TIN TỨC

Cụ Nguyễn Du viết Truyện Kiều lúc nào và ở đâu?

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-08-04 12:13:45
mail facebook google pos stwis
4095 lượt xem

Tôi được duyên may làm quen với Truyện Kiều rất sớm như đã trình bày ở bài “Đọc Kiều thương khách viễn phương”.

Qua một số tài liệu văn bản tôi được đọc từ mấy chục năm nay về cuộc đời, về thân thế và sự nghiệp của Đại thi hào Nguyễn Du và bằng ba ngàn hai trăm năm mươi bốn (3254) câu thơ lục bát đã đeo đuổi, đã ám ảnh trong lòng tôi suốt bao năm tháng và tôi muốn làm một điều gì để biểu tỏ lòng ngưỡng mộ kính yêu đối với tác phẩm, và với người đã tái sinh lại các nhân vật bất tử, điển hình là người con gái, người phụ nữ tài sắc và bất hạnh Thúy Kiều.

Trong các bài khảo luận nghiên cứu của các học giả cận đại và hiện đại đều đặt nghi vấn là Nguyễn Du viết Truyện Kiều trước khi Thế tổ Cao hoàng đế Gia Long thống nhất sơn hà, hay sau khi ra làm quan với Nguyễn Triều, và viết trước khi đi sứ sang Trung Hoa hay sau khi đi sứ về, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra đáp án chính xác và điều nầy vẫn còn tồn nghi trong nền văn học cổ điển thời trung đại.

Có một vấn đề mà kẻ hậu học này cố tìm nhưng không thấy trong các bài viết là không ai đặt câu hỏi Nguyễn Du viết “Đoạn Trường Tân Thanh” ở địa điểm nào, chỉ đặt nặng thời gian mà không nhắc đến không gian, địa điểm tạo cảm hứng sáng tác cho nhà thơ.

Nhà công quán hay công vụ của Kinh thành Huế nơi dành cho chức sắc quan viên từ các nơi về lưu trú trong thời gian đương nhiệm, các tòa nhà ấy nằm rải rác xung quanh đường dẫn vào Đại Nội, nơi bộ máy quân chủ đang ngự trị – Từ vòng ngoài Tử Cấm Thành cho đến các vùng lân cận như Vỹ Dạ, Nguyệt Biều, Kim Long, Xuân Hòa, An Ninh Thượng, An Ninh Hạ, đều có các dinh thự, các tòa nhà xanh mát để phục vụ bá quan văn võ tùy theo phẩm trật (cửu phẩm quan giai), một trong những ngôi nhà ấy là nơi cư ngụ của quan Đông các học sĩ tước Du Đức Hầu và sau này là Hữu Tham Tri bộ lễ, tức nhà thơ Nguyễn Du vào thập niên những năm 1882 của thế kỷ XIX.

Ra làm quan và dưới sự chỉ dụ của Vua Gia Long, Nguyễn Du đã đảm nhận nhiều chức vụ như Tri phủ Thường tín ở tỉnh Hà Đông rồi đến năm 1806 làm Đông Các học sĩ, năm 1809 làm Cai bạ ở tỉnh Quảng Bình, ông là một vị quan mẫn cán thanh liêm. Về Kinh đô Huế, vào năm 1813 ông được tấn phong chức Cần Chánh điện học sĩ và được Vua Gia Long cử làm chánh sứ đưa cống lễ sang triều đại nhà Thanh ở Trung Hoa.

Kẻ hậu học này có suy nghĩ và suy đoán là trong thời gian công cán ở Trung Hoa, ông đã gặp được quyển tiểu thuyết “Kim Vân KIều Truyện” của Thanh Tâm tài nhân, năm 1814 về lại Kinh đô Huế ông đã đọc, đã nghiền ngẫm và trong khung cảnh hữu tình với buổi sáng sương lam, buổi chiều tím sẫm, màn đêm về giữa: “Hương Giang nhất phiến nguyệt, Kim cổ hứa đa sầu” để cảnh mộng mị biến thành tình và tình tạo nên tứ để Nguyễn Du tái sinh lại các nhân vật của “Kim Vân Kiều Truyện” thành “Đoạn Trường Tân Thanh” với ba ngàn hai trăm năm mươi bốn (3254) câu lục bát suốt thời gian rảnh rỗi việc quan nha.

Tôi cũng nghĩ rằng trước năm 1802 ông cụ đã vân du suốt dải sông Lam và chín mươi chín ngọn Hồng lĩnh ở góc trời quê kiểng thì ở tại đất kinh đô văn vật có núi Ngự sông Hương – gót phiêu bồng lãng tữ của người thơ đa cảm đa sầu, đa đoan đa hệ hụy nầy cũng đã lang thang khắp vùng miền “Nghêu ngao vui thú yên hà”, chắc đã từng xuôi về Vỹ Dạ để ngắm vi lô san sát và vườn cau xanh ngát một màu, lên Nguyệt Biều để thấy một bầu trăng mát lạnh, “long lanh đáy nước in trời”, đứng trên cầu Bạch Hổ nhìn cồn bắp Giả Viên để thấy trời mây màu nguyệt bạch đang lững lơ trôi vào cõi vô cùng; tôi cũng nghĩ rằng nhà công vụ ông đang lưu trú thuộc miệt Kim Long. Kim Long với bao phủ đệ huy hoàng, với bao trai thanh gái lịch, với tình với cảnh đẹp mơ màng như sương khói buổi đầu thu, ở đây ông có thể thả chiếc thuyền con trôi nhẹ trên con sông thơm mùi thạch xương bồ huyền hoặc, đến bến đá chùa Thiên Mụ, neo thuyền thả bộ vào chùa bước lên Đại hùng bửu điện, đảnh lễ Tam bảo với tất cả lòng thành rồi men theo hậu liêu ra đồi Hà Khê nhìn lên núi Triệu Linh với ngổn ngang gò đống; nơi yên nghỉ của bao lớp con dân các làng lân cận, từ đồi Hà Khê muốn lên núi Triệu Linh cũng phải băng qua một dòng Tiểu Khê, tất cả các bức tranh sống động ấy đã được đưa vào phần đầu tác phẩm với “…Ngổn ngang gò đống kéo lên”, với “…Nao nao dòng nước uốn quanh”.

Trong không gian trong lành của tháng ba: “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi…”. Một mùa xuân của năm nào sau 1814, Nguyễn Du đã chấp bút dọc dài cuộc sáng tác cho đến câu cuối cùng của tuyệt phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh” trên mảnh đất vừa khắc khe lễ giáo vừa lãng mạn ân tình vào tháng nào, năm nào. Chúng ta khó biết được, nhưng nhà văn Thanh Lãng trong tác phẩm “Bảng lược đồ văn học Việt Nam” trang 679 dòng thứ 6 – cho rằng: “Nguyễn Du viết Kiều vào khoảng vài ba năm trước khi chết, tức vào hồi 49 đến 53 tuổi, nghĩa là khi ông ta đã nhìn và cảm tất cả…”. Có lẽ chúng tôi đồng ý với suy nghĩ của nhà văn Thanh Lãng.

Trải qua những cuộc bể dâu như cụ Phạm Đình Hổ đã đặc tả trong “Tang Thương Ngẫu Lục” Tố Như tiên sinh đã thấy bằng mắt, đã nghe bằng tai, đã thấu cảm mọi sự, mọi việc bằng trái tim đã bị nhiều lần thương tổn, tất cả, tất cả đã được cụ chuyển tải bằng những câu thơ lục bát đầy máu lệ khóc cho người và khóc cho mình, khóc cho một xã hội mà vua chỉ là một bù nhìn chúa thì hoang dâm vô đạo, quan quân thì dựa hơi chủ nhũng nhiễu dân tình, dân chúng đói rách trong khi chủ tớ loạn thần tiệc tùng ngập ngụa thức uống đồ ăn…

Khóc cho thân phận mình – thuở ấu thơ đã thiếu tình thương cha mẹ, lớn lên tới tuổi yêu đương đã bị thất tình rồi thất chí phải sống đời du mục lang thang mất mười năm săn bắn nhì nhằng ở sông Lam núi Lĩnh, bệnh hoạn nghèo khổ; tinh thần suy yếu thể chất gầy gò, đến lúc được Vua Gia Long trọng dụng mời về hợp tác với triều đình, những tưởng vinh thê ấm tử, phu quý phụ vinh, ai ngờ cũng nghèo xác nghèo xơ – nghèo vì tấm lòng thanh sạch thanh liêm, nghèo đến nỗi vợ con thiếu cơm thiếu áo bụng đói thân lạnh ở quê nhà, còn ông thì đau ốm liên miên, cộng thêm đói lạnh, suy nghĩ bao cuộc hí trường mà tóc bạc trước tuổi, ông đã từng than: “Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc. Nhất thân ngọa bệnh Đế Thành đông”

Vào giai đoạn cuối đời, ông được vinh thăng nhiều chức vụ, nhưng chỉ nhận chức Lễ bộ Hữu tham tri và ở tại Kinh đô cho đến ngày từ trần là ngày 16 tháng 9 năm 1820 tức là ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn niên hiệu Minh Mệnh hưởng dương 56 tuổi.

Ngày từ biệt cõi đời không có vợ con bên cạnh, chỉ có một người em và một người cháu vì họ cũng đang làm quan tại Kinh đô, thi hài được an táng tại đồng Bàu Đá cạnh hồ Bầu Đá thuộc làng An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (Bây giờ là làng An Ninh Thượng, thuộc phường Hương Long, thành phố Huế).

“…Theo gia phả mộ Nguyễn Du cải táng 2 lần, lần thứ nhất vào tháng 5 năm Kiến Phúc nguyên niên (1884) người con thứ hai của cụ là Nguyễn Ngũ rước di hài từ An Ninh Thượng về yên táng tại chỗ đất cạnh Từ đường, còn chỗ mới là mới dời tới vào năm Bảo Đại nguyên niên (1926)…”*

Thể phách Nguyễn Du đã trả về cho cát bụi nhưng tinh anh cụ vẫn bất tử với thời gian.

N.G.T.C

Trích từ “Đọc Kiều thương khách viễn phương”

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm