TIN TỨC

Cảm nhận thơ Nguyễn Hồng Linh qua tập Giấu nhớ vào anh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-10-11 17:15:49
mail facebook google pos stwis
2610 lượt xem

Kể từ thi hào Nguyễn Du thắp ngọn đuốc lục bát soi sáng linh hồn thi ca Việt đầy chất triết lý của đời sống nhân gian Việt tính, ngọn đuốc ấy soi đến tận ngõ ngách từ làng quê đến thị thành Việt Nam mang làn điệu dân ca. Nó đem lại cho những thi nhân hậu bối nhiều cảm hứng, từ ấy những tên tuổi trong văn chương Việt cũng cũng xuất hiện nhiều hơn với thể loại lục bát như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Bính, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Duy… Tuy ngôn ngữ thơ những thi nhân này bình dị, dân dã nhưng đã thổi hồn quê vào từng con chữ mặn mòi đầy thâm trầm của triết lý Việt tính.

Bìa tập thơ Giấu nhớ vào anh

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu Viết:

Kinh luân đã sẵn trong tay/ Thung dung dưới thế vui say trong trời

Hay:

Quán rằng ghét việc tầm phào/ Ghét cay, ghét đắng ghét vào tới tâm/ Ghét thời Kiệt, Trụ mê dâm/ Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang/ Ghét đời U, Lệ đa đoan/ Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần…

(Lục vân Tiên)

 

Nhà thơ Nguyễn Bính với ngôn ngữ thật bình dân nhưng đã đi vào tâm hồn người Việt một cách len lén, nhẹ nhàng nhưng không kém phần lịch thiệp :

Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê/ Hôm qua em đi tỉnh về hương đồng cỏ nội bay đi ít nhiều (Nguyễn Bính).

 

Hay thi sĩ Phạm Thiên Thư với Động hoa vàng hoặc Đoạn trường vô thanh ngôn ngữ thăng hoa bay bỗng hơn, thấm đẫm thiền vị trong từng câu thơ:

“Rằng xưa có gả từ quan/ Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau”

Hay “Chim ơi, chết dưới cội hoa/Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao/ Mai ta chết dưới cội đào/ Khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu”… và còn rất nhiều, biết bao thi nhân  trong vòm trời văn chương bát ngát của thi ca Việt Nam nữa, chúng ta không thể đo đếm hết sự yêu mến dòng lục bát đầy chất Việt tính này.

 

Sở dĩ tôi hơi dài dòng với dòng lục bát truyền thống của dân tộc Việt bởi nó cứ man mác đi vào lòng người ảo diệu như ca dao của dân tộc ta đã có từ rất lâu thấm đẫm trong hồn người Việt từ thuở còn nằm nôi đến lúc trưởng thành để cảm nhận được hương vị  ngọt ngào ấy. Tôi tin rằng sẽ tồn tại mãi với dân tộc và tổ quốc tôi..

Mới đây, tôi nhận bản thảo tập thơ LỤC BÁT TÌNH của Nguyễn Hồng Linh, một người Việt sinh ra ở Bình Thuận, lớn lên ở Đồng Nai và hiện đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa Liên bang Đức. Yêu thơ và làm thơ từ khi còn ngồi ghế nhà trường, nhưng vì công việc mưu sinh nên cả một thời gian dài Hồng Linh ít xuất hiện trên văn đàn. Và có lẽ khi đã ở tuổi ngoài 50 cũng là lúc cuộc sống nơi xứ người đi vào ổn định thì tình yêu thơ trong chị lại thêm lần trỗi dậy. Từ đó thơ chị bắt đầu xuất trên các báo đài và các trang mạng văn chương uy tín. Và chỉ trong vòng vài năm chị đã xuất bản liên tục 2 tập thơ và lần này là tập thơ thứ 3 chị gửi cho tôi.

Nhà thơ Nguyễn Hồng Linh

Tập thơ xuyên suốt với 80 bài lục bát chững chạc,mượt mà. Tuy chưa phải là kỳ hoa dị thảo nhưng tình tự da diết, tiếng buồn u hoài một thời đã xa còn vọng lại bên cầu thời đại. Với tôi ai xuất bản nguyên tập thơ lục bát đều bản lĩnh cả, bởi thơ lục bát là thể loại dễ làm nhưng rất khó hay, không khéo trở thành hò vè, có lẽ trước khi in tập thơ thứ 3, chính tác giả cũng cân nhắc kỹ lưỡng vấn đề này.  

Các bạn hãy nghe nhà thơ Hồng Linh diễn bày:

 

Thu chưa? Sao lá đã vàng

Khúc huyền âm cũ hoang mang giữa dòng

(Ngẫu Khúc)

Người xưa hay cố nhân ấy với nhà thơ đầy kỷ niệm sâu lắng ngọt ngào, tha thiết bất chợt vuột khỏi vòng tay mình còn lại với bao xao xuyến luyến lưu trong tâm tư hoài vọng khúc huyền âm một thời hạnh phúc lên ngôi còn đâu nữa nên mãi hoang mang giữa dòng trôi của cuộc sống, chính vì trạng thái không an lòng ấy nên mùa thu đã đến tự bao giờ nhưng tác giả thảng thốt, bất chợt hỏi “Thu Chưa?”.

Thì ra “Mật hương ngày ấy xa rồi/ áo xưa ngày đó vàng trôi lưng đồi”.

Hay: “Chiếu chăn phai lạt cuộc yêu/ người đi tỉnh giấc cô liêu…ngậm ngùi”

(Chén sầu).

 

Dấu xưa mất hút trên dòng sông đời mình, nghìn trùng cách xa đành phải chấp nhận một thực tại dù có khi cũng ray rức đến cô liêu, thương mình đứng nép bên đời buồn như cánh vạc dò dẫm trước mù sương mịt mùng. Chỉ vài câu thơ thôi nói lên tâm tư buồn đến cô đơn, người đọc rất dễ cảm thông cho thân phận nữ nhi trước biển đời trùng trùng vây quanh một bóng hồng với thao thức ngồn ngộn trong hành trình đi của tháng ngày đa gian nan.

“Vườn khuya sương khói mịt mùng/ dấu xưa còn đó nghìn trùng cách xa…

Buồn – như cánh vạc trong tôi/ cô liêu đứng đợi bóng đôi sau rèm”.

(Dấu Xưa)

Đôi lúc, bước hăm hở trên đường đầy nắng gió, nhớ lại kỷ niệm xưa một thuở, ngày vẫn có anh bên đời, cảm xúc tràn dâng, sóng tình trong lòng ngân nga chưa lỗi nhịp khi “Tóc mây buông xoã an nhiên”, hoài niệm bật dậy tác giả hồn nhiên nhớ lại những bộn bề khi có nhau, như Jean Jacques Rousseau đã từng nói: “Tình yêu chân thật tràn đầy lòng nhiệt thành, bởi trong trí tưởng tượng luôn tồn tại bóng hình hoàn mỹ dù là thực hay hư”. Và đọc những câu thơ này, lòng tôi chợt lay đọng và cảm thấy điều gì như đã vấn vương:

Chiều đông, buốt giá chiều đông

Tiếng cô đơn gọi cuối sông vọng về

Ngàn lau trắng xóa đêm mê

Bếp tình thắp sáng cho bề bộn nhau.

(Gọi miền nắng xưa)

Có lẽ tư thân tác giả cũng hiểu rằng “Tình yêu là thứ bạn không thể đo đếm. Chẳng gì tồn tại mãi mãi. Tất cả những gì ta có nằm giữa lời chào và lời tạm biệt” dẫu biết “ngàn con sóng vỗ vọng về/ vạn lời sóng hát não nề lòng đau” (Đa đoan). Giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và hư cứ bồng bềnh trong tâm hồn thi nhân làm cho người đọc có chút suy tư nỗi buồn xa cách nhưng không ủy mị, rên rỉ khổ đau. Đây thực sự là điều thú vị trong thi tập của nhà thơ nữ Nguyễn Hồng Linh.

Và khi giai điệu “nhớ” trong hồn thi nhân lại hiển hiện lại màu nhớ thương xưa, ngày ấy giai điệu tình bỗng trầm du dương theo tiếng nhạc lung linh mơ hồ, không gợn chút muộn phiền. Thời gian đi qua, còn chăng nỗi nhớ bên đời? người thơ hoài niệm với vần thơ cung trầm buồn:

Nguyệt cầm thổn thức... ngoài sân

Phím buồn vương mãi cố nhân đâu rồi?

(Cung trầm nốt bỗng)

Và nỗi ngậm ngùi thương nhớ lòng chợt thương mình với bờ vai lạnh, điểm tô son phấn chỉ là nuối tiếc bâng khuâng:

 

“Thương bờ

vai lạnh héo hon/ Còn đâu thuở ấy môi son đợi chờ”

Có một bài thể loại song thất lục bát với cung cách như khoán thủ của thể Đường luật, đây là một cách chơi rất ít người làm, bởi nó bị bó buộc trong từ ngữ định sẵn.

Bài thơ rất chuẩn mực về thể cách, mượn hai câu lục bát để hoàn thành bài thơ:

 

“Hạ về phượng nở ru tình/ Ve sầu vọng khúc hương trinh đón chờ”.

 

Tuy nhiên, bài thơ vẫn mượt mà đây là cái giỏi của người làm thơ Nguyễn Hồng Linh.

Cuối cùng ta vẫn tìm thấy: “Giấc mộng hoa” đã làm cho nhà thơ hân hoan hơn trong nỗi lòng chị, dấy lên niềm vui hưng chấn dù chỉ là giấc mộng để chị tiếp tục sáng tác những dòng thơ đẹp hơn trong hành trình còn lại với thời gian:

Mộng vàng bay bổng trời mây

Lạc vườn thượng uyển tình say ngút ngàn

Cùng chàng dạo bước trần gian

Ngân vang thánh thoát cung đàn lãng du

(Giấc mộng hoa)

   

Còn rất nhiều câu thơ hay trong 80 bài mà nhà thơ bày biện trong tập thơ này. Tôi nghĩ, sự cảm nhận không chỉ riêng tôi mà còn có cả độc giả của chị.

Nói tóm lại, tập thơ “Lục bát tình” của nhà thơ Nguyễn Hồng Linh như tôi nói ở trên chưa phải là kỳ hoa dị thảo nhưng sẽ ghi được dấu ấn trong lòng người đọc và nếu như chị “khó tính” hơn chút nữa với ngôn ngữ thơ mình thì tôi tin rằng chị sẽ có những câu từ đắt giá làm cho bạn đọc có lúc phải dừng lại mà suy ngẫm về thơ chị.

Tuy xuyên suốt tập thơ tương đối đạt về chất, nhưng tiếc rằng ngôn ngữ trong thơ chị còn có nhiều cụm từ khá cổ. Có lẽ do chị bị ảnh hưởng khi đọc nhiều thơ cũ và cũng chính vì ở nơi xa xôi, ít có dịp tiếp cận và giao lưu với phong trào thơ đương đại nên đó là mà chị đang bị thiệt thòi về tiếng Việt. Nhưng tôi tin rằng, trong thời gian tới, với tình yêu thơ mãnh liệt như chị thì sự sáng tạo sẽ không bao giờ ngơi nghỉ.

Hân hoan giới thiệu với độc giả yêu thơ bốn phương, nhất là người yêu thể loại lục bát thấm đẫm chất ngọt ngào, Việt tính của nhà thơ Nguyễn Hồng Linh.

Phùng Hiệu - Ngọc Dũ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm