TIN TỨC

“Công chúa Ngọc Anh – bể khổ kiếp nhân sinh”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-21 14:02:58
mail facebook google pos stwis
526 lượt xem

VÕ ĐÀO PHƯƠNG TRÂM

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Văn học lịch sử vốn được xem là mảng khó viết bởi vừa đảm bảo tính chính xác vừa phải tạo được tính hấp dẫn lôi cuốn. Người viết văn học lịch sử không thể xuyên tạc, tô vẽ hay làm méo mó đi nội dung câu chuyện. Chính vì khó viết nên văn học lịch sử luôn là đề tài thu hút nhiều người đọc, bởi đó là cơ hội để người đọc và người sáng tác chiêm nghiệm lại quá khứ, suy ngẫm về tương lai, trăn trở về những hưng thịnh của thời đại, là một dòng chảy làm tái sinh những giai thoại dựa trên sự kiện lịch sử. Người viết văn học lịch sử là người phục dựng lại những bí ẩn còn chìm sâu trong bức màn thời gian, làm sáng tỏ những giá trị nghệ thuật mang tính truyền thống hay tín ngưỡng.

 

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga

 

Một trong số những tác giả bén duyên với truyện văn học lịch sử là nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga, chị sinh năm 1976, Tiến sĩ Ngữ Văn, nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tỉnh Hải Dương; Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tỉnh Hải Dương, hiện là Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc Hội Thành phố Hải Phòng.

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga mang trong mình cốt cách quyết liệt, cá tính mạnh mẽ của nữ chính trị nghị trường pha lẫn nét mềm mại trong tâm hồn của người phụ nữ. Chị là một người trẻ tiên phong trên con đường gai góc, khám phá và đào sâu nền văn chương giai đoạn năm 1954-1975 về thân phận con người trong tiểu thuyết đô thị miền Nam. Từ sự bộc trực, nhiệt huyết và khả năng cảm thụ văn học sâu sắc, những tác phẩm truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Thị Việt Nga cũng trở nên tinh tế, tròn đầy.

Với tập truyện lịch sử “Đêm trắng Thăng Long”, bao gồm truyện: Cánh ngỗng đỏ bay qua giếng ngọc; Quỳnh hương điện ngọc; Mây trắng Tràng An; Chuông chùa Chân Giáo; Nước cờ thế sự; Hoa nước mắt; Dư vang trong đá; Đêm trắng Thăng Long; Chuông ngân rừng trúc; Công chúa Ngọc Anh”. Đây là tập truyện giàu giá trị văn học nghệ thuật, khai thác chiều sâu rung động thông qua ngôn ngữ cảm xúc. “Công chúa Ngọc Anh” là một truyện tiêu biểu trong số đó.

Với phương châm “Lấy tác phẩm làm trọng tâm nghiên cứu”, là sự chồng xếp những lát cắt giữa hiện thực và giải thiêng, Nguyễn Thị Việt Nga đã đưa câu chuyện bi thương trở nên sống động với nhiều thông điệp ý nghĩa, chạm vào tầng sâu tâm thức người đọc.

Bằng lối dẫn dắt tinh tế, nhà văn đã tái hiện lại một công chúa Ngọc Anh với tâm lý phức tạp của khát vọng, hạnh phúc, mất mát, chia lìa. Nàng là một giai nhân tuyệt sắc, vẻ đẹp long lanh kiều diễm với đôi môi thắm như hoa yên chi, nhưng đằng sau vẻ đẹp đó là nỗi buồn sâu thẳm. Nàng vốn mang tấm lòng mộ Phật, sống ẩn mình với câu kinh tiếng kệ, vẫn tưởng cuộc đời công chúa đã an yên nơi cửa Phật nhưng rồi trong cơn binh biến, nàng đã phải trở lại Kinh thành nhưng lòng vẫn mong trở về chùa Đại Giác để cầu nguyện cho cha lấy lại cơ đồ.

Hình ảnh nàng lên kiệu khi bóng chiều tĩnh lặng, tiếng chuông Thiên Mụ đổ dài họa lên khung cảnh bi thương, trĩu nặng. Một vẻ đẹp pha lẫn nét u buồn trước nhân tình thế thái mà thân gái liễu nhi phải dãi dầu gió bụi. Thế nhưng đằng sau gánh nặng trăn trở quốc gia, còn một nỗi niềm khuất sâu trong lòng công chúa, khi nàng gặp gỡ, đàm đạo cùng Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành, để những ngơ ngẩn, thổn thức trong nàng bỗng nhiên trỗi dậy. Nỗi buồn xáo động tâm can khi công chúa đến yết bái Thiền sư ở chùa Thiên Mụ. Đây cũng là định mệnh mà nàng đã bước vào, như bước chân vào con đường bi kịch, để những thanh tịnh trầm an bỗng bị hất tung như mảnh rèm voan trong gió lạnh.

Và rồi nỗi bất an ấy ngày càng lớn dần, trở thành hệ trọng và u uất khi đức vua Minh Mạng khuyên nàng xuất giá. Mặt hoa ủ dột, lòng trĩu nặng không yên bởi người mà nàng nghĩ đến, mong được cùng chung gối mộng lại là một Thiền sư. Nỗi đau buồn dù chế ngự trong tâm nhưng thăm thẳm tựa non trùng, ủ ê như sóng cuộn. “Tiếng chuông trùm lên cảnh vật, vang mãi, vang mãi, qua đồi Hà Khê, qua núi Ngự Bình”, tiếng chuông như “khơi sâu vào nỗi lòng thổn thức” của nàng công chúa, khiến cho mày châu vóc ngọc phút chốc xanh xao.

Để rồi khi nhận ra mình đã mang khối tình trao cho vị Thiền sư nơi cửa Phật, oan trái bỗng chợt trùng trùng càng làm cho công chúa Ngọc Anh trở nên phiền não bội phần. Nỗi nhớ thương, mong mỏi khiến nàng mất đi an ổn. Thế nhưng thay vì nhận ra sai lầm, nàng lại ngày đêm theo đuổi mối tình vô vọng. Dù đã bị Thiền Sư từ chối khi nàng đến trong Chính điện nhưng nàng vẫn cứ say mê, trượt ngã trong phiền não. Chỉ cần nhìn thấy Thiền sư, nàng đã xao động tâm can. Chỉ cần chiếc áo cà sa của Người lướt qua, nàng đã thấy như bị thôi miên, đổ ngã. Mỗi khi nhắc đến Thiền sư, nàng lại như mê sảng. Nỗi nhớ mong tơ tưởng đã làm cho nàng bấn loạn gầy gò. Vì tình yêu mà nàng không nghĩ đến ranh giới giữa người tu sĩ và kẻ tục trần. Mối tình mù quáng, si mê ấy đã khiến nàng quên hết những điều tâm nguyện nơi cửa Phật, chỉ mong được Thiền sư đón nhận mối tương duyên. Nàng không còn nhận ra giới hạn và đạo lý cần phải giữ, chỉ mong mỏi được Thiền sư hồi đáp mối tình sâu nặng. Tình yêu của nàng ngập tràn bi lụy, đắm đuối đau thương bởi đáp lại nàng, chỉ là thái độ dửng dưng, lạnh nhạt và né tránh.

  

Tập truyện ngắn lịch sử “Đêm trắng Thăng Long” của nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga

 

Không buông bỏ, không tỉnh thức, công chúa càng lúc càng dấn sâu vào mối tình hư mộng khi nàng cầu xin nhà vua tác hợp cho mình nên duyên cùng Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành, một mong muốn khiến ai nghe qua cũng phải kinh hoàng thảng thốt. Một nàng công chúa lại muốn nên duyên với một quốc sư, không những trái luân thường đạo lý mà còn mang tội với đời khi phá vỡ đường tu của người phạm hạnh.

Trong sự tuyệt vọng khôn cùng, nàng nghĩ rằng với oai lực của bậc quân vương sẽ làm cho Thiền sư phải tuân theo mệnh lệnh. Thế nhưng một lần nữa, công chúa Ngọc Anh phải đành thất vọng khi Thiền sư một mực giữ vững tâm nguyện tu hành. Sự cương nghị, vững như núi Tu Di của Người đã làm cho nàng vô cùng đau khổ. Nàng như một người mất trí, cứ khóc than, mê sảng. Ngày qua ngày, thân ngọc héo hon, sắc ngọc bơ phờ như hoa tàn, liễu úa. Trong mắt nàng, lầu son gác tía không đổi được một ánh mắt ấm của Thiền Sư, vạn người cung kính cũng không bằng một lần Thiền sư xuất hiện. Trong lòng nàng chỉ có bóng Thiền sư, tâm trí nàng chỉ có mỗi Thiền sư là lẽ sống.

Và rồi, nàng càng trở nên u ảm khi Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành rời chùa Thiên Mụ ra đi, để giữ một đời sống Đạo.

Gạt bỏ mọi lời khuyên nhủ của cung nữ Xuân Lan, phớt lờ mọi lời tác hợp với các vương tôn công tử, lòng Ngọc Anh chỉ tơ tưởng, nhung nhớ Thiền sư, mặc cho Người đã rời xa cách biệt. Trong tuyệt vọng, nàng quyết thân chinh gót ngọc để tìm đến nơi trú ngụ của Thiền sư, cho thỏa lòng thương nhớ. Tình yêu của công chúa Ngọc Anh như một ngọn lửa, như dòng nước xoáy, trỗi dậy ào ạt và mãnh liệt. Khi diện kiến Thiền sư nơi chùa Từ Ân, như từ vô lượng kiếp, cảm xúc trong nàng trỗi dậy, ánh mắt nàng như nước hồ thu, vừa rực sáng vừa long lanh ngấn lệ. Nàng bỏ xuống thân thế hoàng gia để làm một người bình thường với ước nguyện được yêu thương như bao người khác. Nàng đau khổ, van xin, dại khờ, trách cứ…nhưng rồi những gì nàng nhận được vẫn chỉ là sự thờ ơ, từ chối của Thiền sư.

Nàng quỳ trong im lặng, một hình ảnh làm lay động lòng người, vừa thương cảm xót xa, vừa lắc đầu tiếc nuối, bởi đó là sự mù quáng, mê lầm của con người trong thế giới ba sinh, là tình yêu mê cuồng, bi lụy. Chỉ vì yêu mà con người có thể mang hết lòng dạ để sống chết với tình mà không phân biệt đúng sai, tội lỗi.

Nàng khóc cạn nước mắt nhưng Thiền sư vẫn bình thản quay đi. Người về chùa Đại Giác để né tránh sự luyến lưu từ công chúa. Trong chút hy vọng cuối cùng, công chúa đã đến tìm người và van xin Thiền sư cho nàng được nắm lấy bàn tay, như chiếc phao cứu sinh cho người sắp đuối. Nàng chỉ mong được nhìn thấy bàn tay người nàng yêu thương, chỉ bấy nhiêu đó cũng đủ để nàng thỏa lòng ước nguyện. Và khi Thiền sư đưa tay ra, như một đóa hoa sen, nàng đã nắm lấy tay Người, “vừa hôn vừa khóc như mưa”.

Tình yêu của công chúa dành cho Thiền sư không có gì cưỡng lại bởi trong lòng công chúa, Người là liều thuốc hồi sinh mà cũng là thuốc độc, chỉ một hình ảnh của Người cũng có thể làm nàng vỡ tan hay sống dậy. Thế nhưng điều đắng cay oan nghiệt không dừng lại ở đó mà nó đã đi đến một kết cục bi thương, khi Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành tự thiêu thân trong lửa đỏ. Ngọn lửa kết thúc mối tình oan nghiệt của công chúa Ngọc Anh và giữ trọn đức hạnh của Người. Thiền sư ra đi, Ngọc Anh mới thảng thốt nhận ra, trong đau đớn và hối hận, nàng như một kẻ mất hồn, lạc lõng giữa u buồn, đổ nát. Nàng chỉ còn lại một mình đơn độc, xung quanh nàng mọi thứ trở thành vô nghĩa khi người nàng yêu thương không còn ở trên đời. Sau khi lo hậu sự cho Thiền sư tại chùa Đại Giác, Ngọc Anh đã uống thuốc độc quyên sinh để kết thúc mối tình oan nghiệt.

Bằng ngòi bút tài hoa, nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga đã kể lại câu chuyện tình bi thương, dằn vặt của một nàng công chúa với hình ảnh tả thực đầy mỹ cảm. Bút pháp mềm mại và lời văn bay bổng, mượt mà, từng mạch truyện được phác họa thâm trầm, liền mạch và sống động, toát lên sự dữ dội trong tình yêu của nàng công chúa. Một tình yêu giữa thế giới tục trần, miên viễn với say đắm, si mê, chấp ngã, tận cùng, để rồi cứ phải trôi lăn trong nỗi đau của tan hợp và hoại diệt.

Đối lập với công chúa Ngọc Anh, người ta lại nhìn thấy một vị Thiền sư tĩnh lặng như sơn mộc. Giữa bể khổ vô thường, Người vẫn giữ cho mình một lòng an nhiên tự tại, khước từ mọi cám dỗ hồng trần, nương về cõi Phật. Trong mắt Người, những danh vọng, tài sắc như bọt nước thoáng qua, không thể đánh động lòng người mộ đạo. Sự kiên định của Thiền sư khi công chúa Ngọc Anh đến chùa Thiên Mụ, mặc cho công chúa thẫn thờ, ngưỡng mộ, Người vẫn giữ lòng không động, lặng im.

Trái tim đa sầu đa cảm của công chúa Ngọc Anh như gió va vào núi. Người chỉ đáp lại bằng sự điềm nhiên và lặng lẽ, kiên cố hành trì chính niệm trước ủy mị tư tình. Nhưng càng xa cách và viễn ly ái dục, xem những lời than thở, vật vã của Ngọc Anh như gió bụi thoáng qua thì càng làm cho nàng trở nên sầu thương và khó dứt. Trước tình cảnh đó, Thiền sư chỉ lẳng lặng quay đi, sự im lặng của Người như bức tường thành vững chãi, như hoa sen trắng giữa bùn lầy. Khi hay tin sư phụ của Thiền sư là Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc, trụ trì chùa Từ Ân viên tịch, Người đã nhân dịp này rời khỏi chùa Thiên Mụ, một chuyến đi để dứt trừ sợi dây luyến ái vô minh mà Ngọc Anh đang cố tình buộc chặt. Người đi để giữ trọn đạo tu hành, rời xa phù hư ảo ảnh để sống đời tỉnh giác.

 

Ảnh minh họa.

 

Trái ngược với những héo hon sầu khổ của công chúa Ngọc Anh, con đường của Thiền sư hướng đến là bình an và vô nguyện. Người chỉ mong một đời thành tựu theo chính pháp. Ánh mắt Người luôn hướng đến chúng sinh chứ không đặt ở cung hoàng điện ngọc.

Nhưng Thiền sư cũng là một con người, đứng trước nỗi đau bám riết và tình yêu vô bờ bến của công chúa Ngọc Anh, Người đã không thể lạnh lùng để nhìn số phận của nàng ngụp lặn trong bể khổ. Khi bàn tay Người đưa ra như lòng từ bi để cứu vớt sự sống cho công chúa, để rồi sau đó, Thiền sư đã chọn cho mình con đường tự thiêu để giữ tròn tâm Đạo. Khi Tịnh Thất chìm trong lửa đỏ, người ta đã đọc được một bài kệ của Thiền sư trên vách gỗ:

THIỆT đức rèn kinh vẹn kiếp trần

THÀNH không vẩn đục vẫn trong ngần

LIỄU tri mộng huyễn chân như huyễn

ĐẠT đạo mình vui đạo mấy lần

Bài thơ như khép lại cuộc đời một Thiền sư tài năng đức độ mà cũng mở ra cánh cửa giải thoát cho một bậc tu hành không còn sa vào những cám dỗ nơi trần thế. Người đã rũ bỏ thân xác tục phàm để về cõi an nhiên, xem trần gian là cõi tạm. Trong lửa đỏ, Người không lưu luyến, không sợ hãi, bước qua thế giới vô thường với tâm không vẩn đục. Câu chuyện đã đưa đến cao trào cảm xúc khi biết rằng Thiền sư đã chọn con đường tịch diệt bằng cách hỏa thiêu. Và những câu hỏi được đặt ra: “Phải chăng công chúa Ngọc Anh đã đẩy nhà sư đến tận cùng lựa chọn?”, “Phải chăng vì tình yêu mù quáng của nàng đã khiến nhà sư hỏa thiêu nhục thể?”. Những nỗi tiếc thương, dằn vặt pha lẫn chút trách hờn, day dứt…nhen nhúm trong lòng người đọc vì không làm chủ được lòng mình mà nàng đã gây ra tội lỗi, dẫn đến số phận nghiệt ngã cho mình và kinh động con đường hạnh nguyện của Thiền sư.

Bằng ngôn từ hài hòa uyển chuyển, “Công chúa Ngọc Anh” là một tác phẩm mang vẻ đẹp liễu tri huyễn mộng, là hơi thở cuộn trào trong khát vọng tồn sinh đầy ngổn ngang tự sự, là tuyệt vọng, si mê. Từng cánh hoa, chiếc lá cũng chở đầy ưu tư, da diết. Công chúa Ngọc Anh như hiện thân của con người ở kiếp lao trầm, lặn ngụp trong yêu đương mộng mị, nàng chưa thể vượt qua ngưỡng ái tình, chưa đủ tĩnh tâm để thoát khỏi vòng tục lụy nên phải mang một kết cục bi thương.

Nếu công chúa Ngọc Anh là một khía cạnh của si mê, mù mịt thì hình ảnh của Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành lại hiện lên như sự minh triết an trầm, nhắc nhở chúng ta cần quán thân bất tịnh, tỉnh táo để nhận ra hư ảo của tình yêu, sẽ phần nào làm cho con người bớt đi niềm luyến ái. Câu chuyện như một lời cảnh tỉnh: “Ái tình là điều khiến con người dễ lầm đường lạc lối”, vì yêu cái đẹp của Thiền sư mà bất chấp khổ đau, để rồi khi vướng vào vòng si mê thì không thể thoát ra, khó lòng buông bỏ và sáng suốt.

Dù có ý kiến cho rằng công chúa Ngọc Anh và mối tình với Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành chỉ là câu chuyện hư cấu, tuy nhiên nếu chỉ dựa trên trí tưởng tượng thì “Công chúa Ngọc Anh” vẫn là một tác phẩm giàu triết lý nhân sinh. Truyện đề cao giá trị của đời sống tinh thần tín ngưỡng và sự sâu dày trong tầng thức. Kiến tạo tư duy đổi mới lịch sử thông qua văn học bằng cách tìm kiếm sức nặng của tri thức trong cội nguồn truyền thống.

Bằng giọng văn riêng biệt, sâu sắc và lắng đọng, tác giả đã làm nổi bật hình ảnh công chúa Ngọc Anh với vẻ ngoài mềm yếu nhưng lại sẵn sàng bứt phá gia phong để tìm đến tình yêu. Nó làm trỗi dậy thao thức và ngẫm ngợi cái khôn cùng, sợ hãi, chông chênh đến ngờ vực, như hành trình đồng niệm nỗi đau khi bị khước từ, lạnh nhạt. Nguyễn Thị Việt Nga đã phô bày niềm sùng bái, ngưỡng mộ, suy tư đầy ngổn ngang trăn trở của một kiếp người. Tất cả đan xen vào nhau để tạo thành một vòng tròn luân hồi không kết dứt.

“Công chúa Ngọc Anh” của nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga là một tác phẩm văn học hội tụ đầy đủ tính nghệ thuật xã hội, nghệ thuật lịch sử với cấu trúc ngôn ngữ tổng quan, từ đó thể hiện được tính thi pháp nội sinh đầy sáng tạo. Những bối cảnh đẹp lay động lòng người được lột tả qua từng câu từ tinh tế, vừa mỏng manh mềm mại, vừa luồn sâu vào những trăn trở, mãnh liệt, cô đơn, nơi giới hạn giữa tình yêu và lễ giáo. Và Thiền sư như biểu tượng của sự tĩnh lặng giữa vô thường, nơi cái đẹp đến từ thanh tịnh và giải thoát. Câu chuyện mang thông điệp sâu sắc về triết học Phật giáo, nhấn mạnh tầm quan trọng của tỉnh thức trong ngũ dục lục trần, giữa mê và ngộ để không phải rơi vào nghịch cảnh đắng cay. Hành động quyên sinh của công chúa Ngọc Anh là tận cùng oan nghiệt, là kết quả từ nỗi si mê, vì nỗi si mê này mà dẫn đến kết cuộc đầy bi kịch.

Sử dụng khả năng cảm thụ nghệ thuật sâu dày, vốn từ phong phú, nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga đã biến chữ trở thành chất liệu để khâm liệm, là dòng chảy để tái sinh, kiến tạo qua không gian thị giác, buộc người đọc phải dừng lại và chiêm nghiệm. Truyện lịch sử của Nguyễn Thị Việt Nga thoát ra khỏi ranh giới của cũ kỹ đơn điệu, không cứng nhắc khô khan, cũng không cầu kỳ phức tạp mà là sự đan xen vừa đủ giữa cấu trúc “Mô tả, trần thuật, đối thoại, trữ tình”. Đặc điểm nhìn vào bên trong nhân vật để tái hiện quá khứ một cách đa thanh, là một cách vận hành hữu sinh, nơi con chữ luôn chắt lọc và dao động. Chú trọng khai thác thủ pháp biểu đạt nội tâm, giàu mỹ học, mang cái đẹp của một trí thức dấn thân, Nguyễn Thị Việt Nga đã đưa lịch sử trở thành câu chuyện gần gũi và đồng điệu, khai phá tính duy mỹ chuyên sâu của người sáng tác.

V.Đ.P.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm