TIN TỨC

“Công chúa Ngọc Anh – bể khổ kiếp nhân sinh”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-21 14:02:58
mail facebook google pos stwis
897 lượt xem

VÕ ĐÀO PHƯƠNG TRÂM

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Văn học lịch sử vốn được xem là mảng khó viết bởi vừa đảm bảo tính chính xác vừa phải tạo được tính hấp dẫn lôi cuốn. Người viết văn học lịch sử không thể xuyên tạc, tô vẽ hay làm méo mó đi nội dung câu chuyện. Chính vì khó viết nên văn học lịch sử luôn là đề tài thu hút nhiều người đọc, bởi đó là cơ hội để người đọc và người sáng tác chiêm nghiệm lại quá khứ, suy ngẫm về tương lai, trăn trở về những hưng thịnh của thời đại, là một dòng chảy làm tái sinh những giai thoại dựa trên sự kiện lịch sử. Người viết văn học lịch sử là người phục dựng lại những bí ẩn còn chìm sâu trong bức màn thời gian, làm sáng tỏ những giá trị nghệ thuật mang tính truyền thống hay tín ngưỡng.

 

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga

 

Một trong số những tác giả bén duyên với truyện văn học lịch sử là nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga, chị sinh năm 1976, Tiến sĩ Ngữ Văn, nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tỉnh Hải Dương; Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tỉnh Hải Dương, hiện là Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc Hội Thành phố Hải Phòng.

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga mang trong mình cốt cách quyết liệt, cá tính mạnh mẽ của nữ chính trị nghị trường pha lẫn nét mềm mại trong tâm hồn của người phụ nữ. Chị là một người trẻ tiên phong trên con đường gai góc, khám phá và đào sâu nền văn chương giai đoạn năm 1954-1975 về thân phận con người trong tiểu thuyết đô thị miền Nam. Từ sự bộc trực, nhiệt huyết và khả năng cảm thụ văn học sâu sắc, những tác phẩm truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Thị Việt Nga cũng trở nên tinh tế, tròn đầy.

Với tập truyện lịch sử “Đêm trắng Thăng Long”, bao gồm truyện: Cánh ngỗng đỏ bay qua giếng ngọc; Quỳnh hương điện ngọc; Mây trắng Tràng An; Chuông chùa Chân Giáo; Nước cờ thế sự; Hoa nước mắt; Dư vang trong đá; Đêm trắng Thăng Long; Chuông ngân rừng trúc; Công chúa Ngọc Anh”. Đây là tập truyện giàu giá trị văn học nghệ thuật, khai thác chiều sâu rung động thông qua ngôn ngữ cảm xúc. “Công chúa Ngọc Anh” là một truyện tiêu biểu trong số đó.

Với phương châm “Lấy tác phẩm làm trọng tâm nghiên cứu”, là sự chồng xếp những lát cắt giữa hiện thực và giải thiêng, Nguyễn Thị Việt Nga đã đưa câu chuyện bi thương trở nên sống động với nhiều thông điệp ý nghĩa, chạm vào tầng sâu tâm thức người đọc.

Bằng lối dẫn dắt tinh tế, nhà văn đã tái hiện lại một công chúa Ngọc Anh với tâm lý phức tạp của khát vọng, hạnh phúc, mất mát, chia lìa. Nàng là một giai nhân tuyệt sắc, vẻ đẹp long lanh kiều diễm với đôi môi thắm như hoa yên chi, nhưng đằng sau vẻ đẹp đó là nỗi buồn sâu thẳm. Nàng vốn mang tấm lòng mộ Phật, sống ẩn mình với câu kinh tiếng kệ, vẫn tưởng cuộc đời công chúa đã an yên nơi cửa Phật nhưng rồi trong cơn binh biến, nàng đã phải trở lại Kinh thành nhưng lòng vẫn mong trở về chùa Đại Giác để cầu nguyện cho cha lấy lại cơ đồ.

Hình ảnh nàng lên kiệu khi bóng chiều tĩnh lặng, tiếng chuông Thiên Mụ đổ dài họa lên khung cảnh bi thương, trĩu nặng. Một vẻ đẹp pha lẫn nét u buồn trước nhân tình thế thái mà thân gái liễu nhi phải dãi dầu gió bụi. Thế nhưng đằng sau gánh nặng trăn trở quốc gia, còn một nỗi niềm khuất sâu trong lòng công chúa, khi nàng gặp gỡ, đàm đạo cùng Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành, để những ngơ ngẩn, thổn thức trong nàng bỗng nhiên trỗi dậy. Nỗi buồn xáo động tâm can khi công chúa đến yết bái Thiền sư ở chùa Thiên Mụ. Đây cũng là định mệnh mà nàng đã bước vào, như bước chân vào con đường bi kịch, để những thanh tịnh trầm an bỗng bị hất tung như mảnh rèm voan trong gió lạnh.

Và rồi nỗi bất an ấy ngày càng lớn dần, trở thành hệ trọng và u uất khi đức vua Minh Mạng khuyên nàng xuất giá. Mặt hoa ủ dột, lòng trĩu nặng không yên bởi người mà nàng nghĩ đến, mong được cùng chung gối mộng lại là một Thiền sư. Nỗi đau buồn dù chế ngự trong tâm nhưng thăm thẳm tựa non trùng, ủ ê như sóng cuộn. “Tiếng chuông trùm lên cảnh vật, vang mãi, vang mãi, qua đồi Hà Khê, qua núi Ngự Bình”, tiếng chuông như “khơi sâu vào nỗi lòng thổn thức” của nàng công chúa, khiến cho mày châu vóc ngọc phút chốc xanh xao.

Để rồi khi nhận ra mình đã mang khối tình trao cho vị Thiền sư nơi cửa Phật, oan trái bỗng chợt trùng trùng càng làm cho công chúa Ngọc Anh trở nên phiền não bội phần. Nỗi nhớ thương, mong mỏi khiến nàng mất đi an ổn. Thế nhưng thay vì nhận ra sai lầm, nàng lại ngày đêm theo đuổi mối tình vô vọng. Dù đã bị Thiền Sư từ chối khi nàng đến trong Chính điện nhưng nàng vẫn cứ say mê, trượt ngã trong phiền não. Chỉ cần nhìn thấy Thiền sư, nàng đã xao động tâm can. Chỉ cần chiếc áo cà sa của Người lướt qua, nàng đã thấy như bị thôi miên, đổ ngã. Mỗi khi nhắc đến Thiền sư, nàng lại như mê sảng. Nỗi nhớ mong tơ tưởng đã làm cho nàng bấn loạn gầy gò. Vì tình yêu mà nàng không nghĩ đến ranh giới giữa người tu sĩ và kẻ tục trần. Mối tình mù quáng, si mê ấy đã khiến nàng quên hết những điều tâm nguyện nơi cửa Phật, chỉ mong được Thiền sư đón nhận mối tương duyên. Nàng không còn nhận ra giới hạn và đạo lý cần phải giữ, chỉ mong mỏi được Thiền sư hồi đáp mối tình sâu nặng. Tình yêu của nàng ngập tràn bi lụy, đắm đuối đau thương bởi đáp lại nàng, chỉ là thái độ dửng dưng, lạnh nhạt và né tránh.

  

Tập truyện ngắn lịch sử “Đêm trắng Thăng Long” của nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga

 

Không buông bỏ, không tỉnh thức, công chúa càng lúc càng dấn sâu vào mối tình hư mộng khi nàng cầu xin nhà vua tác hợp cho mình nên duyên cùng Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành, một mong muốn khiến ai nghe qua cũng phải kinh hoàng thảng thốt. Một nàng công chúa lại muốn nên duyên với một quốc sư, không những trái luân thường đạo lý mà còn mang tội với đời khi phá vỡ đường tu của người phạm hạnh.

Trong sự tuyệt vọng khôn cùng, nàng nghĩ rằng với oai lực của bậc quân vương sẽ làm cho Thiền sư phải tuân theo mệnh lệnh. Thế nhưng một lần nữa, công chúa Ngọc Anh phải đành thất vọng khi Thiền sư một mực giữ vững tâm nguyện tu hành. Sự cương nghị, vững như núi Tu Di của Người đã làm cho nàng vô cùng đau khổ. Nàng như một người mất trí, cứ khóc than, mê sảng. Ngày qua ngày, thân ngọc héo hon, sắc ngọc bơ phờ như hoa tàn, liễu úa. Trong mắt nàng, lầu son gác tía không đổi được một ánh mắt ấm của Thiền Sư, vạn người cung kính cũng không bằng một lần Thiền sư xuất hiện. Trong lòng nàng chỉ có bóng Thiền sư, tâm trí nàng chỉ có mỗi Thiền sư là lẽ sống.

Và rồi, nàng càng trở nên u ảm khi Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành rời chùa Thiên Mụ ra đi, để giữ một đời sống Đạo.

Gạt bỏ mọi lời khuyên nhủ của cung nữ Xuân Lan, phớt lờ mọi lời tác hợp với các vương tôn công tử, lòng Ngọc Anh chỉ tơ tưởng, nhung nhớ Thiền sư, mặc cho Người đã rời xa cách biệt. Trong tuyệt vọng, nàng quyết thân chinh gót ngọc để tìm đến nơi trú ngụ của Thiền sư, cho thỏa lòng thương nhớ. Tình yêu của công chúa Ngọc Anh như một ngọn lửa, như dòng nước xoáy, trỗi dậy ào ạt và mãnh liệt. Khi diện kiến Thiền sư nơi chùa Từ Ân, như từ vô lượng kiếp, cảm xúc trong nàng trỗi dậy, ánh mắt nàng như nước hồ thu, vừa rực sáng vừa long lanh ngấn lệ. Nàng bỏ xuống thân thế hoàng gia để làm một người bình thường với ước nguyện được yêu thương như bao người khác. Nàng đau khổ, van xin, dại khờ, trách cứ…nhưng rồi những gì nàng nhận được vẫn chỉ là sự thờ ơ, từ chối của Thiền sư.

Nàng quỳ trong im lặng, một hình ảnh làm lay động lòng người, vừa thương cảm xót xa, vừa lắc đầu tiếc nuối, bởi đó là sự mù quáng, mê lầm của con người trong thế giới ba sinh, là tình yêu mê cuồng, bi lụy. Chỉ vì yêu mà con người có thể mang hết lòng dạ để sống chết với tình mà không phân biệt đúng sai, tội lỗi.

Nàng khóc cạn nước mắt nhưng Thiền sư vẫn bình thản quay đi. Người về chùa Đại Giác để né tránh sự luyến lưu từ công chúa. Trong chút hy vọng cuối cùng, công chúa đã đến tìm người và van xin Thiền sư cho nàng được nắm lấy bàn tay, như chiếc phao cứu sinh cho người sắp đuối. Nàng chỉ mong được nhìn thấy bàn tay người nàng yêu thương, chỉ bấy nhiêu đó cũng đủ để nàng thỏa lòng ước nguyện. Và khi Thiền sư đưa tay ra, như một đóa hoa sen, nàng đã nắm lấy tay Người, “vừa hôn vừa khóc như mưa”.

Tình yêu của công chúa dành cho Thiền sư không có gì cưỡng lại bởi trong lòng công chúa, Người là liều thuốc hồi sinh mà cũng là thuốc độc, chỉ một hình ảnh của Người cũng có thể làm nàng vỡ tan hay sống dậy. Thế nhưng điều đắng cay oan nghiệt không dừng lại ở đó mà nó đã đi đến một kết cục bi thương, khi Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành tự thiêu thân trong lửa đỏ. Ngọn lửa kết thúc mối tình oan nghiệt của công chúa Ngọc Anh và giữ trọn đức hạnh của Người. Thiền sư ra đi, Ngọc Anh mới thảng thốt nhận ra, trong đau đớn và hối hận, nàng như một kẻ mất hồn, lạc lõng giữa u buồn, đổ nát. Nàng chỉ còn lại một mình đơn độc, xung quanh nàng mọi thứ trở thành vô nghĩa khi người nàng yêu thương không còn ở trên đời. Sau khi lo hậu sự cho Thiền sư tại chùa Đại Giác, Ngọc Anh đã uống thuốc độc quyên sinh để kết thúc mối tình oan nghiệt.

Bằng ngòi bút tài hoa, nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga đã kể lại câu chuyện tình bi thương, dằn vặt của một nàng công chúa với hình ảnh tả thực đầy mỹ cảm. Bút pháp mềm mại và lời văn bay bổng, mượt mà, từng mạch truyện được phác họa thâm trầm, liền mạch và sống động, toát lên sự dữ dội trong tình yêu của nàng công chúa. Một tình yêu giữa thế giới tục trần, miên viễn với say đắm, si mê, chấp ngã, tận cùng, để rồi cứ phải trôi lăn trong nỗi đau của tan hợp và hoại diệt.

Đối lập với công chúa Ngọc Anh, người ta lại nhìn thấy một vị Thiền sư tĩnh lặng như sơn mộc. Giữa bể khổ vô thường, Người vẫn giữ cho mình một lòng an nhiên tự tại, khước từ mọi cám dỗ hồng trần, nương về cõi Phật. Trong mắt Người, những danh vọng, tài sắc như bọt nước thoáng qua, không thể đánh động lòng người mộ đạo. Sự kiên định của Thiền sư khi công chúa Ngọc Anh đến chùa Thiên Mụ, mặc cho công chúa thẫn thờ, ngưỡng mộ, Người vẫn giữ lòng không động, lặng im.

Trái tim đa sầu đa cảm của công chúa Ngọc Anh như gió va vào núi. Người chỉ đáp lại bằng sự điềm nhiên và lặng lẽ, kiên cố hành trì chính niệm trước ủy mị tư tình. Nhưng càng xa cách và viễn ly ái dục, xem những lời than thở, vật vã của Ngọc Anh như gió bụi thoáng qua thì càng làm cho nàng trở nên sầu thương và khó dứt. Trước tình cảnh đó, Thiền sư chỉ lẳng lặng quay đi, sự im lặng của Người như bức tường thành vững chãi, như hoa sen trắng giữa bùn lầy. Khi hay tin sư phụ của Thiền sư là Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc, trụ trì chùa Từ Ân viên tịch, Người đã nhân dịp này rời khỏi chùa Thiên Mụ, một chuyến đi để dứt trừ sợi dây luyến ái vô minh mà Ngọc Anh đang cố tình buộc chặt. Người đi để giữ trọn đạo tu hành, rời xa phù hư ảo ảnh để sống đời tỉnh giác.

 

Ảnh minh họa.

 

Trái ngược với những héo hon sầu khổ của công chúa Ngọc Anh, con đường của Thiền sư hướng đến là bình an và vô nguyện. Người chỉ mong một đời thành tựu theo chính pháp. Ánh mắt Người luôn hướng đến chúng sinh chứ không đặt ở cung hoàng điện ngọc.

Nhưng Thiền sư cũng là một con người, đứng trước nỗi đau bám riết và tình yêu vô bờ bến của công chúa Ngọc Anh, Người đã không thể lạnh lùng để nhìn số phận của nàng ngụp lặn trong bể khổ. Khi bàn tay Người đưa ra như lòng từ bi để cứu vớt sự sống cho công chúa, để rồi sau đó, Thiền sư đã chọn cho mình con đường tự thiêu để giữ tròn tâm Đạo. Khi Tịnh Thất chìm trong lửa đỏ, người ta đã đọc được một bài kệ của Thiền sư trên vách gỗ:

THIỆT đức rèn kinh vẹn kiếp trần

THÀNH không vẩn đục vẫn trong ngần

LIỄU tri mộng huyễn chân như huyễn

ĐẠT đạo mình vui đạo mấy lần

Bài thơ như khép lại cuộc đời một Thiền sư tài năng đức độ mà cũng mở ra cánh cửa giải thoát cho một bậc tu hành không còn sa vào những cám dỗ nơi trần thế. Người đã rũ bỏ thân xác tục phàm để về cõi an nhiên, xem trần gian là cõi tạm. Trong lửa đỏ, Người không lưu luyến, không sợ hãi, bước qua thế giới vô thường với tâm không vẩn đục. Câu chuyện đã đưa đến cao trào cảm xúc khi biết rằng Thiền sư đã chọn con đường tịch diệt bằng cách hỏa thiêu. Và những câu hỏi được đặt ra: “Phải chăng công chúa Ngọc Anh đã đẩy nhà sư đến tận cùng lựa chọn?”, “Phải chăng vì tình yêu mù quáng của nàng đã khiến nhà sư hỏa thiêu nhục thể?”. Những nỗi tiếc thương, dằn vặt pha lẫn chút trách hờn, day dứt…nhen nhúm trong lòng người đọc vì không làm chủ được lòng mình mà nàng đã gây ra tội lỗi, dẫn đến số phận nghiệt ngã cho mình và kinh động con đường hạnh nguyện của Thiền sư.

Bằng ngôn từ hài hòa uyển chuyển, “Công chúa Ngọc Anh” là một tác phẩm mang vẻ đẹp liễu tri huyễn mộng, là hơi thở cuộn trào trong khát vọng tồn sinh đầy ngổn ngang tự sự, là tuyệt vọng, si mê. Từng cánh hoa, chiếc lá cũng chở đầy ưu tư, da diết. Công chúa Ngọc Anh như hiện thân của con người ở kiếp lao trầm, lặn ngụp trong yêu đương mộng mị, nàng chưa thể vượt qua ngưỡng ái tình, chưa đủ tĩnh tâm để thoát khỏi vòng tục lụy nên phải mang một kết cục bi thương.

Nếu công chúa Ngọc Anh là một khía cạnh của si mê, mù mịt thì hình ảnh của Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành lại hiện lên như sự minh triết an trầm, nhắc nhở chúng ta cần quán thân bất tịnh, tỉnh táo để nhận ra hư ảo của tình yêu, sẽ phần nào làm cho con người bớt đi niềm luyến ái. Câu chuyện như một lời cảnh tỉnh: “Ái tình là điều khiến con người dễ lầm đường lạc lối”, vì yêu cái đẹp của Thiền sư mà bất chấp khổ đau, để rồi khi vướng vào vòng si mê thì không thể thoát ra, khó lòng buông bỏ và sáng suốt.

Dù có ý kiến cho rằng công chúa Ngọc Anh và mối tình với Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành chỉ là câu chuyện hư cấu, tuy nhiên nếu chỉ dựa trên trí tưởng tượng thì “Công chúa Ngọc Anh” vẫn là một tác phẩm giàu triết lý nhân sinh. Truyện đề cao giá trị của đời sống tinh thần tín ngưỡng và sự sâu dày trong tầng thức. Kiến tạo tư duy đổi mới lịch sử thông qua văn học bằng cách tìm kiếm sức nặng của tri thức trong cội nguồn truyền thống.

Bằng giọng văn riêng biệt, sâu sắc và lắng đọng, tác giả đã làm nổi bật hình ảnh công chúa Ngọc Anh với vẻ ngoài mềm yếu nhưng lại sẵn sàng bứt phá gia phong để tìm đến tình yêu. Nó làm trỗi dậy thao thức và ngẫm ngợi cái khôn cùng, sợ hãi, chông chênh đến ngờ vực, như hành trình đồng niệm nỗi đau khi bị khước từ, lạnh nhạt. Nguyễn Thị Việt Nga đã phô bày niềm sùng bái, ngưỡng mộ, suy tư đầy ngổn ngang trăn trở của một kiếp người. Tất cả đan xen vào nhau để tạo thành một vòng tròn luân hồi không kết dứt.

“Công chúa Ngọc Anh” của nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga là một tác phẩm văn học hội tụ đầy đủ tính nghệ thuật xã hội, nghệ thuật lịch sử với cấu trúc ngôn ngữ tổng quan, từ đó thể hiện được tính thi pháp nội sinh đầy sáng tạo. Những bối cảnh đẹp lay động lòng người được lột tả qua từng câu từ tinh tế, vừa mỏng manh mềm mại, vừa luồn sâu vào những trăn trở, mãnh liệt, cô đơn, nơi giới hạn giữa tình yêu và lễ giáo. Và Thiền sư như biểu tượng của sự tĩnh lặng giữa vô thường, nơi cái đẹp đến từ thanh tịnh và giải thoát. Câu chuyện mang thông điệp sâu sắc về triết học Phật giáo, nhấn mạnh tầm quan trọng của tỉnh thức trong ngũ dục lục trần, giữa mê và ngộ để không phải rơi vào nghịch cảnh đắng cay. Hành động quyên sinh của công chúa Ngọc Anh là tận cùng oan nghiệt, là kết quả từ nỗi si mê, vì nỗi si mê này mà dẫn đến kết cuộc đầy bi kịch.

Sử dụng khả năng cảm thụ nghệ thuật sâu dày, vốn từ phong phú, nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga đã biến chữ trở thành chất liệu để khâm liệm, là dòng chảy để tái sinh, kiến tạo qua không gian thị giác, buộc người đọc phải dừng lại và chiêm nghiệm. Truyện lịch sử của Nguyễn Thị Việt Nga thoát ra khỏi ranh giới của cũ kỹ đơn điệu, không cứng nhắc khô khan, cũng không cầu kỳ phức tạp mà là sự đan xen vừa đủ giữa cấu trúc “Mô tả, trần thuật, đối thoại, trữ tình”. Đặc điểm nhìn vào bên trong nhân vật để tái hiện quá khứ một cách đa thanh, là một cách vận hành hữu sinh, nơi con chữ luôn chắt lọc và dao động. Chú trọng khai thác thủ pháp biểu đạt nội tâm, giàu mỹ học, mang cái đẹp của một trí thức dấn thân, Nguyễn Thị Việt Nga đã đưa lịch sử trở thành câu chuyện gần gũi và đồng điệu, khai phá tính duy mỹ chuyên sâu của người sáng tác.

V.Đ.P.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm