TIN TỨC

Cảm nhận thơ Nguyễn Hồng Linh qua tập Giấu nhớ vào anh

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-10-11 17:15:49
mail facebook google pos stwis
2961 lượt xem

Kể từ thi hào Nguyễn Du thắp ngọn đuốc lục bát soi sáng linh hồn thi ca Việt đầy chất triết lý của đời sống nhân gian Việt tính, ngọn đuốc ấy soi đến tận ngõ ngách từ làng quê đến thị thành Việt Nam mang làn điệu dân ca. Nó đem lại cho những thi nhân hậu bối nhiều cảm hứng, từ ấy những tên tuổi trong văn chương Việt cũng cũng xuất hiện nhiều hơn với thể loại lục bát như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Bính, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Duy… Tuy ngôn ngữ thơ những thi nhân này bình dị, dân dã nhưng đã thổi hồn quê vào từng con chữ mặn mòi đầy thâm trầm của triết lý Việt tính.

Bìa tập thơ Giấu nhớ vào anh

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu Viết:

Kinh luân đã sẵn trong tay/ Thung dung dưới thế vui say trong trời

Hay:

Quán rằng ghét việc tầm phào/ Ghét cay, ghét đắng ghét vào tới tâm/ Ghét thời Kiệt, Trụ mê dâm/ Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang/ Ghét đời U, Lệ đa đoan/ Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần…

(Lục vân Tiên)

 

Nhà thơ Nguyễn Bính với ngôn ngữ thật bình dân nhưng đã đi vào tâm hồn người Việt một cách len lén, nhẹ nhàng nhưng không kém phần lịch thiệp :

Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê/ Hôm qua em đi tỉnh về hương đồng cỏ nội bay đi ít nhiều (Nguyễn Bính).

 

Hay thi sĩ Phạm Thiên Thư với Động hoa vàng hoặc Đoạn trường vô thanh ngôn ngữ thăng hoa bay bỗng hơn, thấm đẫm thiền vị trong từng câu thơ:

“Rằng xưa có gả từ quan/ Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau”

Hay “Chim ơi, chết dưới cội hoa/Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao/ Mai ta chết dưới cội đào/ Khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu”… và còn rất nhiều, biết bao thi nhân  trong vòm trời văn chương bát ngát của thi ca Việt Nam nữa, chúng ta không thể đo đếm hết sự yêu mến dòng lục bát đầy chất Việt tính này.

 

Sở dĩ tôi hơi dài dòng với dòng lục bát truyền thống của dân tộc Việt bởi nó cứ man mác đi vào lòng người ảo diệu như ca dao của dân tộc ta đã có từ rất lâu thấm đẫm trong hồn người Việt từ thuở còn nằm nôi đến lúc trưởng thành để cảm nhận được hương vị  ngọt ngào ấy. Tôi tin rằng sẽ tồn tại mãi với dân tộc và tổ quốc tôi..

Mới đây, tôi nhận bản thảo tập thơ LỤC BÁT TÌNH của Nguyễn Hồng Linh, một người Việt sinh ra ở Bình Thuận, lớn lên ở Đồng Nai và hiện đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa Liên bang Đức. Yêu thơ và làm thơ từ khi còn ngồi ghế nhà trường, nhưng vì công việc mưu sinh nên cả một thời gian dài Hồng Linh ít xuất hiện trên văn đàn. Và có lẽ khi đã ở tuổi ngoài 50 cũng là lúc cuộc sống nơi xứ người đi vào ổn định thì tình yêu thơ trong chị lại thêm lần trỗi dậy. Từ đó thơ chị bắt đầu xuất trên các báo đài và các trang mạng văn chương uy tín. Và chỉ trong vòng vài năm chị đã xuất bản liên tục 2 tập thơ và lần này là tập thơ thứ 3 chị gửi cho tôi.

Nhà thơ Nguyễn Hồng Linh

Tập thơ xuyên suốt với 80 bài lục bát chững chạc,mượt mà. Tuy chưa phải là kỳ hoa dị thảo nhưng tình tự da diết, tiếng buồn u hoài một thời đã xa còn vọng lại bên cầu thời đại. Với tôi ai xuất bản nguyên tập thơ lục bát đều bản lĩnh cả, bởi thơ lục bát là thể loại dễ làm nhưng rất khó hay, không khéo trở thành hò vè, có lẽ trước khi in tập thơ thứ 3, chính tác giả cũng cân nhắc kỹ lưỡng vấn đề này.  

Các bạn hãy nghe nhà thơ Hồng Linh diễn bày:

 

Thu chưa? Sao lá đã vàng

Khúc huyền âm cũ hoang mang giữa dòng

(Ngẫu Khúc)

Người xưa hay cố nhân ấy với nhà thơ đầy kỷ niệm sâu lắng ngọt ngào, tha thiết bất chợt vuột khỏi vòng tay mình còn lại với bao xao xuyến luyến lưu trong tâm tư hoài vọng khúc huyền âm một thời hạnh phúc lên ngôi còn đâu nữa nên mãi hoang mang giữa dòng trôi của cuộc sống, chính vì trạng thái không an lòng ấy nên mùa thu đã đến tự bao giờ nhưng tác giả thảng thốt, bất chợt hỏi “Thu Chưa?”.

Thì ra “Mật hương ngày ấy xa rồi/ áo xưa ngày đó vàng trôi lưng đồi”.

Hay: “Chiếu chăn phai lạt cuộc yêu/ người đi tỉnh giấc cô liêu…ngậm ngùi”

(Chén sầu).

 

Dấu xưa mất hút trên dòng sông đời mình, nghìn trùng cách xa đành phải chấp nhận một thực tại dù có khi cũng ray rức đến cô liêu, thương mình đứng nép bên đời buồn như cánh vạc dò dẫm trước mù sương mịt mùng. Chỉ vài câu thơ thôi nói lên tâm tư buồn đến cô đơn, người đọc rất dễ cảm thông cho thân phận nữ nhi trước biển đời trùng trùng vây quanh một bóng hồng với thao thức ngồn ngộn trong hành trình đi của tháng ngày đa gian nan.

“Vườn khuya sương khói mịt mùng/ dấu xưa còn đó nghìn trùng cách xa…

Buồn – như cánh vạc trong tôi/ cô liêu đứng đợi bóng đôi sau rèm”.

(Dấu Xưa)

Đôi lúc, bước hăm hở trên đường đầy nắng gió, nhớ lại kỷ niệm xưa một thuở, ngày vẫn có anh bên đời, cảm xúc tràn dâng, sóng tình trong lòng ngân nga chưa lỗi nhịp khi “Tóc mây buông xoã an nhiên”, hoài niệm bật dậy tác giả hồn nhiên nhớ lại những bộn bề khi có nhau, như Jean Jacques Rousseau đã từng nói: “Tình yêu chân thật tràn đầy lòng nhiệt thành, bởi trong trí tưởng tượng luôn tồn tại bóng hình hoàn mỹ dù là thực hay hư”. Và đọc những câu thơ này, lòng tôi chợt lay đọng và cảm thấy điều gì như đã vấn vương:

Chiều đông, buốt giá chiều đông

Tiếng cô đơn gọi cuối sông vọng về

Ngàn lau trắng xóa đêm mê

Bếp tình thắp sáng cho bề bộn nhau.

(Gọi miền nắng xưa)

Có lẽ tư thân tác giả cũng hiểu rằng “Tình yêu là thứ bạn không thể đo đếm. Chẳng gì tồn tại mãi mãi. Tất cả những gì ta có nằm giữa lời chào và lời tạm biệt” dẫu biết “ngàn con sóng vỗ vọng về/ vạn lời sóng hát não nề lòng đau” (Đa đoan). Giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và hư cứ bồng bềnh trong tâm hồn thi nhân làm cho người đọc có chút suy tư nỗi buồn xa cách nhưng không ủy mị, rên rỉ khổ đau. Đây thực sự là điều thú vị trong thi tập của nhà thơ nữ Nguyễn Hồng Linh.

Và khi giai điệu “nhớ” trong hồn thi nhân lại hiển hiện lại màu nhớ thương xưa, ngày ấy giai điệu tình bỗng trầm du dương theo tiếng nhạc lung linh mơ hồ, không gợn chút muộn phiền. Thời gian đi qua, còn chăng nỗi nhớ bên đời? người thơ hoài niệm với vần thơ cung trầm buồn:

Nguyệt cầm thổn thức... ngoài sân

Phím buồn vương mãi cố nhân đâu rồi?

(Cung trầm nốt bỗng)

Và nỗi ngậm ngùi thương nhớ lòng chợt thương mình với bờ vai lạnh, điểm tô son phấn chỉ là nuối tiếc bâng khuâng:

 

“Thương bờ

vai lạnh héo hon/ Còn đâu thuở ấy môi son đợi chờ”

Có một bài thể loại song thất lục bát với cung cách như khoán thủ của thể Đường luật, đây là một cách chơi rất ít người làm, bởi nó bị bó buộc trong từ ngữ định sẵn.

Bài thơ rất chuẩn mực về thể cách, mượn hai câu lục bát để hoàn thành bài thơ:

 

“Hạ về phượng nở ru tình/ Ve sầu vọng khúc hương trinh đón chờ”.

 

Tuy nhiên, bài thơ vẫn mượt mà đây là cái giỏi của người làm thơ Nguyễn Hồng Linh.

Cuối cùng ta vẫn tìm thấy: “Giấc mộng hoa” đã làm cho nhà thơ hân hoan hơn trong nỗi lòng chị, dấy lên niềm vui hưng chấn dù chỉ là giấc mộng để chị tiếp tục sáng tác những dòng thơ đẹp hơn trong hành trình còn lại với thời gian:

Mộng vàng bay bổng trời mây

Lạc vườn thượng uyển tình say ngút ngàn

Cùng chàng dạo bước trần gian

Ngân vang thánh thoát cung đàn lãng du

(Giấc mộng hoa)

   

Còn rất nhiều câu thơ hay trong 80 bài mà nhà thơ bày biện trong tập thơ này. Tôi nghĩ, sự cảm nhận không chỉ riêng tôi mà còn có cả độc giả của chị.

Nói tóm lại, tập thơ “Lục bát tình” của nhà thơ Nguyễn Hồng Linh như tôi nói ở trên chưa phải là kỳ hoa dị thảo nhưng sẽ ghi được dấu ấn trong lòng người đọc và nếu như chị “khó tính” hơn chút nữa với ngôn ngữ thơ mình thì tôi tin rằng chị sẽ có những câu từ đắt giá làm cho bạn đọc có lúc phải dừng lại mà suy ngẫm về thơ chị.

Tuy xuyên suốt tập thơ tương đối đạt về chất, nhưng tiếc rằng ngôn ngữ trong thơ chị còn có nhiều cụm từ khá cổ. Có lẽ do chị bị ảnh hưởng khi đọc nhiều thơ cũ và cũng chính vì ở nơi xa xôi, ít có dịp tiếp cận và giao lưu với phong trào thơ đương đại nên đó là mà chị đang bị thiệt thòi về tiếng Việt. Nhưng tôi tin rằng, trong thời gian tới, với tình yêu thơ mãnh liệt như chị thì sự sáng tạo sẽ không bao giờ ngơi nghỉ.

Hân hoan giới thiệu với độc giả yêu thơ bốn phương, nhất là người yêu thể loại lục bát thấm đẫm chất ngọt ngào, Việt tính của nhà thơ Nguyễn Hồng Linh.

Phùng Hiệu - Ngọc Dũ

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm