TIN TỨC

“Công chúa Ngọc Anh – bể khổ kiếp nhân sinh”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-21 14:02:58
mail facebook google pos stwis
759 lượt xem

VÕ ĐÀO PHƯƠNG TRÂM

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Văn học lịch sử vốn được xem là mảng khó viết bởi vừa đảm bảo tính chính xác vừa phải tạo được tính hấp dẫn lôi cuốn. Người viết văn học lịch sử không thể xuyên tạc, tô vẽ hay làm méo mó đi nội dung câu chuyện. Chính vì khó viết nên văn học lịch sử luôn là đề tài thu hút nhiều người đọc, bởi đó là cơ hội để người đọc và người sáng tác chiêm nghiệm lại quá khứ, suy ngẫm về tương lai, trăn trở về những hưng thịnh của thời đại, là một dòng chảy làm tái sinh những giai thoại dựa trên sự kiện lịch sử. Người viết văn học lịch sử là người phục dựng lại những bí ẩn còn chìm sâu trong bức màn thời gian, làm sáng tỏ những giá trị nghệ thuật mang tính truyền thống hay tín ngưỡng.

 

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga

 

Một trong số những tác giả bén duyên với truyện văn học lịch sử là nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga, chị sinh năm 1976, Tiến sĩ Ngữ Văn, nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Tỉnh Hải Dương; Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tỉnh Hải Dương, hiện là Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc Hội Thành phố Hải Phòng.

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga mang trong mình cốt cách quyết liệt, cá tính mạnh mẽ của nữ chính trị nghị trường pha lẫn nét mềm mại trong tâm hồn của người phụ nữ. Chị là một người trẻ tiên phong trên con đường gai góc, khám phá và đào sâu nền văn chương giai đoạn năm 1954-1975 về thân phận con người trong tiểu thuyết đô thị miền Nam. Từ sự bộc trực, nhiệt huyết và khả năng cảm thụ văn học sâu sắc, những tác phẩm truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Thị Việt Nga cũng trở nên tinh tế, tròn đầy.

Với tập truyện lịch sử “Đêm trắng Thăng Long”, bao gồm truyện: Cánh ngỗng đỏ bay qua giếng ngọc; Quỳnh hương điện ngọc; Mây trắng Tràng An; Chuông chùa Chân Giáo; Nước cờ thế sự; Hoa nước mắt; Dư vang trong đá; Đêm trắng Thăng Long; Chuông ngân rừng trúc; Công chúa Ngọc Anh”. Đây là tập truyện giàu giá trị văn học nghệ thuật, khai thác chiều sâu rung động thông qua ngôn ngữ cảm xúc. “Công chúa Ngọc Anh” là một truyện tiêu biểu trong số đó.

Với phương châm “Lấy tác phẩm làm trọng tâm nghiên cứu”, là sự chồng xếp những lát cắt giữa hiện thực và giải thiêng, Nguyễn Thị Việt Nga đã đưa câu chuyện bi thương trở nên sống động với nhiều thông điệp ý nghĩa, chạm vào tầng sâu tâm thức người đọc.

Bằng lối dẫn dắt tinh tế, nhà văn đã tái hiện lại một công chúa Ngọc Anh với tâm lý phức tạp của khát vọng, hạnh phúc, mất mát, chia lìa. Nàng là một giai nhân tuyệt sắc, vẻ đẹp long lanh kiều diễm với đôi môi thắm như hoa yên chi, nhưng đằng sau vẻ đẹp đó là nỗi buồn sâu thẳm. Nàng vốn mang tấm lòng mộ Phật, sống ẩn mình với câu kinh tiếng kệ, vẫn tưởng cuộc đời công chúa đã an yên nơi cửa Phật nhưng rồi trong cơn binh biến, nàng đã phải trở lại Kinh thành nhưng lòng vẫn mong trở về chùa Đại Giác để cầu nguyện cho cha lấy lại cơ đồ.

Hình ảnh nàng lên kiệu khi bóng chiều tĩnh lặng, tiếng chuông Thiên Mụ đổ dài họa lên khung cảnh bi thương, trĩu nặng. Một vẻ đẹp pha lẫn nét u buồn trước nhân tình thế thái mà thân gái liễu nhi phải dãi dầu gió bụi. Thế nhưng đằng sau gánh nặng trăn trở quốc gia, còn một nỗi niềm khuất sâu trong lòng công chúa, khi nàng gặp gỡ, đàm đạo cùng Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành, để những ngơ ngẩn, thổn thức trong nàng bỗng nhiên trỗi dậy. Nỗi buồn xáo động tâm can khi công chúa đến yết bái Thiền sư ở chùa Thiên Mụ. Đây cũng là định mệnh mà nàng đã bước vào, như bước chân vào con đường bi kịch, để những thanh tịnh trầm an bỗng bị hất tung như mảnh rèm voan trong gió lạnh.

Và rồi nỗi bất an ấy ngày càng lớn dần, trở thành hệ trọng và u uất khi đức vua Minh Mạng khuyên nàng xuất giá. Mặt hoa ủ dột, lòng trĩu nặng không yên bởi người mà nàng nghĩ đến, mong được cùng chung gối mộng lại là một Thiền sư. Nỗi đau buồn dù chế ngự trong tâm nhưng thăm thẳm tựa non trùng, ủ ê như sóng cuộn. “Tiếng chuông trùm lên cảnh vật, vang mãi, vang mãi, qua đồi Hà Khê, qua núi Ngự Bình”, tiếng chuông như “khơi sâu vào nỗi lòng thổn thức” của nàng công chúa, khiến cho mày châu vóc ngọc phút chốc xanh xao.

Để rồi khi nhận ra mình đã mang khối tình trao cho vị Thiền sư nơi cửa Phật, oan trái bỗng chợt trùng trùng càng làm cho công chúa Ngọc Anh trở nên phiền não bội phần. Nỗi nhớ thương, mong mỏi khiến nàng mất đi an ổn. Thế nhưng thay vì nhận ra sai lầm, nàng lại ngày đêm theo đuổi mối tình vô vọng. Dù đã bị Thiền Sư từ chối khi nàng đến trong Chính điện nhưng nàng vẫn cứ say mê, trượt ngã trong phiền não. Chỉ cần nhìn thấy Thiền sư, nàng đã xao động tâm can. Chỉ cần chiếc áo cà sa của Người lướt qua, nàng đã thấy như bị thôi miên, đổ ngã. Mỗi khi nhắc đến Thiền sư, nàng lại như mê sảng. Nỗi nhớ mong tơ tưởng đã làm cho nàng bấn loạn gầy gò. Vì tình yêu mà nàng không nghĩ đến ranh giới giữa người tu sĩ và kẻ tục trần. Mối tình mù quáng, si mê ấy đã khiến nàng quên hết những điều tâm nguyện nơi cửa Phật, chỉ mong được Thiền sư đón nhận mối tương duyên. Nàng không còn nhận ra giới hạn và đạo lý cần phải giữ, chỉ mong mỏi được Thiền sư hồi đáp mối tình sâu nặng. Tình yêu của nàng ngập tràn bi lụy, đắm đuối đau thương bởi đáp lại nàng, chỉ là thái độ dửng dưng, lạnh nhạt và né tránh.

  

Tập truyện ngắn lịch sử “Đêm trắng Thăng Long” của nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga

 

Không buông bỏ, không tỉnh thức, công chúa càng lúc càng dấn sâu vào mối tình hư mộng khi nàng cầu xin nhà vua tác hợp cho mình nên duyên cùng Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành, một mong muốn khiến ai nghe qua cũng phải kinh hoàng thảng thốt. Một nàng công chúa lại muốn nên duyên với một quốc sư, không những trái luân thường đạo lý mà còn mang tội với đời khi phá vỡ đường tu của người phạm hạnh.

Trong sự tuyệt vọng khôn cùng, nàng nghĩ rằng với oai lực của bậc quân vương sẽ làm cho Thiền sư phải tuân theo mệnh lệnh. Thế nhưng một lần nữa, công chúa Ngọc Anh phải đành thất vọng khi Thiền sư một mực giữ vững tâm nguyện tu hành. Sự cương nghị, vững như núi Tu Di của Người đã làm cho nàng vô cùng đau khổ. Nàng như một người mất trí, cứ khóc than, mê sảng. Ngày qua ngày, thân ngọc héo hon, sắc ngọc bơ phờ như hoa tàn, liễu úa. Trong mắt nàng, lầu son gác tía không đổi được một ánh mắt ấm của Thiền Sư, vạn người cung kính cũng không bằng một lần Thiền sư xuất hiện. Trong lòng nàng chỉ có bóng Thiền sư, tâm trí nàng chỉ có mỗi Thiền sư là lẽ sống.

Và rồi, nàng càng trở nên u ảm khi Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành rời chùa Thiên Mụ ra đi, để giữ một đời sống Đạo.

Gạt bỏ mọi lời khuyên nhủ của cung nữ Xuân Lan, phớt lờ mọi lời tác hợp với các vương tôn công tử, lòng Ngọc Anh chỉ tơ tưởng, nhung nhớ Thiền sư, mặc cho Người đã rời xa cách biệt. Trong tuyệt vọng, nàng quyết thân chinh gót ngọc để tìm đến nơi trú ngụ của Thiền sư, cho thỏa lòng thương nhớ. Tình yêu của công chúa Ngọc Anh như một ngọn lửa, như dòng nước xoáy, trỗi dậy ào ạt và mãnh liệt. Khi diện kiến Thiền sư nơi chùa Từ Ân, như từ vô lượng kiếp, cảm xúc trong nàng trỗi dậy, ánh mắt nàng như nước hồ thu, vừa rực sáng vừa long lanh ngấn lệ. Nàng bỏ xuống thân thế hoàng gia để làm một người bình thường với ước nguyện được yêu thương như bao người khác. Nàng đau khổ, van xin, dại khờ, trách cứ…nhưng rồi những gì nàng nhận được vẫn chỉ là sự thờ ơ, từ chối của Thiền sư.

Nàng quỳ trong im lặng, một hình ảnh làm lay động lòng người, vừa thương cảm xót xa, vừa lắc đầu tiếc nuối, bởi đó là sự mù quáng, mê lầm của con người trong thế giới ba sinh, là tình yêu mê cuồng, bi lụy. Chỉ vì yêu mà con người có thể mang hết lòng dạ để sống chết với tình mà không phân biệt đúng sai, tội lỗi.

Nàng khóc cạn nước mắt nhưng Thiền sư vẫn bình thản quay đi. Người về chùa Đại Giác để né tránh sự luyến lưu từ công chúa. Trong chút hy vọng cuối cùng, công chúa đã đến tìm người và van xin Thiền sư cho nàng được nắm lấy bàn tay, như chiếc phao cứu sinh cho người sắp đuối. Nàng chỉ mong được nhìn thấy bàn tay người nàng yêu thương, chỉ bấy nhiêu đó cũng đủ để nàng thỏa lòng ước nguyện. Và khi Thiền sư đưa tay ra, như một đóa hoa sen, nàng đã nắm lấy tay Người, “vừa hôn vừa khóc như mưa”.

Tình yêu của công chúa dành cho Thiền sư không có gì cưỡng lại bởi trong lòng công chúa, Người là liều thuốc hồi sinh mà cũng là thuốc độc, chỉ một hình ảnh của Người cũng có thể làm nàng vỡ tan hay sống dậy. Thế nhưng điều đắng cay oan nghiệt không dừng lại ở đó mà nó đã đi đến một kết cục bi thương, khi Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành tự thiêu thân trong lửa đỏ. Ngọn lửa kết thúc mối tình oan nghiệt của công chúa Ngọc Anh và giữ trọn đức hạnh của Người. Thiền sư ra đi, Ngọc Anh mới thảng thốt nhận ra, trong đau đớn và hối hận, nàng như một kẻ mất hồn, lạc lõng giữa u buồn, đổ nát. Nàng chỉ còn lại một mình đơn độc, xung quanh nàng mọi thứ trở thành vô nghĩa khi người nàng yêu thương không còn ở trên đời. Sau khi lo hậu sự cho Thiền sư tại chùa Đại Giác, Ngọc Anh đã uống thuốc độc quyên sinh để kết thúc mối tình oan nghiệt.

Bằng ngòi bút tài hoa, nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga đã kể lại câu chuyện tình bi thương, dằn vặt của một nàng công chúa với hình ảnh tả thực đầy mỹ cảm. Bút pháp mềm mại và lời văn bay bổng, mượt mà, từng mạch truyện được phác họa thâm trầm, liền mạch và sống động, toát lên sự dữ dội trong tình yêu của nàng công chúa. Một tình yêu giữa thế giới tục trần, miên viễn với say đắm, si mê, chấp ngã, tận cùng, để rồi cứ phải trôi lăn trong nỗi đau của tan hợp và hoại diệt.

Đối lập với công chúa Ngọc Anh, người ta lại nhìn thấy một vị Thiền sư tĩnh lặng như sơn mộc. Giữa bể khổ vô thường, Người vẫn giữ cho mình một lòng an nhiên tự tại, khước từ mọi cám dỗ hồng trần, nương về cõi Phật. Trong mắt Người, những danh vọng, tài sắc như bọt nước thoáng qua, không thể đánh động lòng người mộ đạo. Sự kiên định của Thiền sư khi công chúa Ngọc Anh đến chùa Thiên Mụ, mặc cho công chúa thẫn thờ, ngưỡng mộ, Người vẫn giữ lòng không động, lặng im.

Trái tim đa sầu đa cảm của công chúa Ngọc Anh như gió va vào núi. Người chỉ đáp lại bằng sự điềm nhiên và lặng lẽ, kiên cố hành trì chính niệm trước ủy mị tư tình. Nhưng càng xa cách và viễn ly ái dục, xem những lời than thở, vật vã của Ngọc Anh như gió bụi thoáng qua thì càng làm cho nàng trở nên sầu thương và khó dứt. Trước tình cảnh đó, Thiền sư chỉ lẳng lặng quay đi, sự im lặng của Người như bức tường thành vững chãi, như hoa sen trắng giữa bùn lầy. Khi hay tin sư phụ của Thiền sư là Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc, trụ trì chùa Từ Ân viên tịch, Người đã nhân dịp này rời khỏi chùa Thiên Mụ, một chuyến đi để dứt trừ sợi dây luyến ái vô minh mà Ngọc Anh đang cố tình buộc chặt. Người đi để giữ trọn đạo tu hành, rời xa phù hư ảo ảnh để sống đời tỉnh giác.

 

Ảnh minh họa.

 

Trái ngược với những héo hon sầu khổ của công chúa Ngọc Anh, con đường của Thiền sư hướng đến là bình an và vô nguyện. Người chỉ mong một đời thành tựu theo chính pháp. Ánh mắt Người luôn hướng đến chúng sinh chứ không đặt ở cung hoàng điện ngọc.

Nhưng Thiền sư cũng là một con người, đứng trước nỗi đau bám riết và tình yêu vô bờ bến của công chúa Ngọc Anh, Người đã không thể lạnh lùng để nhìn số phận của nàng ngụp lặn trong bể khổ. Khi bàn tay Người đưa ra như lòng từ bi để cứu vớt sự sống cho công chúa, để rồi sau đó, Thiền sư đã chọn cho mình con đường tự thiêu để giữ tròn tâm Đạo. Khi Tịnh Thất chìm trong lửa đỏ, người ta đã đọc được một bài kệ của Thiền sư trên vách gỗ:

THIỆT đức rèn kinh vẹn kiếp trần

THÀNH không vẩn đục vẫn trong ngần

LIỄU tri mộng huyễn chân như huyễn

ĐẠT đạo mình vui đạo mấy lần

Bài thơ như khép lại cuộc đời một Thiền sư tài năng đức độ mà cũng mở ra cánh cửa giải thoát cho một bậc tu hành không còn sa vào những cám dỗ nơi trần thế. Người đã rũ bỏ thân xác tục phàm để về cõi an nhiên, xem trần gian là cõi tạm. Trong lửa đỏ, Người không lưu luyến, không sợ hãi, bước qua thế giới vô thường với tâm không vẩn đục. Câu chuyện đã đưa đến cao trào cảm xúc khi biết rằng Thiền sư đã chọn con đường tịch diệt bằng cách hỏa thiêu. Và những câu hỏi được đặt ra: “Phải chăng công chúa Ngọc Anh đã đẩy nhà sư đến tận cùng lựa chọn?”, “Phải chăng vì tình yêu mù quáng của nàng đã khiến nhà sư hỏa thiêu nhục thể?”. Những nỗi tiếc thương, dằn vặt pha lẫn chút trách hờn, day dứt…nhen nhúm trong lòng người đọc vì không làm chủ được lòng mình mà nàng đã gây ra tội lỗi, dẫn đến số phận nghiệt ngã cho mình và kinh động con đường hạnh nguyện của Thiền sư.

Bằng ngôn từ hài hòa uyển chuyển, “Công chúa Ngọc Anh” là một tác phẩm mang vẻ đẹp liễu tri huyễn mộng, là hơi thở cuộn trào trong khát vọng tồn sinh đầy ngổn ngang tự sự, là tuyệt vọng, si mê. Từng cánh hoa, chiếc lá cũng chở đầy ưu tư, da diết. Công chúa Ngọc Anh như hiện thân của con người ở kiếp lao trầm, lặn ngụp trong yêu đương mộng mị, nàng chưa thể vượt qua ngưỡng ái tình, chưa đủ tĩnh tâm để thoát khỏi vòng tục lụy nên phải mang một kết cục bi thương.

Nếu công chúa Ngọc Anh là một khía cạnh của si mê, mù mịt thì hình ảnh của Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành lại hiện lên như sự minh triết an trầm, nhắc nhở chúng ta cần quán thân bất tịnh, tỉnh táo để nhận ra hư ảo của tình yêu, sẽ phần nào làm cho con người bớt đi niềm luyến ái. Câu chuyện như một lời cảnh tỉnh: “Ái tình là điều khiến con người dễ lầm đường lạc lối”, vì yêu cái đẹp của Thiền sư mà bất chấp khổ đau, để rồi khi vướng vào vòng si mê thì không thể thoát ra, khó lòng buông bỏ và sáng suốt.

Dù có ý kiến cho rằng công chúa Ngọc Anh và mối tình với Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành chỉ là câu chuyện hư cấu, tuy nhiên nếu chỉ dựa trên trí tưởng tượng thì “Công chúa Ngọc Anh” vẫn là một tác phẩm giàu triết lý nhân sinh. Truyện đề cao giá trị của đời sống tinh thần tín ngưỡng và sự sâu dày trong tầng thức. Kiến tạo tư duy đổi mới lịch sử thông qua văn học bằng cách tìm kiếm sức nặng của tri thức trong cội nguồn truyền thống.

Bằng giọng văn riêng biệt, sâu sắc và lắng đọng, tác giả đã làm nổi bật hình ảnh công chúa Ngọc Anh với vẻ ngoài mềm yếu nhưng lại sẵn sàng bứt phá gia phong để tìm đến tình yêu. Nó làm trỗi dậy thao thức và ngẫm ngợi cái khôn cùng, sợ hãi, chông chênh đến ngờ vực, như hành trình đồng niệm nỗi đau khi bị khước từ, lạnh nhạt. Nguyễn Thị Việt Nga đã phô bày niềm sùng bái, ngưỡng mộ, suy tư đầy ngổn ngang trăn trở của một kiếp người. Tất cả đan xen vào nhau để tạo thành một vòng tròn luân hồi không kết dứt.

“Công chúa Ngọc Anh” của nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga là một tác phẩm văn học hội tụ đầy đủ tính nghệ thuật xã hội, nghệ thuật lịch sử với cấu trúc ngôn ngữ tổng quan, từ đó thể hiện được tính thi pháp nội sinh đầy sáng tạo. Những bối cảnh đẹp lay động lòng người được lột tả qua từng câu từ tinh tế, vừa mỏng manh mềm mại, vừa luồn sâu vào những trăn trở, mãnh liệt, cô đơn, nơi giới hạn giữa tình yêu và lễ giáo. Và Thiền sư như biểu tượng của sự tĩnh lặng giữa vô thường, nơi cái đẹp đến từ thanh tịnh và giải thoát. Câu chuyện mang thông điệp sâu sắc về triết học Phật giáo, nhấn mạnh tầm quan trọng của tỉnh thức trong ngũ dục lục trần, giữa mê và ngộ để không phải rơi vào nghịch cảnh đắng cay. Hành động quyên sinh của công chúa Ngọc Anh là tận cùng oan nghiệt, là kết quả từ nỗi si mê, vì nỗi si mê này mà dẫn đến kết cuộc đầy bi kịch.

Sử dụng khả năng cảm thụ nghệ thuật sâu dày, vốn từ phong phú, nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga đã biến chữ trở thành chất liệu để khâm liệm, là dòng chảy để tái sinh, kiến tạo qua không gian thị giác, buộc người đọc phải dừng lại và chiêm nghiệm. Truyện lịch sử của Nguyễn Thị Việt Nga thoát ra khỏi ranh giới của cũ kỹ đơn điệu, không cứng nhắc khô khan, cũng không cầu kỳ phức tạp mà là sự đan xen vừa đủ giữa cấu trúc “Mô tả, trần thuật, đối thoại, trữ tình”. Đặc điểm nhìn vào bên trong nhân vật để tái hiện quá khứ một cách đa thanh, là một cách vận hành hữu sinh, nơi con chữ luôn chắt lọc và dao động. Chú trọng khai thác thủ pháp biểu đạt nội tâm, giàu mỹ học, mang cái đẹp của một trí thức dấn thân, Nguyễn Thị Việt Nga đã đưa lịch sử trở thành câu chuyện gần gũi và đồng điệu, khai phá tính duy mỹ chuyên sâu của người sáng tác.

V.Đ.P.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm