm tờ “tự tiến cử” xin vào thi và nói thẳng mình “có tài kinh bang tế thế”. Thi đỗ xong, Nguyễn Công Trứ làm quan (“không ngồi bàn giấy”) và giữ nhiều chức quan trọng, khai khẩn ruộng đất, lập nên hai huyện Tiền Hải, Thái Bình và Kim Sơn, Ninh Bình trước đây. Nhờ chính sách khuyến khích “ai khai khẩn thì được cấp đất”, chỉ vài năm đã có hàng chục ngàn mẫu ruộng mới, dân nghèo có chỗ làm ăn. Vì vậy, dân gian vẫn truyền câu ca: “Công đức ông Nguyễn Công Trứ/ Mở đất Tiền Hải, Kim Sơn muôn đời”. Và một hiện tượng hiếm có trong văn hóa tâm linh người Việt, Nguyễn Công Trứ được người dân Kim Sơn và một số nơi lập đền thờ (sinh từ) ngay khi ông đang còn sống.

Khi “nhập thế” (theo Khổng giáo) lập công lưu danh, Nguyễn Công Trứ đã để lại danh ngôn mà nhiều thế hệ học trò học làm khí tiết: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông” (Đi thi tự vịnh). Khi “xuất thế” theo Đạo giáo, thì nhìn ra “núi nọ phau phau mây trắng”,  không màng được mất “khen chê phơi phới ngọn đông phong” (Bài ca ngất ngưởng). Ngay cả khi chua chát nhìn lại đời mình, Thượng Uy Viễn vẫn là người đầy khí phách: “Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.

Năm 1858, đời vua Tự Đức năm thứ 11, thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, tấn công Đà Nẵng. Nguyễn Công Trứ khi đó đã 80 tuổi nhưng vẫn xin vua cho đi đánh giặc. Ông mất vào năm ấy. Cho tới tận khi chết, Nguyễn Công Trứ vẫn cứ ngông. Tương truyền, trước khi “tiếp tục cuộc chơi bất tuyệt ở thế giới bên kia”, Nguyễn Công Trứ đã dặn con cháu không nên bày biện tang lễ tốn kém, mà cứ để ông nằm nguyên trên chõng như khi đang ngủ, thả xuống huyệt là xong! Nhưng chắc vì lễ hiếu con cháu đã… không dám nghe theo lời.

“Tương tư - ngông” kiểu Nguyễn Công Trứ

Người mắc “bệnh tương tư” nhiều có lẽ là Nguyễn Bính, khi người ta hay nhắc đến thơ ông: “Nắng mưa là bệnh của giời/ Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Nhưng tương tư mà trở thành bệnh “kinh niên” có thể kể là Xuân Diệu. Song ít ai biết rằng, “bệnh” này đã có từ lâu đời, trong các nhà nho xưa như Tú Xương, Tản Đà, Cao Bá Quát… Có điều các nhà nho bản lĩnh và có “cốt cách hiên ngang” (chữ Hoài Thanh) hơn các nhà Thơ mới. Nguyễn Công Trứ cũng vậy, cũng rất tương tư theo cách ngông của ông. Thử đọc lại bài này: “Tương tư không biết cái làm sao/ Muốn vẽ mà chơi, vẽ được nào/ Khi đứng khi ngồi khi nói chuyện/ Lúc say lúc tỉnh lúc chiêm bao/ Trăng soi trước mặt, ngờ chân bước/ Gió thổi bên tai, ngỡ miệng chào/ Một nước một non, người một ngả/ Tương tư không biết cái làm sao” (Tương tư). Quả thật rất “hiên ngang”, hiện đại. Hoặc trong bài “Bỡn nhân tình”, ông viết: “Tau ở nhà tau, tau nhớ mi/ Nhớ mi nên phải bước chân đi/ Không đi mi nói: răng không đến?/ Đến thì mi nói: đến làm chi…”. Đây là một cách “đùa” tình, “vờn” tình thân mật như là một thú tao nhã của các nhà nho xưa.

Nguyễn Công Trứ là người đào hoa, mê hát ả đào, ông viết nhiều bài ca trù đa tình. Nếu Xuân Diệu sau này cho là “kẻ đa tình không cần đủ thịt da”, dĩ nhiên là bằng lý thuyết. Thì Nguyễn Công Trứ đa tình thực hơn, năm 73 tuổi ông cưới vợ. Khi cô dâu hỏi tuổi, ông trả lời hài hước “năm mươi năm trước, anh hai ba” (ngũ thập niên tiền, nhị thập tam).

Ngông mà không nổi loạn: “Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”

Ngông nhưng không đả phá, không nổi loạn; ngông mà chuẩn mực, giữ cốt cách “thiện căn” (chữ Nguyễn Du) là cốt lõi tư tưởng ngông của Nguyễn Công Trứ.

Giai thoại kể, khi cụ Trứ đã về hưu nhưng vẫn được nhân dân hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn nhớ ơn khẩn điền nên lập đền thờ cụ rồi rước cụ từ quê Hà Tĩnh ra chơi. Có một viên thị vệ thấy thế, bèn bịa đặt mật tâu về Kinh là cụ Trứ đang tìm cách thu phục nhân tâm, có ý mưu đồ làm phản. Nhà vua vội vàng cho triệu cụ vào Kinh để tìm cớ trừ “hậu họa”. Tuy nhiên, khi tỉnh táo suy xét lại, triều đình cũng hiểu được rằng đó chỉ là những lời đồn xằng bậy, xấu xa.

Tương truyền, lúc cụ đã vượt hàng ngàn dặm về Kinh, vua Tự Đức mời cụ vào diện kiến để cụ giãi bày tâm sự cho rõ thực hư. Nhà vua hỏi Nguyễn Công Trứ: “Ở hạt Tiền Hải và Kim Sơn dân tình làm ăn thế nào?”. Nguyễn Công Trứ tâu rằng: “Thưa bệ hạ, dân hai huyện ấy làm ăn rất là vui vẻ, ngày thì chăm lo cày cấy, tối về đập lúa ca hát, thật đúng là cảnh “muôn dân trăm họ, thái bình âu ca”. Họ thường đặt ra những câu hát đố rất là thú vị để hát đối đáp với nhau”. Vua sốt ruột hỏi: “Như những câu gì, có thể đọc cho trẫm nghe được không?”. “Tâu bệ hạ, chẳng hạn như câu này: “Đem thân cho thế gian ngồi/ Rồi ra mang tiếng con người bất trung””. Vua hỏi là cái gì, cụ Trứ đáp họ bảo đấy là cái phản. Vua Tự Đức lại hỏi còn câu gì hay nữa không. Nguyễn Công Trứ đáp còn câu này cũng hay lắm: “Ngay lòng ở với nước nhà/ Người dù không biết trời đà biết cho”. Vua lại hỏi là cái gì. “Tâu bệ hạ, họ giảng đấy là cái máng nước”, cụ Trứ đáp.

Vua Tự Đức biết ẩn ý của cụ Trứ ám chỉ việc mình bị vu oan và trách triều đình không biết xét việc minh bạch có trước có sau, nên tìm lời an ủi rồi cho cụ Trứ trở về nguyên quán ở Hà Tĩnh an nhàn.

T.N.T

Tạp chí Giáo dục TP.HCM

Bài viết liên quan

Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm