TIN TỨC

Cảm nhận thơ Nguyễn Hồng Linh qua tập Giấu nhớ vào anh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-10-11 17:15:49
mail facebook google pos stwis
3087 lượt xem

Kể từ thi hào Nguyễn Du thắp ngọn đuốc lục bát soi sáng linh hồn thi ca Việt đầy chất triết lý của đời sống nhân gian Việt tính, ngọn đuốc ấy soi đến tận ngõ ngách từ làng quê đến thị thành Việt Nam mang làn điệu dân ca. Nó đem lại cho những thi nhân hậu bối nhiều cảm hứng, từ ấy những tên tuổi trong văn chương Việt cũng cũng xuất hiện nhiều hơn với thể loại lục bát như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Bính, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Duy… Tuy ngôn ngữ thơ những thi nhân này bình dị, dân dã nhưng đã thổi hồn quê vào từng con chữ mặn mòi đầy thâm trầm của triết lý Việt tính.

Bìa tập thơ Giấu nhớ vào anh

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu Viết:

Kinh luân đã sẵn trong tay/ Thung dung dưới thế vui say trong trời

Hay:

Quán rằng ghét việc tầm phào/ Ghét cay, ghét đắng ghét vào tới tâm/ Ghét thời Kiệt, Trụ mê dâm/ Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang/ Ghét đời U, Lệ đa đoan/ Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần…

(Lục vân Tiên)

 

Nhà thơ Nguyễn Bính với ngôn ngữ thật bình dân nhưng đã đi vào tâm hồn người Việt một cách len lén, nhẹ nhàng nhưng không kém phần lịch thiệp :

Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê/ Hôm qua em đi tỉnh về hương đồng cỏ nội bay đi ít nhiều (Nguyễn Bính).

 

Hay thi sĩ Phạm Thiên Thư với Động hoa vàng hoặc Đoạn trường vô thanh ngôn ngữ thăng hoa bay bỗng hơn, thấm đẫm thiền vị trong từng câu thơ:

“Rằng xưa có gả từ quan/ Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau”

Hay “Chim ơi, chết dưới cội hoa/Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao/ Mai ta chết dưới cội đào/ Khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu”… và còn rất nhiều, biết bao thi nhân  trong vòm trời văn chương bát ngát của thi ca Việt Nam nữa, chúng ta không thể đo đếm hết sự yêu mến dòng lục bát đầy chất Việt tính này.

 

Sở dĩ tôi hơi dài dòng với dòng lục bát truyền thống của dân tộc Việt bởi nó cứ man mác đi vào lòng người ảo diệu như ca dao của dân tộc ta đã có từ rất lâu thấm đẫm trong hồn người Việt từ thuở còn nằm nôi đến lúc trưởng thành để cảm nhận được hương vị  ngọt ngào ấy. Tôi tin rằng sẽ tồn tại mãi với dân tộc và tổ quốc tôi..

Mới đây, tôi nhận bản thảo tập thơ LỤC BÁT TÌNH của Nguyễn Hồng Linh, một người Việt sinh ra ở Bình Thuận, lớn lên ở Đồng Nai và hiện đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa Liên bang Đức. Yêu thơ và làm thơ từ khi còn ngồi ghế nhà trường, nhưng vì công việc mưu sinh nên cả một thời gian dài Hồng Linh ít xuất hiện trên văn đàn. Và có lẽ khi đã ở tuổi ngoài 50 cũng là lúc cuộc sống nơi xứ người đi vào ổn định thì tình yêu thơ trong chị lại thêm lần trỗi dậy. Từ đó thơ chị bắt đầu xuất trên các báo đài và các trang mạng văn chương uy tín. Và chỉ trong vòng vài năm chị đã xuất bản liên tục 2 tập thơ và lần này là tập thơ thứ 3 chị gửi cho tôi.

Nhà thơ Nguyễn Hồng Linh

Tập thơ xuyên suốt với 80 bài lục bát chững chạc,mượt mà. Tuy chưa phải là kỳ hoa dị thảo nhưng tình tự da diết, tiếng buồn u hoài một thời đã xa còn vọng lại bên cầu thời đại. Với tôi ai xuất bản nguyên tập thơ lục bát đều bản lĩnh cả, bởi thơ lục bát là thể loại dễ làm nhưng rất khó hay, không khéo trở thành hò vè, có lẽ trước khi in tập thơ thứ 3, chính tác giả cũng cân nhắc kỹ lưỡng vấn đề này.  

Các bạn hãy nghe nhà thơ Hồng Linh diễn bày:

 

Thu chưa? Sao lá đã vàng

Khúc huyền âm cũ hoang mang giữa dòng

(Ngẫu Khúc)

Người xưa hay cố nhân ấy với nhà thơ đầy kỷ niệm sâu lắng ngọt ngào, tha thiết bất chợt vuột khỏi vòng tay mình còn lại với bao xao xuyến luyến lưu trong tâm tư hoài vọng khúc huyền âm một thời hạnh phúc lên ngôi còn đâu nữa nên mãi hoang mang giữa dòng trôi của cuộc sống, chính vì trạng thái không an lòng ấy nên mùa thu đã đến tự bao giờ nhưng tác giả thảng thốt, bất chợt hỏi “Thu Chưa?”.

Thì ra “Mật hương ngày ấy xa rồi/ áo xưa ngày đó vàng trôi lưng đồi”.

Hay: “Chiếu chăn phai lạt cuộc yêu/ người đi tỉnh giấc cô liêu…ngậm ngùi”

(Chén sầu).

 

Dấu xưa mất hút trên dòng sông đời mình, nghìn trùng cách xa đành phải chấp nhận một thực tại dù có khi cũng ray rức đến cô liêu, thương mình đứng nép bên đời buồn như cánh vạc dò dẫm trước mù sương mịt mùng. Chỉ vài câu thơ thôi nói lên tâm tư buồn đến cô đơn, người đọc rất dễ cảm thông cho thân phận nữ nhi trước biển đời trùng trùng vây quanh một bóng hồng với thao thức ngồn ngộn trong hành trình đi của tháng ngày đa gian nan.

“Vườn khuya sương khói mịt mùng/ dấu xưa còn đó nghìn trùng cách xa…

Buồn – như cánh vạc trong tôi/ cô liêu đứng đợi bóng đôi sau rèm”.

(Dấu Xưa)

Đôi lúc, bước hăm hở trên đường đầy nắng gió, nhớ lại kỷ niệm xưa một thuở, ngày vẫn có anh bên đời, cảm xúc tràn dâng, sóng tình trong lòng ngân nga chưa lỗi nhịp khi “Tóc mây buông xoã an nhiên”, hoài niệm bật dậy tác giả hồn nhiên nhớ lại những bộn bề khi có nhau, như Jean Jacques Rousseau đã từng nói: “Tình yêu chân thật tràn đầy lòng nhiệt thành, bởi trong trí tưởng tượng luôn tồn tại bóng hình hoàn mỹ dù là thực hay hư”. Và đọc những câu thơ này, lòng tôi chợt lay đọng và cảm thấy điều gì như đã vấn vương:

Chiều đông, buốt giá chiều đông

Tiếng cô đơn gọi cuối sông vọng về

Ngàn lau trắng xóa đêm mê

Bếp tình thắp sáng cho bề bộn nhau.

(Gọi miền nắng xưa)

Có lẽ tư thân tác giả cũng hiểu rằng “Tình yêu là thứ bạn không thể đo đếm. Chẳng gì tồn tại mãi mãi. Tất cả những gì ta có nằm giữa lời chào và lời tạm biệt” dẫu biết “ngàn con sóng vỗ vọng về/ vạn lời sóng hát não nề lòng đau” (Đa đoan). Giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và hư cứ bồng bềnh trong tâm hồn thi nhân làm cho người đọc có chút suy tư nỗi buồn xa cách nhưng không ủy mị, rên rỉ khổ đau. Đây thực sự là điều thú vị trong thi tập của nhà thơ nữ Nguyễn Hồng Linh.

Và khi giai điệu “nhớ” trong hồn thi nhân lại hiển hiện lại màu nhớ thương xưa, ngày ấy giai điệu tình bỗng trầm du dương theo tiếng nhạc lung linh mơ hồ, không gợn chút muộn phiền. Thời gian đi qua, còn chăng nỗi nhớ bên đời? người thơ hoài niệm với vần thơ cung trầm buồn:

Nguyệt cầm thổn thức... ngoài sân

Phím buồn vương mãi cố nhân đâu rồi?

(Cung trầm nốt bỗng)

Và nỗi ngậm ngùi thương nhớ lòng chợt thương mình với bờ vai lạnh, điểm tô son phấn chỉ là nuối tiếc bâng khuâng:

 

“Thương bờ

vai lạnh héo hon/ Còn đâu thuở ấy môi son đợi chờ”

Có một bài thể loại song thất lục bát với cung cách như khoán thủ của thể Đường luật, đây là một cách chơi rất ít người làm, bởi nó bị bó buộc trong từ ngữ định sẵn.

Bài thơ rất chuẩn mực về thể cách, mượn hai câu lục bát để hoàn thành bài thơ:

 

“Hạ về phượng nở ru tình/ Ve sầu vọng khúc hương trinh đón chờ”.

 

Tuy nhiên, bài thơ vẫn mượt mà đây là cái giỏi của người làm thơ Nguyễn Hồng Linh.

Cuối cùng ta vẫn tìm thấy: “Giấc mộng hoa” đã làm cho nhà thơ hân hoan hơn trong nỗi lòng chị, dấy lên niềm vui hưng chấn dù chỉ là giấc mộng để chị tiếp tục sáng tác những dòng thơ đẹp hơn trong hành trình còn lại với thời gian:

“Mộng vàng bay bổng trời mây

Lạc vườn thượng uyển tình say ngút ngàn

Cùng chàng dạo bước trần gian

Ngân vang thánh thoát cung đàn lãng du”

(Giấc mộng hoa)

   

Còn rất nhiều câu thơ hay trong 80 bài mà nhà thơ bày biện trong tập thơ này. Tôi nghĩ, sự cảm nhận không chỉ riêng tôi mà còn có cả độc giả của chị.

Nói tóm lại, tập thơ “Lục bát tình” của nhà thơ Nguyễn Hồng Linh như tôi nói ở trên chưa phải là kỳ hoa dị thảo nhưng sẽ ghi được dấu ấn trong lòng người đọc và nếu như chị “khó tính” hơn chút nữa với ngôn ngữ thơ mình thì tôi tin rằng chị sẽ có những câu từ đắt giá làm cho bạn đọc có lúc phải dừng lại mà suy ngẫm về thơ chị.

Tuy xuyên suốt tập thơ tương đối đạt về chất, nhưng tiếc rằng ngôn ngữ trong thơ chị còn có nhiều cụm từ khá cổ. Có lẽ do chị bị ảnh hưởng khi đọc nhiều thơ cũ và cũng chính vì ở nơi xa xôi, ít có dịp tiếp cận và giao lưu với phong trào thơ đương đại nên đó là mà chị đang bị thiệt thòi về tiếng Việt. Nhưng tôi tin rằng, trong thời gian tới, với tình yêu thơ mãnh liệt như chị thì sự sáng tạo sẽ không bao giờ ngơi nghỉ.

Hân hoan giới thiệu với độc giả yêu thơ bốn phương, nhất là người yêu thể loại lục bát thấm đẫm chất ngọt ngào, Việt tính của nhà thơ Nguyễn Hồng Linh.

Phùng Hiệu - Ngọc Dũ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm