TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Chất lý trí sắc sảo, chất tâm hồn đậm đà trong các tác phẩm báo chí của một Nhà báo, Luật gia

Chất lý trí sắc sảo, chất tâm hồn đậm đà trong các tác phẩm báo chí của một Nhà báo, Luật gia

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-06-13 08:57:43
mail facebook google pos stwis
2194 lượt xem

Th.S. nhà thơ NGUYỄN ĐÌNH MINH

Luật gia, nhà báo Nguyễn Văn Mạnh đã  gắn cả đời mình với làm báo viết, đi qua các thời kỳ bao cấp rồi đổi mới… Chịu áp lực của hoàn cảnh riêng và chung của những quy phạm nghề làm báo ngặt nghèo, nhưng Nguyễn Văn Mạnh đã vượt mình, anh không chỉ dừng ở vai trò như một phóng viên viết tin bài đơn thuần; ngược lại anh đã tạo lập nên không ít tác phẩm phóng sự và bút ký báo chí ấn tượng, nó có đặc điểm khá gần với bút ký văn học; và khi đọc nó lên hình ảnh chân dung cuộc sống, con người dưới ngòi bút của tác giả được tái hiện sinh động gắn với những tư tưởng mà tác giả muốn phản ánh.

Nguyễn Văn Mạnh viết gì?

Tiếp cận với các bài viết của anh từ vài chục năm nay và những bài gom lại trong tập sách “Theo dấu chân cuộc sống” Có thể nhận diện ngay một chủ đề quan trọng mang phẩm chất của một nhà báo đầy năng lực, đó là phản ánh những sự thật trần trụi của cuộc sống bằng cách riêng khá rõ. Điểm nhìn khám phá của tác giả rất chọn lọc, anh không tham đề tài mà luôn trọng việc chọn lọc khai thác đề tài để tạo dựng một mảng hiện thực nóng bỏng hoặc khuất lấp và gửi vào đó một thông điệp cuộc sống. Nó có thể là cuộc chiến cam go của các lực lượng chức năng với hoạt động buôn lậu “Nóng bỏng “Cuộc chiến thuốc lá lậu”; có lúc anh đồng hành lặng lẽ cùng ngòi bút để soi tìm và phơi bày cả sự thật ẩn núp trong cái “Thiên đường cờ bạc”… để rồi khi vấn đề vỡ ra người đọc thấy được những hiểm nguy, sự dũng cảm của các lực lượng chức năng đối mặt với nạn buôn lậu. Đồng thời, dựng được cả một thế giới ăn chơi sa đọa với thói lọc lừa, xảo trá… như những chiếc “bẫy mật” tha hóa nhiều nhân phẩm và nhấn chìm nhiều số phận. Cũng với “vỉa” đề tài này, nhiều lúc dường như thấy tác giả nghiêm lạnh phân tích những hiện tượng đời sống để tìm ra cái căn nguyên vì sao việc quy hoạch khu dân cứ Rạch Miếu ở quận Phú Nhuận thành phố Hồ Chí Minh không được ủng hộ từ lòng dân. Có lúc, anh chia sẻ thương cảm nhưng cũng rất sáng rõ trong thông điệp cảnh báo cách tìm con đường sống bất hợp pháp khi viết về số phận người Việt trong trại thu dung lao động bất hợp pháp người nước ngoài ở Đài Loan. Cũng với cách thức thâm nhập vào đời sống như vậy, tác giả khi thì hòa vào cơn “sốt chung cư cũ”, khi lại nhẩn nha tìm chuyện bên lề sân quần vợt hay soi tìm góc tối các vũ trường để tố lên cái hiện thực bi hài của một bộ phận người trong xã hội với cách làm ăn luồn lách, mập mờ… thời kinh tế thị trường đang góp phần làm băng hoại nền văn hóa dân tộc và chính họ cùng nhân viên của mình trong ấy cũng tự chuốc lấy những thảm cảnh bi kịch…

Số lượng những bài viết về mảng đề tài này ở Nguyễn văn Mạnh rất lớn và khó thống kê hết số bài anh viết vì anh là nhà báo và sứ mệnh anh được trao chính là viết về sự thật này. Khái lược một vài ý như vậy để thấy được sự nhạy cảm tinh tế cũng như cái “dũng” của một nhà báo như anh bằng tài năng nghiệp vụ đã dám đến với hiện thực, nói tiếng nói hiện thực bằng lương tâm và chính kiến của mình.

Điều trân quý là ngòi bút của Nguyễn văn Mạnh là khi dùng ngòi bút phản ánh sự thật thì anh dành trọng số cho việc viết những nội dung về thân phận con người. Ta cảm nhận thấy tác giả luôn đứng về “phe nước mắt” để bênh vực người yếu thế và chống lại bất công, cái ác, thói gian tham… Ở đây có thể nói đến chùm bài viết về thân phận những cô gái Việt lấy chồng Đài Loan hay Hàn Quốc: “ Chuyện đời cô dâu Việt ở xứ Đài”,“ Những điều trông thấy ở trại thu dung Tam Hiệp – Đài Loan”... Ở những phóng sự này, ngòi bút sắc sảo của anh tái hiện được những số phận bi đát của nhiều cô dâu lấy chống ngoại quốc, nhưng đổ vỡ trong tâm hồn họ khi sống trong sự thật đầy bi kịch nơi miền đất hứa mà họ mộng ảo về nó một thời. Ngay trên đất Việt, khi mà mặt trái của cơ chế thị trường tác động nhiều số phận cũng nổi nênh bi đát. Những bút ký của tác giả có dấu ấn gần gũi như những câu chuyện kể mà khi đọc và ngẫm thấy xót lòng: “Vất vưởng thợ may công nghiệp”, “Nài ngựa, sinh nghề tử nghiệp”, “Thương lắm tóc dài ơi”… Những bức chân dung về con người thời mở cửa cũng được phản ánh sinh động ( Ông “vua” khoai mì, “Nữ chúa” đảo hoang, Săn hung thần biển cả) hay “Người gieo chữ ở Trường sa”… Họ là những con người vượt khó, dũng cảm trong lao động, trong đấu tranh với tự nhiên nhưng hào hiệp, nghĩa khí, trái tim tràn ngập yêu thương, họ sống vì mình đồng thời vì đồng loại vì xã hội. Câu chuyện về họ được thuật, kể bằng ngôn ngữ đại chúng nhưng lại khá giàu màu sắc văn chương.

Nguyễn Văn Mạnh, đi nhiều viết nhiều, trong số những sản phẩm báo chí anh gom lại được có một mảng đề tài về quê hương, đất nước, bè bạn… Đọc những bài này, cái sắc lạnh phê phán, những hiện thực trần trụi của đời sống dường như mờ chìm đi khá nhiều thay vào đó là những trang viết đằm thắm yêu thương. Có lẽ đây cũng là một khía cạnh khác góp phần tạo nên giọng điệu đa thanh trong phong cách viết của anh. Hình ảnh quê hương làng xóm (Về lại quê hương), tình cố nhân với nhiều vui buồn hoài niệm (Bạn học ngày ấy – bây giờ). Trong nhiều trạng huống khác anh đắm mình với cảnh sắc thiên nhiên hay thăng hoa với âm thanh rộn rã của cuộc sống (Một thoáng Sa Pa), có lúc chùng xuống nao lòng đầy tâm sự với nỗi niềm con người giữ khoảng không gian thời gian điển hình cho tâm trạng nhớ thương (Bất ngờ chiều giáp tết)… Trong trường khúc viết về quê hương đất nước ấy có những bài báo ấn tượng và mang tầm tư tưởng chiến đấu cao, dù sự kiện trong bài không nhiều ví như “Trường sa”; ở đây thông qua tường thuật một cảnh sinh hoạt của các chiến sỹ trên biển, nhưng giữa trùng khơi lại gợi lên những  xúc cảm xót thương căm giận bọn xâm lược… nhưng cũng rất đỗi tự hào về những người đồng chí đã quyết tử khẳng định chủ quyền dân tộc năm nào…

Những tác phẩm báo chí của anh viết theo hướng này rất gần gũi với văn học, chất văn khá rõ, bởi vậy người ta có thể nhìn thấy từ các con chữ tiếng vọng tâm hồn của một nhà báo.

Đọc tập sách của anh ta dễ hình dung ra con người Nguyễn Văn Mạnh,  anh hăm hở đi, hăm hở viết với dấu ấn nhiều vùng miền đất nước và nước ngoài. Hình như mỗi địa danh anh đến đều có một tác phẩm. Từ quê cha đất tổ của anh, đến Trường Sa, Tây Bắc, Tây Nguyên đến các nước Lào, Thái Lan, Singapo… Cái khác biệt trong những tác phẩm báo chí này của Nguyễn Văn Mạnh nó biểu hiện ở chỗ không chỉ dừng ở bên ngoài như sự miêu tả phản ánh đơn thuần, nó có chiều sâu không gian nhiều lớp và có cả những vùng tối cũng lộ diện trước ánh sáng khám phá của ngòi bút. Có thể minh chứng điều này qua các tác phẩm “ Thâm nhập thiên đường cờ bạc”,  “Góc khuất đêm Sài Gòn”, “ Xóm vé số”…

Sứ mệnh của anh nhà báo là dùng đủ mọi thứ giác quan để chứng kiến sự thật và rồi dùng kỹ thuật, kỹ năng cả cảm xúc nữa và bằng ngôn từ để hình thành một bức “chân dung cuộc sống” thật sống động mà độ trung thực lại phải cao. Cái khó của người làm báo chính là ở chỗ không được hư cấu, câu từ dùng phải giảm thiểu tối đa lớp nghĩa văn chương; ngôn ngữ cơ bản của một tác phẩm báo chí mà nhà báo sử dụng là ngôn ngữ phổ thông, trong sáng, hầu hết chỉ mang một lớp nghĩa cho tất cả người đọc ở mọi trình độ đều nhận biết được. Đứng trước áp lực về tính tư tưởng và phong cách báo chí mang tính quy ước như một mặc định, Nguyễn Văn Mạnh đã khéo léo hòa hợp được chất báo chí với chất văn chương làm cho bài báo của anh đọc lên không phải khô khan sắc lạnh mà từ đó còn thấm đẫm chất tình…

Trong cuốn sách này có lẽ Nguyễn Văn Mạnh muốn gom lại vốn gia tài báo chí của mình với những bài viết mà anh tâm đắc đã được in trên rất nhiều báo chí: Bảo vệ pháp luật, Văn hóa doanh nghiệp, Quân khu Bảy, Sài Gòn giải phóng, Nhân đạo & Đời sống, Tác phẩm mới, Giáo dục & Đời sống…tất nhiên có rất nhiều bài báo anh không thể lưu giữ được vì thời gian đi và viết của anh dài tới mấy chục năm, đặc biệt những bài anh viết ở thời kỳ công nghệ số còn chưa xuất hiện. Mặc dầu vậy với vốn gia tài hiển thị trong cuốn sách này ta cũng đủ thấy được chân dung một nhà báo có tâm có tầm luôn hướng ngòi bút của mình cho cái thiện cái đẹp, cho nhân dân, đất nước và vì sự tiến bộ.

N.Đ.M

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm