TIN TỨC

Di cảo thơ Chế Lan Viên: Khi thơ là thuốc, là lời kinh kệ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-04-11 11:21:16
mail facebook google pos stwis
1948 lượt xem

Chế Lan Viên là người mà sự nghĩ ngợi vận vào thơ như thể thơ cũng là thuốc, thơ chẩn ra được cái bệnh đau của kiếp người, và “Có vào nỗi đau mới có ích cho người”.

Có những loại hình văn học nghệ thuật phải đến thời điểm nhất định bạn mới thấy chúng cần thiết.

Ở hoàn cảnh sống bình thường, chắc chẳng ai nghĩ đến việc đọc một vài câu thơ giữa lúc uống thuốc hay lúc bắt xe đi làm. Nhưng có thể viên thuốc ấy gợi ra kỷ niệm về những lần ốm đã qua, thơ có thể là một người bạn đến động viên đúng lúc.

Chế Lan Viên là tạng người mà sự nghĩ ngợi cũng vận vào thơ như thể thơ cũng là thuốc, “thơ nói cho ra điều đó” – chẩn ra được cái bệnh đau của kiếp người: “Có vào nỗi đau mới có ích cho người” (Thuốc, 1988).

Tập Chế Lan Viên – Di cảo thơ (*) do vợ của ông, nhà văn Vũ Thị Thường, góp nhặt và tuyển chọn in gộp ba tập Di cảo I, II, III, gồm 508 bài thơ, phần lớn là những bài ngắn. Trước đây chúng đã được in thành các tập riêng, nay cầm trên tay một tập dày dặn, dù đã biết thi nhân vốn là người có sự nghiệp thơ ca đồ sộ, nhưng cảm giác của người đọc vẫn khá choáng ngợp.

Không hẳn vì độ dày (mấy ai dám in dày) mà vì dày đặc những tự sự riêng tư, tràn ngập trăn trở về nhân sinh, về bản thể và về thơ. Chế Lan Viên từng ký tên Chàng Văn, giữ mục nói chuyện nghề nghiệp thơ trên báo Văn Nghệ nhiều năm, in những tiểu luận sắc cạnh cả về vấn đề chính luận lẫn sáng tạo.

Những bài thơ di cảo vẫn nối dài mạch suy tư ấy, nhưng là sự hướng nội, dành cho chính mình.

Chế Lan Viên năm 17 tuổi, khi ra tập Điêu tàn

Thi pháp của cái đau

Đọc di cảo thơ Chế Lan Viên, khác với một giọng sử thi của thời Điêu tàn, Ánh sáng và phù sa hay Đối thoại mới, ở đây ta gặp nhiều cơn đau. Chế Lan Viên từng phải đi chữa bệnh dài ngày ở Trung Quốc, cuối đời ông cũng bị bệnh.

Lý do thể chất tác động mạnh đến cách tư duy, đến những điều viết ra trong thơ, nhưng ta phải nhớ đây là những bài thơ di cảo, chưa công bố lúc ông còn sống.

Cả một đời thơ Chế Lan Viên giấu khá kín những cơn đau sau những lời thơ đầy khẩu khí thời đại mạnh mẽ như thơ quảng trường. Có lúc cơn đau hiện diện theo kiểu gián cách thời ấy, như “mạch máu ta là những mối đau thương” (Đừng quên lãng, tập Điêu tàn, 1937) hoặc trong một ký ức được ông viết thật nhẹ bẫng: “Năm con đau, mế thức một mùa dài” (Tiếng hát con tàu, tập Ánh sáng và phù sa, 1960).

Giáo sư Hà Minh Đức từng cung cấp một thông tin khá quan trọng về bài hát đã từng được đưa vào sách giáo khoa này, Chế Lan Viên đã viết với nhan đề ban đầu là Con tàu Tây Bắc trong hoàn cảnh đau yếu, không đi đâu được, trong khi phong trào đi thực tế rầm rộ. Cơn đau là một lý do để tác giả bứt rứt: “Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?” và đành an ủi “Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu”.

Cho đến các bài di cảo, các cơn đau hiện diện, thành một vấn đề thường trực. Có hơn 50 bài có từ khóa “đau” trong văn bản thơ, chưa kể những bài ghi ở thời điểm “mùa bệnh” hay “trước khi mổ”.

Chế Lan Viên có những hình ảnh liên tưởng riêng biệt, từ liên tưởng này bắc cầu liên tưởng khác, qua mấy tầng ngữ nghĩa. Từ nỗi đau tự tri của cá nhân với nỗi đau của con trai ngọc để từ vết thương hóa ngọc, ông nghĩ về một phương diện khác của cái đau.

Trai chỉ tạo ra ngọc một lần rồi chết, nhưng con người “sau viên ngọc sau cùng rồi lại làm viên thứ nhất” (Ngọc sau cùng). Với ông, hạnh phúc lại là hệ quả của nỗi đau nhả ngọc.

Ở chỗ tọa độ sóng và vết thương đã hình thành viên ngọc

Và giọt lệ đau đang ngưng trên má

Hay một giọt máu nào đang muốn hóa thành châu…

(Viên ngọc, 1975)

Thơ những năm tháng hóa ngọc trai và tuột khỏi vòng

Nay anh xâu lại thành thơ

Khi xâu thì chảy máu

(Định nghĩa, 1987)

Chế Lan Viên hay có cách dẫn dắt ý tưởng từ những nghịch dị của tạo hóa để đốn ngộ một sự thể khác, đôi khi có chút hài hước như bài Đối thủ của voi (1988) khi chuỗi liên tưởng như bất tận qua cuộc diễu hành các thành ngữ dân gian: ngọc ngà là mối quan hệ bất cân xứng về phẩm tính của ngà voi với ngọc trai, thứ tinh tế hơn mới đáng giá, rồi sự thể lên voi xuống chó, “mười voi thơ chả cho ta bát xáo thơ nào”, rồi “theo nghiệp nào đành vác ngà”, một mặc cảm bất lực thường trực ở những người sáng tạo.

Những bài thơ trở đi trở lại hình tượng ngọc trai như một tạp văn kỳ khu:

Trời đẹp quá! Không là tôn giáo mà anh chắp tay anh lại,

Nhắm mắt anh cho khỏi chói con ngươi vì sắc đẹp của đời.

Mùa thu ơi! Mùa thu khôn thể với

Cả sắc trời như viên ngọc sắp buông rơi.

(Trời đẹp, 1983)

Từ “Ai đâu trở lại mùa thu trước/ Nhặt lấy cho tôi những lá vàng” thuở Điêu tàn chưa đến đôi mươi và “Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắc/ Nơi bốn mùa đã hóa thành thu” (Cành phong lan bể) của thập niên 1960, nhà thơ tuổi lục tuần vẫn nguyên vẹn một tâm hồn dễ xúc cảm trước khung cảnh tự nhiên, bên cạnh phần lý tính tràn ngập.

Chế Lan Viên có vẻ như rất dễ liên tưởng, nhưng sự liên tưởng đó liệu có là kết quả của loại thao tác khá “nguy hiểm” của một người tham vọng tìm kiếm thần dược “đau thành ngọc” không? Viết về tuyết, thứ có vẻ nhẹ nhàng mà rồi vẫn có đất cho cơn đau tìm đến, mở ra càng nhẹ thì đóng lại càng đau:

Cái phút đầu tiên tuyết chạm vào đất thế nào?

Như tà áo bay, như hơi thở nhẹ…

Trắng tinh như lòng yêu ngày chưa yêu

Thế nhưng giờ lạnh lẽo như những tình yêu tan rồi, chỉ còn nỗi đau đọng lại

Có tinh thần tham dự vào trong đó, và có tinh thần ư, thì không tan,

Đau mãi đến vô cùng.

(Tuyết (2), 1987)

Những câu thơ về nỗi đau gợi nhớ những bài hát của Trịnh Công Sơn, ngự trị nỗi đau thể xác lẫn tinh thần: “trên hai tay cơn đau dài”, đau dai dẳng trong ký ức: “từ cơn đau ấy lưu thân mỏi mòn”, đau sẵn trong hình dung tương lai: “nhỡ mai trong cơn đau vùi”.

Nhưng không dừng ở gọi tên cơn đau “suốt cơn mê này” như Trịnh, Chế Lan Viên như người thăm khám những cơn đau, khiến người đọc chia sẻ cảm xúc khi họ ở vào độ tuổi từng trải hơn.

Thơ di cảo của ông có sự khác biệt với những bộc phát tráng lệ của tuổi hoa niên “điêu tàn”, sừng sững một di sản sống đã qua và đang chảy.

Lời kinh kệ của một nhà thơ

Nhiều tác giả có di cảo, nhưng tập thơ mang đúng cái tên Di cảo của Chế Lan Viên lại có vị trí đặc biệt hơn cả. Hai tập đầu đã xuất bản từ ba chục năm trước và được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1994. Trong đó có những câu, những bài thơ như ông nói, “lộn trái”, đọc một lần như găm mãi vào đầu: “Hay là ta lộn trái/ May có gì mới chăng?” (Lộn trái, 1988).

Tập thơ ra đời là kết quả phi thường của nhà văn Vũ Thị Thường, vợ của nhà thơ Chế Lan Viên, ở độ tuổi 94. Ai đã gặp bà đều ấn tượng về sự minh mẫn và trí nhớ siêu hạng, nhưng hơn thế là một cách làm việc kiên trì để soạn ra được các tập di cảo thơ đồ sộ thế này của chồng mình, từ những trang viết chữ nhiều chỗ rất tháu, với sự giúp sức không nhỏ của con gái là nhà văn Phan Thị Vàng Anh, người là một biên tập viên có nhiều năm kinh nghiệm.

Chế Lan Viên thuộc về một thế hệ văn học mà sự nghiệp gắn với sự phát triển của một xã hội Việt Nam hiện đại hóa về tư duy và ngôn ngữ, nhưng thường bị các dòng chảy thời cuộc cuốn theo những chức năng xã hội.

Chế Lan Viên cùng nhiều bạn thơ đã thành đồng chí trong hệ tư tưởng, thành những phát ngôn viên cho những cuộc chiến đấu, thành người cổ động không biết mệt mỏi cho ước vọng kiến tạo một xã hội tương lai.

Chính những chức năng này nhiều khi tạo nên diện mạo của các tác giả – có lúc ở góc độ khuôn mẫu, kể cả khuôn mẫu về bi kịch, về nỗi đau, mà thực sự như thế chúng ta làm tan loãng họ. Những đau đớn của đời người liệu có phải đau đớn mang tính thế hệ không? Có người mãi mãi đắm chìm trong bể khổ đó, có người đã tìm cách vượt qua.

Khoảng năm 1988: hai vợ chồng một người thân đến thăm nhà thơ Chế Lan Viên (áo đen) và nhà văn Vũ Thị Thường (áo hoa) tại nhà riêng. Lúc này Chế Lan Viên đã phát hiện bị bệnh nặng..

Thơ di cảo Chế Lan Viên viết bằng một giọng thơ hiển ngôn nhưng có nhiều lớp lang thủ pháp như đánh cờ. Ở độ tuổi trẻ hơn, tôi từng đọc những bài thơ đã phổ biến của ông với cảm giác xót xa, giờ đọc lại mới nghĩ đấy thực ra là những bài kinh kệ của thi sĩ trong cuộc đời để đi qua những bến sóng.

Vang lên trong những câu thơ thể tự do là lời tự tình tựa những phương cách vượt qua bể khổ. Khổ vì cao vọng mãi không đạt tới, khổ vì hiểu sai, khổ vì quỹ thời gian sắp cạn, khổ vì ký ức hành hạ…

 

Chế Lan Viên cuối cùng vẫn là người nhẫn nại cẩn những xà cừ, đính những viên ngọc hiếm lên chiếc hộp thơ của mình, kể cả trong “những ngày trống không nhờ nhờ trắng mây”, ông tự khuyên mình rằng luôn có những vẻ đẹp nằm ở thời khắc đã vuột qua:

Một chút nắng như con sóc đầu cây rồi khuất

Một điệu hát mơ hồ nghe thoáng đâu đây

Hãy cầm lên, bắt lấy

Có vàng lẫn trong dòng thác ấy.

(Ngày trống không, 1986)

Những lời tự răn cũng nhất quán với những lời ông gửi lại cho các con: “Tặng cho ba con gái, nhưng riêng tặng Vàng Anh là đứa làm thơ”.

Chế Lan Viên có khắc nghiệt quá với người và với chính mình không? Nhưng những bài thơ lẫn trong sổ tay đầy những lời dằn vặt, đau xót, ân hận đó có đến địa chỉ nào đâu, mà biết đâu đó là những toa thuốc một bác sĩ đang tự kê cho mình.

Trong những bài thơ cuối đời, ông dành đến hai bài thơ lấy tên Từ thế chi ca, như những lời trăn trối làm lành với chính mình:

Những bạn bè yêu anh sẽ gặp anh trong cỏ

Trong hạt sương, trong đá…

Trong những gì không phải anh.

Anh tồn tại mãi

Không bằng tuổi tên, mà như tro bụi,

Như ngọn cỏ tàn đến tiết lại trồi lên

(Từ thế chi ca 2, 1988)

Phải nói rằng đọc cả tập Di cảo thơ này cần nhiều thời gian, mỗi ngày chỉ đọc một đôi bài và ta gấp lại, nghĩ ngợi, để cho những câu chữ vang lên nghĩa kinh kệ của chúng.

Tựa như ta được sống thêm một cuộc sống khác, không chỉ của người làm thơ mà còn của một số phận đã được thơ hóa, một loại thơ dạng nhật ký riêng tư.

Đọc chúng, ta có lẽ sẽ được giàu có hơn một chút về vốn sống, về trải nghiệm, và có thêm rất nhiều phương cách hòa giải với cuộc đời bất trắc này.

NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ/ TTCTO

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm