TIN TỨC

Có một người thương binh như thế

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-07-26 09:10:25
mail facebook google pos stwis
1163 lượt xem

NGUYÊN ANH

Anh, một người lính xuất thân từ một vùng quê nghèo miền Trung gió lào, cát trắng. Từ giã tuổi học trò khi đang học dở Lớp chín, trốn cha và nhờ bạn khám tuyển thay, Anh xung phong nhập ngũ khi vừa tròn 16 tuổi, ra đi mang theo nhiệt huyết của lớp trẻ Việt Nam trong những năm đánh Mỹ:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai

Anh từng là người lính trinh sát rồi đặc công dũng cảm, đầy mưu trí có mặt trên các chiến trường Nam Lào, Quảng Trị Thừa Thiên Huế trong những năm chống Mỹ cam go, ác liệt nhất từ năm 1964 - 1971. Với trí nhớ đặc biệt và sự thông minh trời phú cùng với tính gan góc của người dân xứ Nghệ, Anh đã nhanh chóng trưởng thành trong chiến trận, có vai trò quyết định khi chỉ huy nhiều trận đánh trên chiến trường Trị Thiên. Cũng như bao người lính cùng thời, Anh đã nếm trải những gian khổ, hiểm nguy nơi chiến trường khốc liệt, từng vào ra sinh tử chiến đấu cùng với đồng đội.


Trung tướng, nhà văn Nguyễn Mạnh Đẩu.

Anh, một người lính đã từng viết Di Chúc trong những ngày cam go ác liệt nhất, khi vừa tròn hai mươi tuổi để gửi Cha mình như một lời hứa danh dự kế thừa truyền thống gia đình, dòng họ: Sống hết mình vì Tổ quốc, quê hương. Anh đã sống và chiến đấu đúng như lý tưởng của mình, những trận địa trinh sát gay go nhất Anh đều có mặt, những trận đánh ác liệt nhất Anh đều tham gia trong vai trò vừa chỉ huy, vừa chiến đấu. Hòn tên mũi đạn chẳng chừa ai. Sau bảy năm chiến đấu, năm 1971, Anh bị thương nặng trong một trận chiến đấu ở chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Một viên đạn của kẻ thù đã chui sâu vào lá phổi của Anh. Do bị mất máu nhiều và vết thương quá nặng, tưởng chừng không qua khỏi, anh đã nói lời trăng trối cùng đồng đội, nói lời chào từ biệt mọi người. Với tia hi vọng hết sức mong manh, đồng đội đã chuyển Anh về tuyến sau cứu chữa. Sau nhiều tháng vật lộn với tử thần, Anh đã được hồi sinh nhờ sự tận tâm của các y, bác sỹ quân y, và có lẽ cũng nhờ sự che chở của Tổ tiên linh thiêng hướng tới người con ưu tú của dòng họ Nguyễn Đình. Anh được chuyển về Quân y viện 108 với một cơ thể suy nhược, gầy gò, nặng chỉ còn 36 kg, và không thể tự phục vụ được mình, cùng với viên đạn nằm vĩnh viễn trong cơ thể. Tỷ lệ thương tật của Anh lên tới 63% ( sau này cộng thêm 35% nhiễm chất độc da cam ). Tính ra, Anh đã để lại nơi chiến trường phần lớn sức khỏe của mình. Anh trở thành một thương binh! Hồi đó, Anh có thể được giải ngũ trở về quê hương như bao nhiêu người thương binh khác. Thế nhưng, Anh vẫn muốn được tiếp tục theo đuổi con đường binh nghiệp mà Anh đã lựa chọn. Phải chăng, đây là số phận của Anh? Anh đã chọn binh nghiệp hay binh nghiệp lựa chọn Anh - một con người TRÍ DŨNG SONG TOÀN.

Rời chiến trường, Anh được điều về công tác ở Cục Chính sách TCCT. Cố quên đi những nỗi đau đớn của thương tật, bằng ý chí, nghị lực và sức trẻ , anh đã miệt mài làm việc và hối hả học tập như để bù đắp lại những năm tháng chiến đấu ở chiến trường đã phải gác bút nghiên. Khi không còn tuổi học sinh nữa, Anh tham gia học bổ túc văn hóa. Mặc dù nghỉ học đã ngót mười năm, nhưng khi đi học lại bổ túc chương trình Cấp ba, Anh đã đọat giải trong kỳ thi học sinh giỏi Toán BTVH của Thủ đô Hà Nội. Thật đáng nể cho trí tuệ và ý chí của Anh. Sau đó, Anh đã bền chí học hành có hai tấm bằng tốt nghiệp đại học ở Hà Nội

Trên chặng đường công tác của mình, Anh đã trải qua nhiều cương vị khác nhau: Là Cục trưởng Cục Chính sách TCCT; là Phó hiệu trưởng về Chính trị Trường Sĩ quan Lục quân 1; Là Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật - Bộ Quốc phòng… Ở cương vị nào, Anh cũng cống hiến hết mình và để lại dấu ấn đặc biệt cùng với sự tin tưởng của cấp trên và lòng kính trọng, khâm phục của anh em, đồng đội.

Về tài năng, đức độ và cống hiến của Anh trong chặng đường Binh nghiệp thì đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng cấp bậc quân hàm Trung tướng và các tấm huân chương Chiến công, Quân công cao quý. Một sự đánh giá công lao xứng đáng và một vinh dự lớn lao không chỉ cho cuộc đời Anh mà còn là niềm kiêu hãnh, tự hào cho Gia đình, Dòng tộc, Quê hương. Điều tôi muốn nói tới trong bài viết này là sự trọn nghĩa, vẹn tình của Anh - một người thương binh đối với đồng chí, đồng đội và quê hương.

Là một người từng trực tiếp cầm súng chiến đấu ở chiến trường , từng vào ra sinh tử nơi trận mạc, Anh hiểu những mất mát đau thương cũng như những tâm tư, nguyện vọng của người lính. Do vậy, Anh đã tham mưu và đề đạt nên những chính sách thích hợp và thỏa đáng cho những người có công với cách mạng. Trong đó, không thể không nhắc đến việc phong tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Một việc làm hết sức cao cả, có ý nghĩa nhân văn, thể hiện được đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, sống trọn nghĩa thủy chung của dân tộc ta, góp phần xoa dịu nỗi đau cho các Mẹ và hương hồn các liệt sĩ.

Chiến tranh đã qua đi, nhưng trong Anh luôn khắc khoải nỗi đau đớn, xót thương những người đồng đội vĩnh viễn nằm lại chiến trường. Anh đã gửi lòng mình vào những lời thơ như xé ruột trong những trang thơ viết về đồng đội:

.

Đất nước ta bao năm ròng binh lửa

“Ai đếm nổi khăn tang

Ai đong màu chiến trường”

Ai tính hết số làng quê chìm dưới đạn bom

Chiến thắng- hi sinh, quyện hòa cùng lịch sử

.

Bao mẹ già đau đáu ngóng tin con

Người vợ trẻ trông mong chồng mòn mỏi

Biết bao người ra đi

Xiết bao người chờ đợi.

Chiến thắng rồi...

Ngày đoàn tụ lùi xa!

(Trích “Đất nước ta”- In trong tập Một chữ tình).

Đồng đội có thấu cho chăng, Anh đã giải tỏa nỗi day dứt, nhớ thương của mình vào hồn cốt từng bài thơ như chuyển lời tri âm tới hương linh các anh hùng, liệt sĩ.

Khi đã nghỉ hưu, Anh vẫn không cho phép mình được nghỉ ngơi, Anh lại miệt mài “cày xới trên cánh đồng chữ nghĩa” để sáng tác văn chương. Chỉ trong mấy năm mà Anh đã cho ra đời hai tập thơ với hàng trăm bài thơ để trải lòng mình với anh em, bè bạn. Anh đã ôn lại những năm tháng trong cuộc đời binh nghiệp bằng tập hồi ký : “Những nẻo đường thời gian” như những lời ghi nhớ công lao và tri ân đồng đội. Để quê hương không lãng quên những người có đóng góp nhiều cho Cách mạng, Anh đã tẩn mẩn sưu tầm và viết về “Những tướng lĩnh, anh hùng quê hương Nghi Lộc - Nghệ An”.

Anh còn thể hiện những quan điểm, những chính kiến sâu sắc của mình về nhân sinh, thế thái qua những bài viết trong tập "Suy ngẫm Luận bàn”. Không chỉ dừng lại ở đó, Anh còn tham gia thẩm bình, đánh giá các tác phẩm văn chương một cách hết sức xuất sắc. Thật đáng kính nể cho năng lực và cường độ làm việc của một thương binh như Anh!

Chiến tranh đã lùi xa, Anh đã từ giã cuộc đời binh nghiệp trở về nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Nhưng di chứng của chiến tranh vẫn còn hằn sâu trên cơ thể Anh. Đó là nỗi đau nhức nhối do vết thương hành hạ mỗi khi trái gió, trở trời, khiến Anh nhiều đêm thao thức không ngủ:

Em hỏi, đêm qua ngủ được chăng

Anh rằng, vẫn vậy suốt bao năm

Mỗi bận trở trời y chang thế

Vết thương lại nhức- thức tròn canh !

.

Thỉnh thoảng trở trời , chẳng có sao

Đã quen nhức nhối vết thương đau

Nhớ bao đứa bạn cùng trang lứa

Chẳng có ngày về- để thức đâu !

(Đêm không ngủ)

.

Anh hình như đã quên đi tỷ lệ thương tật và tỷ lệ mắc chất độc da cam trong cơ thể mình để vui sống và tiếp tục làm việc trong quãng đời còn lại. Trong tâm niệm của Anh: So với đồng đội mình còn may mắn hơn nhiều. Như Anh đã thổ lộ trong một bài thơ: «Thuở cả nước hành quân ra trận- Mất mát hi sinh đâu chỉ có riêng mình». Nghĩ sao làm vậy. Anh đã sống với cái tâm coi trọng ân nghĩa bằng tất cả sự thủy chung với quá khứ, với đồng đội. Điều đó được thể hiện bằng hành động đáng trân trọng ở Anh là những chuyến viếng thăm thường xuyên hàng năm của Anh tới các Nghĩa trang liệt sĩ, tới những nơi mà Anh đã từng tham gia chiến đấu. Anh muốn hàng năm được tới viếng thăm đồng đội như một sự trả nghĩa cho đời và tri ân đồng đội. Giờ đây, đã bước qua tuổi “cổ lai hi”, nhưng trong những ngày hè nắng như đổ lửa, gió lào hầm hập như thiêu đốt, không quản ngại đường sá xa xôi, Anh vẫn tiếp tục rong ruổi vào miền Trung, tới nghĩa trang Việt Lào, nghĩa trang Trường Sơn hay đi thăm lại chiến trường Thừa Thiên. Người người đã nghẹn lòng khi nghe đọc những lời văn khấn anh linh đồng đội từ tâm mình viết ra :

Mấy mươi năm sinh tử biệt ly

Đôi ngả âm dương cách trở

Vĩnh hằng đồng đội thấu chăng

Ân tình khôn bề giải tỏ

.

Xin cúi mình tưởng nhớ tri ân

Đồng đội một thời binh lửa

Hỡi vong hồn liệt sĩ anh linh

Tình nặng nghĩa sâu

ngàn sau còn đó

.

Kính cẩn dâng hương.

(Trích: «Văn tế các liệt sĩ ....»

Động lực nào đã tạo nên sức mạnh như vậy cho một người thương binh? Phải chăng, đó là ý chí, là bản lĩnh của người lính chiến xông pha trên chiến trường năm xưa cộng với tình người mang nặng ân nghĩa với cuộc đời. Cho nên, Anh muốn sống hết mình để trả nghĩa cho Đời. Để xứng đáng với sự hi sinh của lớp lớp đồng đội đã đổ xương máu cho Độc lập của Tổ Quốc hôm nay.

Anh rời xa quê khi chỉ mới tròn 16 tuổi, là một thương binh đã có nhiều cống hiến và đóng góp cho đất nước trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước… Ngót 60 năm xa quê, nhưng lòng Anh vẫn đau đáu một nỗi niềm thương nhớ, day dứt khi nghĩ về vùng quê nghèo khó của mình. Anh vẫn băn khoăn mình chưa đóng góp được gì cho quê hương. Anh thương những đứa trẻ vùng thôn quê không đủ sách vở tới trường nhưng vẫn ráng vươn lên học hành chăm chỉ. Trong mỗi chuyến trở về thăm quê, nhìn lại mái trường xưa, Anh như thấy lại tuổi thơ của mình. Để khơi dậy lòng hiếu học cho các cháu học sinh, Anh đã dùng 1 tỷ đồng tiền tiết kiệm của mình để lập Quỹ khuyến học mang tên Anh, gửi cho trường Tiểu học xã nhà. Nghĩa tình sâu nặng của Anh dành cho quê hương thật đáng trân trọng !

Người Thương binh đó không những tài năng và nghị lực mà anh còn là một con người LỊCH LÃM, HÀO HOA, VĂN VÕ SONG TOÀN. Anh, một người lính- một vị Tướng phong trần, lãng tử lại giỏi văn thơ, đàm luận thì khúc triết, sâu sắc, nói năng thấu tình, đạt lý. Ai đã tiếp xúc với Anh thì khó có thể không ấn tượng về Anh. Hơn nữa, ở Anh lại còn có cách sống quan tâm chu đáo tới mọi người, sống vô tư, hết mình, chí tình chí nghĩa, giàu lòng trắc ẩn.

Tôi thực sự khâm phục Anh - Một thương binh giàu ý chí và nghị lực, sống xứng đáng với danh hiệu Anh bộ đội Cụ Hồ, xứng đáng với gia đình, dòng họ giàu truyền thống yêu nước từ bao đời nay.

Người thương binh đó là: Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu, người Nghi Lộc quê tôi.

Nhân Ngày 27/7, xin chúc Anh mạnh khỏe, hạnh phúc!
 



 

ANH, NGƯỜI CHIẾN SĨ NĂM XƯA

(Thơ: Nguyên Hùng - Nhạc: Đỗ Tiến Lập - Thể hiện: NSƯT Vũ Tiến Lâm)


Dựng clip: Nguyên Hùng.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Có một tinh thần sáng tạo độc lập như thế tại Việt Nam
Tiệm phở của Anh Hai (Brother Hai’s Pho Restaurant) là tựa game nổi tiếng thời gian gần đây của một lập trình viên bí ẩn với biệt danh marisa0704, vốn là sinh viên Trường Công nghệ Thông tin và Truyền thông (SoICT), Đại học Bách khoa Hà Nội được truyền cảm hứng từ Flappy Bird của nhà lập trình độc lập từ hơn 10 năm trước. Như một sự ngẫu nhiên, nếu nhìn lại những kết quả của các nghệ sĩ trẻ trong các lĩnh vực mỹ thuật, điện ảnh, sân khấu - kịch, xuất bản và đặc biệt là âm nhạc thì trong hơn một thập kỷ qua, họ đã thực sự sống với tinh thần sáng tạo, thử nghiệm độc lập.
Xem thêm
Lâm Xuân Thi – Người chọn đứng phía sau những điều tử tế
Bài đăng Tạp chí Văn nghệ TPHCM số ra ngày 01/01/2026
Xem thêm
Vị của mùa Đông - Tản văn Đinh Thu Huế
Mùa đông lẻn vào lòng thành phố bằng những bước chân không tiếng động, chỉ để lại dấu vết qua cái rùng mình của cơn gió bấc và sắc màu trầm mặc trên vòm không. Với tôi, mùa đông không chỉ là một khái niệm thời tiết, nó là một “vị” riêng biệt - vị của ký ức, của sự tĩnh lặng và của những triết lý nhân sinh được gói ghém trong cái lạnh căm căm.
Xem thêm
“Ăn mày laptop”- Thắp sáng niềm tin cuộc đời
Trong thời đại số, khi mạng xã hội thường bị nhìn như nơi ồn ào và nhiễu loạn, dự án “Ăn mày laptop” của Trần Trọng An lại cho thấy một khả năng khác: kết nối lòng tử tế bằng sự minh bạch, kiên trì và nhân ái.
Xem thêm
Nén hương cho một người cô độc - Tùy bút Nguyễn Hồng Lam
Đi hết những năm chiến tranh, vác ba lô về nhà ngỡ bắt đầu đời sống của riêng mình, người lính ấy mới nhận ra không còn gì thuộc về riêng ông nữa. Không gia đình, không quê hương, không có gì chào đón hay níu giữ. Khói lửa chiến tranh cũng đã tàn, chẳng còn chiến trường khốc liệt nào cho ông quay trở lại, dù chỉ để đi hết cuộc đời trong một thói quen. Ông là người lính lơ lạc giữa thời bình. Ngày trở về cũng cũng là ngày cuộc chiến trong tâm thức của riêng ông mới bắt đầu, giữa hòa bình vĩnh viễn, kéo dài thêm suốt hơn 30 năm sau đó.
Xem thêm
Văn chương gìn giữ văn hóa đọc
​Sách và văn hóa đọc đã góp phần gìn giữ, bảo tồn văn hóa quốc gia, dân tộc, phát triển năng lực cá nhân thông qua ngôn ngữ được sử dụng làm công cụ kết nối, truyền bá và lưu giữ những giá trị bất biến ngàn đời. Trong đó, văn chương cũng là một kênh đọc rất hữu hiệu, giàu tính nhân văn, nhân bản được nhân loại tụng ca.
Xem thêm
Hà Vi Tùng, vị tướng mưu lược…
Kỷ niệm 81 năm thành lập QĐND Việt Nam, 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân
Xem thêm
Pha Long nơi biên cương Tổ Quốc
“Pha Long nơi biên cương Tổ quốc” không chỉ là câu chuyện tìm mộ liệt sĩ, mà là một hành trình nhân văn về ký ức chiến tranh, tình ruột thịt và sự hóa thân thầm lặng của người lính vào từng tấc đất biên cương. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài ký của nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh
Xem thêm
Phú Yên nghĩa tình và khát vọng hồi sinh - Ký của Nguyên Hùng
Bài đăng báo Văn nghệ số 50, ra ngày 13/12/2025
Xem thêm
Lời thì thầm của biển – Tản văn của Như Nguyệt
Còn bạn thì sao? Bạn nghe điều gì từ lòng biển? Tôi tin dù bạn nghe được điều gì, hãy giữ lấy niềm tin ấy thật chặt, bởi vì mọi “lời thì thầm” đều có sức mạnh của riêng nó.
Xem thêm
Diễn viên Thương Tín đã về cõi lặng
Thông tin từ chị Bùi Kim Chi (vợ Thương Tín) cho biết, Thương Tín đã qua đời vào khuya nay tại nhà riêng Phủ Hoà, Phan Rang.
Xem thêm
Ký ức về bố – Bút ký Vũ Mạnh Định
Pleiku những ngày này mưa dầm dề do ảnh hưởng bão. Mưa trắng xóa cả bầu trời, gió hun hút qua hàng cây phủ kín cả phố núi. Tiếng mưa khiến lòng tôi chùng xuống, ký ức bất chợt ùa về. Mưa như tấm màn xám phủ trùm đất trời, có khi kéo dài cả tháng không dứt. Ngày ấy tôi còn quá nhỏ để hiểu nỗi buồn của những cơn mưa, chỉ nhớ nó dai dẳng đến mức sáng hay chiều cũng nhập nhòe một màu xám đục. Nhưng chính sự dầm dề ấy lại trở thành lát cắt đặc biệt của tuổi thơ, để sau này, mỗi lần nghe mưa nơi khác, tôi ngỡ như vừa chạm vào những ngày Pleiku xưa cũ, ngày mưa dài đến mức thời gian như ngưng đọng.
Xem thêm
Một Việt Nam nhân hậu giữa bão lũ và nước mắt
Giữa màn đêm bị xé toang bởi gió, nước và tiếng kêu cứu, người ta lại nhìn thấy những điều kỳ diệu khác: tình người, sự hy sinh, lòng nhân hậu – những phẩm chất làm nên cốt cách vĩ đại của dân Việt.
Xem thêm
Hai vị đại tướng Nam Bộ qua bút ký của nhà văn Trần Thế Tuyển
Lịch sử QĐND VN có nhiều vị tướng huyền thoại. Trên mảnh đất Phương Nam - Nam Bộ cũng có những vị tướng như thế. Đặc điểm chung của các vị tướng Nam Bộ là sống hết mình: Hết mình vì đất nước, nhân dân; hết mình về đồng đội, bạn bè; sống chân thật, thuỷ chung …mà người đời thường gọi là “Ông Già Nam Bộ”.
Xem thêm
Sương rơi trên lá non - Tản văn Hồng Loan
Có những đoạn đời, ta đi qua như kẻ mộng du giữa những vết xước của chính mình. Mỗi ngày trôi, ta tưởng mình vẫn sống, nhưng kỳ thực chỉ là đang lặp lại những hơi thở cũ, nhạt nhòa và vô nghĩa. Tổn thương không chỉ làm ta đau, nó khiến ta lãng quên, quên mất rằng mình từng có một tâm hồn trong trẻo, từng biết rung động trước điều nhỏ bé nhất trong đời.
Xem thêm
Người gieo hạt yêu thương – Tản văn Chu Thị Phương Thảo
Nhắc đến quãng đời học trò, tôi không thể quên hình ảnh cô giáo Trương Hoàng Oanh – người đã dìu dắt tôi suốt những năm cấp hai. Với tôi, cô không chỉ là một người thầy, mà còn là người mẹ thứ hai, người để lại trong lòng tôi những ký ức không thể phai mờ. Cho đến hôm nay, mỗi khi nhắm mắt lại, tôi vẫn thấy rõ ánh mắt hiền từ của cô, vẫn nghe giọng nói trầm ấm khi cô gọi tôi bằng cái tên thân thương: “Nhím” – cái tên gắn bó với tôi như một phần ký ức ngọt ngào của tuổi học trò.
Xem thêm
Những người con đất Quảng - Bút ký Phùng Chí Cường
Ngày 20 tháng 7 năm 1954 hiệp định Giơnevơ được ký kết, chấm dứt gần 100 năm người Pháp đặt ách đô hộ lên đất nước ta. Nhưng ngay sau khi chữ ký chưa ráo mực, thì đế quốc Mỹ đã nhảy vào miền Nam hất cẳng Pháp, đưa con bài Ngô Đình Diệm về Sài Gòn để lập ra chính quyền bù nhìn thân Mỹ, chúng rắp tâm chia cắt lâu dài đất nước ta. Năm đó, nhiều cán bộ miền Nam đã ra Bắc tập kết, để lại quê nhà, gia đình vợ con và những người thân, rồi họ cùng nhau mòn mỏi trông chờ ngày đoàn tụ. Tới ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, hai miền Nam - Bắc mới được sum họp một nhà. Vậy trong hơn 20 năm xa cách ấy những người ở lại miền Nam, dưới sự đàn áp điên cuồng của đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai, họ đã phải sống ra sao? Chúng ta hãy đi tìm câu trả lời:
Xem thêm
Từ dòng Lam đến Vàm Cỏ Đông
Một đêm diễn đặc biệt tại Nhà Văn hóa Thanh niên, với tên gọi “Giai điệu từ những vần thơ”, trong chuỗi chương trình “Những ngày Văn học Nghệ thuật TP.HCM”...
Xem thêm
Nha Trang – Viên ngọc xanh, từ hoài niệm đến khát vọng – Bút ký Nguyễn Phú Thành
Thành phố Nha Trang, thuộc tỉnh Khánh Hoà được mệnh danh là “Viên Ngọc Xanh” của bờ biển Đông, không chỉ là điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích biển đảo mà còn là nơi lưu giữ những hoài niệm và khát vọng của xứ sở. Đồng thời, Nha Trang cũng hội tụ vẻ đẹp của lịch sử văn hóa và, du lịch biển làm nên vẻ đẹp hiếm có làm say đắm lòng người.
Xem thêm