TIN TỨC

Di cảo thơ Chế Lan Viên: Khi thơ là thuốc, là lời kinh kệ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-04-11 11:21:16
mail facebook google pos stwis
2954 lượt xem

Chế Lan Viên là người mà sự nghĩ ngợi vận vào thơ như thể thơ cũng là thuốc, thơ chẩn ra được cái bệnh đau của kiếp người, và “Có vào nỗi đau mới có ích cho người”.

Có những loại hình văn học nghệ thuật phải đến thời điểm nhất định bạn mới thấy chúng cần thiết.

Ở hoàn cảnh sống bình thường, chắc chẳng ai nghĩ đến việc đọc một vài câu thơ giữa lúc uống thuốc hay lúc bắt xe đi làm. Nhưng có thể viên thuốc ấy gợi ra kỷ niệm về những lần ốm đã qua, thơ có thể là một người bạn đến động viên đúng lúc.

Chế Lan Viên là tạng người mà sự nghĩ ngợi cũng vận vào thơ như thể thơ cũng là thuốc, “thơ nói cho ra điều đó” – chẩn ra được cái bệnh đau của kiếp người: “Có vào nỗi đau mới có ích cho người” (Thuốc, 1988).

Tập Chế Lan Viên – Di cảo thơ (*) do vợ của ông, nhà văn Vũ Thị Thường, góp nhặt và tuyển chọn in gộp ba tập Di cảo I, II, III, gồm 508 bài thơ, phần lớn là những bài ngắn. Trước đây chúng đã được in thành các tập riêng, nay cầm trên tay một tập dày dặn, dù đã biết thi nhân vốn là người có sự nghiệp thơ ca đồ sộ, nhưng cảm giác của người đọc vẫn khá choáng ngợp.

Không hẳn vì độ dày (mấy ai dám in dày) mà vì dày đặc những tự sự riêng tư, tràn ngập trăn trở về nhân sinh, về bản thể và về thơ. Chế Lan Viên từng ký tên Chàng Văn, giữ mục nói chuyện nghề nghiệp thơ trên báo Văn Nghệ nhiều năm, in những tiểu luận sắc cạnh cả về vấn đề chính luận lẫn sáng tạo.

Những bài thơ di cảo vẫn nối dài mạch suy tư ấy, nhưng là sự hướng nội, dành cho chính mình.

Chế Lan Viên năm 17 tuổi, khi ra tập Điêu tàn

Thi pháp của cái đau

Đọc di cảo thơ Chế Lan Viên, khác với một giọng sử thi của thời Điêu tàn, Ánh sáng và phù sa hay Đối thoại mới, ở đây ta gặp nhiều cơn đau. Chế Lan Viên từng phải đi chữa bệnh dài ngày ở Trung Quốc, cuối đời ông cũng bị bệnh.

Lý do thể chất tác động mạnh đến cách tư duy, đến những điều viết ra trong thơ, nhưng ta phải nhớ đây là những bài thơ di cảo, chưa công bố lúc ông còn sống.

Cả một đời thơ Chế Lan Viên giấu khá kín những cơn đau sau những lời thơ đầy khẩu khí thời đại mạnh mẽ như thơ quảng trường. Có lúc cơn đau hiện diện theo kiểu gián cách thời ấy, như “mạch máu ta là những mối đau thương” (Đừng quên lãng, tập Điêu tàn, 1937) hoặc trong một ký ức được ông viết thật nhẹ bẫng: “Năm con đau, mế thức một mùa dài” (Tiếng hát con tàu, tập Ánh sáng và phù sa, 1960).

Giáo sư Hà Minh Đức từng cung cấp một thông tin khá quan trọng về bài hát đã từng được đưa vào sách giáo khoa này, Chế Lan Viên đã viết với nhan đề ban đầu là Con tàu Tây Bắc trong hoàn cảnh đau yếu, không đi đâu được, trong khi phong trào đi thực tế rầm rộ. Cơn đau là một lý do để tác giả bứt rứt: “Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?” và đành an ủi “Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu”.

Cho đến các bài di cảo, các cơn đau hiện diện, thành một vấn đề thường trực. Có hơn 50 bài có từ khóa “đau” trong văn bản thơ, chưa kể những bài ghi ở thời điểm “mùa bệnh” hay “trước khi mổ”.

Chế Lan Viên có những hình ảnh liên tưởng riêng biệt, từ liên tưởng này bắc cầu liên tưởng khác, qua mấy tầng ngữ nghĩa. Từ nỗi đau tự tri của cá nhân với nỗi đau của con trai ngọc để từ vết thương hóa ngọc, ông nghĩ về một phương diện khác của cái đau.

Trai chỉ tạo ra ngọc một lần rồi chết, nhưng con người “sau viên ngọc sau cùng rồi lại làm viên thứ nhất” (Ngọc sau cùng). Với ông, hạnh phúc lại là hệ quả của nỗi đau nhả ngọc.

Ở chỗ tọa độ sóng và vết thương đã hình thành viên ngọc

Và giọt lệ đau đang ngưng trên má

Hay một giọt máu nào đang muốn hóa thành châu…

(Viên ngọc, 1975)

Thơ những năm tháng hóa ngọc trai và tuột khỏi vòng

Nay anh xâu lại thành thơ

Khi xâu thì chảy máu

(Định nghĩa, 1987)

Chế Lan Viên hay có cách dẫn dắt ý tưởng từ những nghịch dị của tạo hóa để đốn ngộ một sự thể khác, đôi khi có chút hài hước như bài Đối thủ của voi (1988) khi chuỗi liên tưởng như bất tận qua cuộc diễu hành các thành ngữ dân gian: ngọc ngà là mối quan hệ bất cân xứng về phẩm tính của ngà voi với ngọc trai, thứ tinh tế hơn mới đáng giá, rồi sự thể lên voi xuống chó, “mười voi thơ chả cho ta bát xáo thơ nào”, rồi “theo nghiệp nào đành vác ngà”, một mặc cảm bất lực thường trực ở những người sáng tạo.

Những bài thơ trở đi trở lại hình tượng ngọc trai như một tạp văn kỳ khu:

Trời đẹp quá! Không là tôn giáo mà anh chắp tay anh lại,

Nhắm mắt anh cho khỏi chói con ngươi vì sắc đẹp của đời.

Mùa thu ơi! Mùa thu khôn thể với

Cả sắc trời như viên ngọc sắp buông rơi.

(Trời đẹp, 1983)

Từ “Ai đâu trở lại mùa thu trước/ Nhặt lấy cho tôi những lá vàng” thuở Điêu tàn chưa đến đôi mươi và “Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắc/ Nơi bốn mùa đã hóa thành thu” (Cành phong lan bể) của thập niên 1960, nhà thơ tuổi lục tuần vẫn nguyên vẹn một tâm hồn dễ xúc cảm trước khung cảnh tự nhiên, bên cạnh phần lý tính tràn ngập.

Chế Lan Viên có vẻ như rất dễ liên tưởng, nhưng sự liên tưởng đó liệu có là kết quả của loại thao tác khá “nguy hiểm” của một người tham vọng tìm kiếm thần dược “đau thành ngọc” không? Viết về tuyết, thứ có vẻ nhẹ nhàng mà rồi vẫn có đất cho cơn đau tìm đến, mở ra càng nhẹ thì đóng lại càng đau:

Cái phút đầu tiên tuyết chạm vào đất thế nào?

Như tà áo bay, như hơi thở nhẹ…

Trắng tinh như lòng yêu ngày chưa yêu

Thế nhưng giờ lạnh lẽo như những tình yêu tan rồi, chỉ còn nỗi đau đọng lại

Có tinh thần tham dự vào trong đó, và có tinh thần ư, thì không tan,

Đau mãi đến vô cùng.

(Tuyết (2), 1987)

Những câu thơ về nỗi đau gợi nhớ những bài hát của Trịnh Công Sơn, ngự trị nỗi đau thể xác lẫn tinh thần: “trên hai tay cơn đau dài”, đau dai dẳng trong ký ức: “từ cơn đau ấy lưu thân mỏi mòn”, đau sẵn trong hình dung tương lai: “nhỡ mai trong cơn đau vùi”.

Nhưng không dừng ở gọi tên cơn đau “suốt cơn mê này” như Trịnh, Chế Lan Viên như người thăm khám những cơn đau, khiến người đọc chia sẻ cảm xúc khi họ ở vào độ tuổi từng trải hơn.

Thơ di cảo của ông có sự khác biệt với những bộc phát tráng lệ của tuổi hoa niên “điêu tàn”, sừng sững một di sản sống đã qua và đang chảy.

Lời kinh kệ của một nhà thơ

Nhiều tác giả có di cảo, nhưng tập thơ mang đúng cái tên Di cảo của Chế Lan Viên lại có vị trí đặc biệt hơn cả. Hai tập đầu đã xuất bản từ ba chục năm trước và được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1994. Trong đó có những câu, những bài thơ như ông nói, “lộn trái”, đọc một lần như găm mãi vào đầu: “Hay là ta lộn trái/ May có gì mới chăng?” (Lộn trái, 1988).

Tập thơ ra đời là kết quả phi thường của nhà văn Vũ Thị Thường, vợ của nhà thơ Chế Lan Viên, ở độ tuổi 94. Ai đã gặp bà đều ấn tượng về sự minh mẫn và trí nhớ siêu hạng, nhưng hơn thế là một cách làm việc kiên trì để soạn ra được các tập di cảo thơ đồ sộ thế này của chồng mình, từ những trang viết chữ nhiều chỗ rất tháu, với sự giúp sức không nhỏ của con gái là nhà văn Phan Thị Vàng Anh, người là một biên tập viên có nhiều năm kinh nghiệm.

Chế Lan Viên thuộc về một thế hệ văn học mà sự nghiệp gắn với sự phát triển của một xã hội Việt Nam hiện đại hóa về tư duy và ngôn ngữ, nhưng thường bị các dòng chảy thời cuộc cuốn theo những chức năng xã hội.

Chế Lan Viên cùng nhiều bạn thơ đã thành đồng chí trong hệ tư tưởng, thành những phát ngôn viên cho những cuộc chiến đấu, thành người cổ động không biết mệt mỏi cho ước vọng kiến tạo một xã hội tương lai.

Chính những chức năng này nhiều khi tạo nên diện mạo của các tác giả – có lúc ở góc độ khuôn mẫu, kể cả khuôn mẫu về bi kịch, về nỗi đau, mà thực sự như thế chúng ta làm tan loãng họ. Những đau đớn của đời người liệu có phải đau đớn mang tính thế hệ không? Có người mãi mãi đắm chìm trong bể khổ đó, có người đã tìm cách vượt qua.

Khoảng năm 1988: hai vợ chồng một người thân đến thăm nhà thơ Chế Lan Viên (áo đen) và nhà văn Vũ Thị Thường (áo hoa) tại nhà riêng. Lúc này Chế Lan Viên đã phát hiện bị bệnh nặng..

Thơ di cảo Chế Lan Viên viết bằng một giọng thơ hiển ngôn nhưng có nhiều lớp lang thủ pháp như đánh cờ. Ở độ tuổi trẻ hơn, tôi từng đọc những bài thơ đã phổ biến của ông với cảm giác xót xa, giờ đọc lại mới nghĩ đấy thực ra là những bài kinh kệ của thi sĩ trong cuộc đời để đi qua những bến sóng.

Vang lên trong những câu thơ thể tự do là lời tự tình tựa những phương cách vượt qua bể khổ. Khổ vì cao vọng mãi không đạt tới, khổ vì hiểu sai, khổ vì quỹ thời gian sắp cạn, khổ vì ký ức hành hạ…

 

Chế Lan Viên cuối cùng vẫn là người nhẫn nại cẩn những xà cừ, đính những viên ngọc hiếm lên chiếc hộp thơ của mình, kể cả trong “những ngày trống không nhờ nhờ trắng mây”, ông tự khuyên mình rằng luôn có những vẻ đẹp nằm ở thời khắc đã vuột qua:

Một chút nắng như con sóc đầu cây rồi khuất

Một điệu hát mơ hồ nghe thoáng đâu đây

Hãy cầm lên, bắt lấy

Có vàng lẫn trong dòng thác ấy.

(Ngày trống không, 1986)

Những lời tự răn cũng nhất quán với những lời ông gửi lại cho các con: “Tặng cho ba con gái, nhưng riêng tặng Vàng Anh là đứa làm thơ”.

Chế Lan Viên có khắc nghiệt quá với người và với chính mình không? Nhưng những bài thơ lẫn trong sổ tay đầy những lời dằn vặt, đau xót, ân hận đó có đến địa chỉ nào đâu, mà biết đâu đó là những toa thuốc một bác sĩ đang tự kê cho mình.

Trong những bài thơ cuối đời, ông dành đến hai bài thơ lấy tên Từ thế chi ca, như những lời trăn trối làm lành với chính mình:

Những bạn bè yêu anh sẽ gặp anh trong cỏ

Trong hạt sương, trong đá…

Trong những gì không phải anh.

Anh tồn tại mãi

Không bằng tuổi tên, mà như tro bụi,

Như ngọn cỏ tàn đến tiết lại trồi lên

(Từ thế chi ca 2, 1988)

Phải nói rằng đọc cả tập Di cảo thơ này cần nhiều thời gian, mỗi ngày chỉ đọc một đôi bài và ta gấp lại, nghĩ ngợi, để cho những câu chữ vang lên nghĩa kinh kệ của chúng.

Tựa như ta được sống thêm một cuộc sống khác, không chỉ của người làm thơ mà còn của một số phận đã được thơ hóa, một loại thơ dạng nhật ký riêng tư.

Đọc chúng, ta có lẽ sẽ được giàu có hơn một chút về vốn sống, về trải nghiệm, và có thêm rất nhiều phương cách hòa giải với cuộc đời bất trắc này.

NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ/ TTCTO

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm