TIN TỨC

Đọc Đường đến Cây cô đơn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-07-31 00:38:47
mail facebook google pos stwis
2243 lượt xem

 Bùi Công Thuấn

Cây nào đứng thẳng cũng đều là Cây cô đơn”. “Trong cõi nhân gian vừa rộng vừa hẹp này, dường như, mỗi chúng ta đều là một Cây cô đơn”.(tr.116). Những câu văn chứa đựng tư tưởng này sẽ dẫn người đọc đi tìm Cây cô đơn trong tác phẩm, giống như nhân vật Bích quyết định đi đến Cây cô đơn sau khi nghe Khánh đọc bài thơ “Hỏi đường đến Cây cô đơn” trong bữa ăn trước khi chia tay Đà Lạt (truyện Đường đến Cây cô đơn).

Nhà văn Bích Ngân

 

CÂY CÔ ĐƠN

 

Cây Cô đơn là cây gì?

Nhà văn trả lời:“Trong cõi nhân gian vừa rộng vừa hẹp này, dường như, mỗi chúng ta đều là một Cây cô đơn”.

Tên truyện Đường đến cây cô đơn, cùng với 7 trong 13 truyện của cuốn sách tập trung khám phá chủ đề này, giúp người đọc nhận ra sức nặng trái tim nhà văn dành cho vấn đề cô đơn của con người. Vấn đề mang tính tư tưởng.

Nhân vật mang nỗi cô đơn trong Đường đến Cây cô đơn hầu hết là nữ. Vì là kiểu nhân vật tư tưởng, họ không được miêu tả nhân thân xã hội. Có người chỉ được gọi bằng một đại từ nhân xưng “Chị” (truyện Cánh rừng vĩnh cửu). Họ xuất hiện trong những chuyến đi với vẻ thanh lịch và lãng mạn. Họ không có những lo lắng về đời sống vật chất. Thùy và chồng đi du lịch nghỉ dưỡng (Kẹt trong sương mù), Yên và chồng trong khu du lịch sinh thái (Khoảnh khắc “Trăm cô đơn”), Bích đi với một đoàn ở Đà Lạt, cô ở lại khách sạn và chờ chồng lên đón. Bà Tuyết xưa kia là cô nhạc sĩ trẻ. Bà vẫn thường hàng giờ lắng nghe và ký âm tiếng hót của chim “thương lắm mà” lên trang giấy (Chuỗi ngọc từ cao xanh). Nhân vật Chị đi du lịch dã ngoại khám phá hồ đêm, ngắm trăng và đón bình minh trên mặt hồ (Cánh rừng vĩnh cửu) và nhân vật Vy, cô diễn viên đi theo đoàn thăm Côn Đảo để có trải nghiệm cho một vai diễn (Thời gian vẫn đang trôi). Cô có người yêu là Quân. Họ yêu nhau 5 năm nhưng không cưới hỏi, sau đó chia tay.

Đi trong đoàn, “người phụ nữ cô đơn” thường tách mình ra khỏi đoàn và đi theo một hướng riêng, bước chân khuê các được dẫn dắt bởi cảm xúc lãng mạn. Con đường họ đi qua là con đường của sắc màu và hương thơm quyến rũ. “Thùy bước ra khỏi khách sạn… Cô hấp tấp theo màn sương đang di chuyển về phía vầng trăng đang lơ lửng trôi như kẻ bị thôi miên. Rồi hình như đôi chân Thùy không bước từng bước nữa. Cô như cuốn theo chiều gió, cuốn theo ánh trăng, cuốn theo khói sương vây kín lối đi”(Kẹt trong sương mù, tr.86). Trong Khoảnh khắc “Trăm cô đơn”, sau khi uống cà phê một mình, Yên ra khỏi khu rừng nơi cô đã ngủ với chồng đêm qua trong căn nhà trên cây. Cô bước đi. “Hai bên đường lác đác những bụi cây nở những bông hoa tim tím mà lần đầu Yên mới gặp. Những cánh bướm giật mình bay lên từ những chùm hoa phảng phất mùi hương. Nhiều cánh bướm từ những chùm hoa khác, bụi hoa khác cũng bay lên” (tr.94). Nhân vật Chị trong Cánh rừng vĩnh cửu cũng tách khỏi đoàn. Chị đi ra con đường nối với tỉnh lộ, tới chợ nhỏ mua ít đồ, rồi vào quán ăn bún riêu và uống cafe. Sau đó Chị đi một quãng đến nới có bảng cắm chữ Vĩnh Cửu. Chị đứng ở đó tự chụp hình. Người đàn ông mặc đồ lính xuất hiện, Chị đi theo theo ông ta. “người đàn ông biết chia sẻ đang bước bên cạnh, đàn bướm nhiều sắc màu bay rập rờn từng đàn, tiếng chim líu ríu trên cành  nghe thật gần, hoa rừng hồn nhiên khoe sắc, rồi tiếng rơi lặng lẽ của những chiếc lá lời cành…và hình như tiếng bước chân chị và người đàn ông, cũng rất khẽ.” (tr.205)

Trong không gian thoáng đãng và riêng tư ấy, người phụ nữ nhận ra nỗi cô đơn của mình. Thùy (kẹt trong sương mù) và Yên (Khoảnh khắc ‘Trăm năm cô đơn’) có cảm giác mình bị chồng bỏ rơi. “Nhiều lúc Yên rơi vào trạng thái bấp bênh dù đã neo đậu được vào bến bình yên” (tr.98). Khi chồng đến đón Bích ở khách sạn, giữa họ “không vòng ôm, không va chạm, cũng không chào hỏi”(Đường đến Cây cô đơn, tr.111). Và dù Bích đã chuẩn bị cho một cuộc ái ân với chồng, nhưng ngay sau khi hai vợ chồng tắm xong, họ lại xa cách nhau vì chuyện mà thoạt nhìn như là chuyện không đâu (tr.114)!

Nhân vật bà Tuyết trong Chuỗi ngọc từ cao xanh than thở: “Cô đơn, có lẽ là người bạn đồng hành thủy chung duy nhất đối với những người dày vỏ bởi những điều mà người khác thường thờ ơ”(tr.132). Bà thổ lộ với bạn: “Giá như những người đàn ông chị yêu không bị ràng buộc…và giá như người đàn ông đó là cha của các con chị.”(tr.131). Nghĩa là bà Tuyết yêu những người đã có gia đình, và chồng bà không phải là người bà yêu! Nỗi cô đơn này “thủy chung” đến suốt đời là vậy! Nhân vật Chị về cái “khoảng trống” cô đơn của mình: “…khoảng trống lúc nào cũng chực chờ, ngay cả khi được ghì siết trong cơn ái ân của chồng(tr.202). Và vì thế Chị dễ dàng đi theo người đàn ông mặc đồ lính xa lạ vào nơi khuất vắng trong rừng. Rồi khi người đàn ông kéo chị sát vào tấm thân cường tráng của ông ta, “Chị như không thở nổi trước mùi xạ hương ngây ngất của thịt da, của hơi thở, của khát thẻm, của bóng tối, của u mê. Thịt da Chị ấm sực và căng tràn cơn nuông chiều hối hả của nhục thể. Chị hấp tấp lần tìm đôi môi khao khát. Người đàn ông quắn quíu gắn chặt cặp môi vào đôi môi nóng bỏng của Chị” (Cánh rừng vĩnh cửu, tr. 205).

Tác giả để cho nhân vật Chị tự phân tâm hành động đi theo và ngã vào vòng tay người đàn ông lạ ( và dường như là nhân vật của tưởng tượng). Đó không phải là sự dày vò lương tâm vì đã ngoại tình, cũng không phải sự sám hối vì đã vượt quá những quy chuẩn xã hội cho phép, cũng không biện hộ cho sự đổ vỡ với chồng, bởi vì quan hệ vợ chồng của Chị vẫn còn đó. “Chị lờ mờ lý giải. Có thể đó là tâm trạng háo hức khó lường trước khát khao kiếm tìm và khám phá…khao khát khám phá chính mình trong sự tồn sinh của cánh rừng này, mảnh đất này, cuộc đời này. Tồn sinh bằng sự tiếp nối giữa sự sống và cái chết. Tồn sinh từ cái thế giới vừa nhỏ bé vừa sâu thẳm nơi mỗi con người(tr.210).

Nhà văn dùng chữ “tồn sinh” mà không dùng chữ “hiện sinh”, bởi “khao khát khám phá chính mình” chính là “tồn sinh”(đang sống, đang tồn tại). Mối quan hệ lạnh ngắt với chồng, cái khoảng cách tồn tại giữa vợ chồng cả trong lúc ái ân, và những người chồng bỏ rơi vợ trong những cuộc say, trong những thú vui riêng (đi câu) đã làm cho những người vợ trở thành những Cây cô đơn, họ không “tồn sinh”.

Nói như thế không có nghĩa tác giả cổ vũ cho một lối sống hoang dã phá bỏ những quy chuẩn xã hội, đạp đổ hôn nhân, bứt phá những quan hệ nhân sinh. “Chính lúc đó, lúc mà chị sắp bùng nổ trong cái cảm giác được nâng lên khỏi mặt đất thì chị nghe tiếng chuông điện thoại” của chồng. “Chị bước ra khỏi gốc cây âm u, tìm thấy chút ánh sáng xuyên qua cành lá…”(tr. 208). Cũng vậy, chuyến đi tìm Cây cô đơn của Bích đã không thực hiện được. “Và cả chút ngậm ngùi, rằng đã đến lúc, ta phải quay về một nơi, còn Cây cô đơn, vẫn ở một nơi mà ta chưa đặt chân tới.” (tr.102). Cô diễn viên Vy (Thời gian vẫn đang trôi) vẫn mong người yêu trở lại.

Cây cô đơn mà cả nhân vật và tác giả chưa đặt chân đến được là Cây cô đơn hiện sinh, tức là ý thức về thân phận cô đơn của con người trong cõi nhân gian này,  con người sinh ra là để chết (Being-toward-death- Martin Heidegger), con người một mình đi về “hố thẳm” (Henry Miller).

PHÂN TÂM “TỒN SINH”

Các truyện khác trong tập Đường đến Cây cô đơn đều được kể qua tâm trạng của nhân vật chính. Sự việc được phản ánh chỉ là cái cớ để nhân vật suy tư. Nhân vật tự phân tâm, tự nhận thức và bày tỏ thái độ. Đôi khi đó là một thái độ quyết liệt. Ngòi bút phân tâm kết hợp với cấu trúc tương phản giúp nhà văn phơi ra cái xấu, cái ác, cái vô tâm, cái hèn nhát khiếp nhược của thực tại, và cả sự bất lực của người lương thiện khi đối mặt với bọn bất lương (Cuộc chiến khác, Rượu 40 năm).

Đêm biên giới là tâm trạng của Đại tá-nhà văn Trần Huy, trưởng đoàn văn nghệ sĩ đi thực tế sáng tác về đề tài người lính ở một đồn biên giới (tr.135). Ông trăn trở suốt đêm không ngủ về những vấn đề “nóng” của đất nước. Sau bữa ăn gặp gỡ, họ uống trà và xem thời sự cuối ngày. Họ nói về những mất mát hy sinh trong cuộc chiến chống xâm lược năm1979. Khi màn hình tivi hiện lên“Hình ảnh gian khoan Hải dương 981 cùng những chiếc tàu hung hăng rẽ sóng tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam”(tr.138), những người lính đã không kềm được cơn giận dữ.  Họa sĩ Lê Hữu nói “Sự thật là ta bị chúng bịp và chính chúng ta tự bịp” (tr.139). Sự căm giận của Hữu có nguồn cơn từ việc anh bị mảnh bom thù xoắn mất một trái thận, mất khả năng làm chồng. Ba năm sau vợ bỏ. Nguyễn Hà được gọi là “nhà sử học” bởi anh viết kịch lịch sử. Anh nói: ”…Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế là ta giành phần thắng”. Lê Hữu đốp ngay: “Kiện cái con mẹ gì. Đánh!” (tr.141). Trần Huy buột miệng: “Đau nhất là tự mình lừa mình” (tr.141). Lê Hữu gào lên: “Nhưng mất mát lớn nhất là mất nước! Nỗi nhục lớn nhất cũng là nỗi nhục mất nước. Rồi như kiệt sức, họa sĩ gục xuống bàn”(tr. 142). Trần Huy không ngủ được. Ký ức người lính không phai mờ. Anh bị thương 2 lần may còn sống sót. Huy muốn viết một cuốn sách ghi lại trung thực những năm tháng cùng đồng đội vào sinh ra tử trong cuộc chiến tranh vệ quốc mà anh là thằng lính sống sót, nhưng với Huy đó là cuốn khó viết nhất mà đến giờ vẫn còn là phác thảo (tr.146).Trong truyện Bên dòng sông Ray những cựu binh tình cờ gặp lại nhau, họ nhắc tới lại chiến tranh chống diệt chủng Pol Pot ở biên giới Tây nam, nhắc đến các chiến sĩ của con tàu không số, và chia sẻ về cuộc sống hiện tại. Tất cả còn nguyên dấu tích đớn đau của một thời và hiển hiện ngay trong hôm nay.

Trong truyện Rượu 40 năm tác giả miêu tả sự tương phản giữa cha anh “suốt cả cuộc đời cun cút, tận tụy việc nước, việc dân”(tr.52) với lũ con cháu thực dụng hưởng thụ và làm giàu khuất tất. Ông Út (thương binh 2/4) bị choáng khi thằng Tư (con anh Hai gọi ông bằng chú) đãi chúng bạn chai rượu trị giá 200 triệu. Ông lắp bắp: “Trời ơi! Mấy mùa bắp, mấy mùa dưa tao với thím mày làm thấy mụ nội, mà bán chưa tới chục triệu” (tr.58).

Truyện Một đám rước có cách viết rất lạ. Tác giả nhập thân vào nhân vật Tôi và để cho Tôi tự phân tâm rất sâu. Tôi (anh Hai) là người đảm nhiệm vị trí lãnh đạo cao nhất ngành được coi là then chốt trong bộ máy công quyền một tỉnh lỵ. Tôi đón xác em là Trung Minh từ nhà xác bệnh viện Thống Nhất về nhà cách 300 cây số. Ngồi trên xe, trên đường về, Tôi nhìn xác em, Tôi nghĩ về em, nghĩ về thái độ vô tâm của tôi đối với em. Lúc xuống xe, Tôi nghĩ về đoàn người đón đưa em, từ xe xuống đò, đi cano về nhà. Đám tang được Ủy ban xã tổ chức như đám rước. Tôi đứng giữa tang lễ và nghe người ta kể bao nhiêu chuyện về Minh mà Tôi chưa biết. Khi họ đọc điếu văn về công trạng giúp dân của Minh. “Tôi không còn đủ bình tĩnh để nghe”. “Tôi có cảm giác chính tôi là người chết, tuy không nằm trong quan tài. Còn nó, thằng em trai tôi, cái thằng ngu không biết lo cho bản thân mình, mới là người không bao giờ chết, dù thân xác nó đang trương phình lên trong chiếc quan tài kín mít kia(tr.75).

Tôi gọi truyện này có cách viết lạ, bởi viết về cái tiêu cực, nhà văn thường đứng ở phía người dân mà phê phán trực diện các quan chức “có vấn đề”. Bích Ngân sử dụng ngòi bút phân tâm như một con dao mổ sắc bén và tinh tế. Bàn tay phẫu thuật thật điêu luyện, mổ những vết rất sâu vào não trạng nhân vật. Điều này đòi hỏi nhà văn phải có sự hiểu biết sâu sắc về tâm lý đối tượng, phải có kỹ năng viết thăng hoa mới biến trang văn thành những giá trị có thể tồn tại lâu dài. Nhân vật Tôi (quan chức) tự quan sát, tự nhận thức, tự tra vấn mà bật ra vấn đề. Thành ra sự phê phán của tác phẩm trở thành thái độ tự sám hối của nhân vật. Cách viết này giữ cho người cán bộ kia chút lương thiện cần phải có để sự hiện diện của ông ta trong đời này còn có ý nghĩa. Bởi sự tồn tại trong lòng nhân dân, được nhân dân yêu mến mới là bất tử. Thành công của truyện là cách viết tự phân tâm sâu sắc, tự sám hối (có vẻ) chân thành của nhân vật. Tư tưởng về “tồn sinh” làm cho truyện vượt qua giới hạn của một truyện hiện thực.

         

VĂN CHƯƠNG BÍCH NGÂN

 

          Tập truyện Đường đến Cây cô đơn không dành cho người đọc sống vội. Cũng không dành cho người đọc chỉ mải mê chạy theo cốt truyện với những tình huống gay cấn, giật gân. Nhà văn Bích Ngân quan niệm rằng văn chương là chuyện lâu dài, rằng cần chắt chiu từng giây phút sống của đời. Phải chăng vì thế mà tốc độ của truyện trôi chảy chậm. Tác giả miêu tả rất tỉ mỉ những sinh hoạt đời thường. Sự việc được dựng lại theo tuyến thời gian và tuyến các biến cố của nhân vật. Những miêu tả tỉ mỉ đời thường ấy dễ làm nản lòng người đọc vội. Và trong cái nhịp sống đời thường bình lặng, bỗng xuất hiện một tình huống bất ngờ, đẩy câu truyện phát triển nhanh về phía trước, cuốn người đọc theo. Truyện kết thúc bằng những tình tiết làm người đọc nặng lòng suy nghĩ. Lúc ấy diễn ngôn trầm lắng của nhà văn dội lên trong tâm thức người dọc những âm vang lan tỏa mãi. Truyện Một đám rước, Cánh rừng vĩnh cửu có cách viết độc đáo như thế.

          Một độc đáo khác của ngòi bút Bích Ngân là cốt truyện rất đơn giản. Có rất ít tình huống kịch tính, có rất ít hành động truyện, có rất ít những mối quan hệ phức tạp. Truyện phát triển theo tuyến tâm trạng nhân vật chính, thành ra truyện ngắn Bích Ngân có ngôn ngữ, giọng điệu trữ tình. Giọng điệu này mời gọi những người đồng điệu, những người biết quý trọng những giá trị đời sống trong những chuyện đời thường, cả những chuyện vụn vặt. Nhân vật thức dậy, xuống bếp bật bếp lửa nấu nước pha trà, rồi ngồi uống trà nghĩ ngợi…(Bên dòng sông  Ray). Nhân vật đi du lịch hay đi dã ngoại, tham quan thường chuẩn bị đồ đạc, khởi hành, đến nơi, nhận phòng, đi tắm, đi uống cafê…(Người đàn bà góa trên chuyến tàu  Trường Sa, Đường đến cây cô đơn, Khoảnh khắc  “Trăm cô đơn”, Gió lạnh). Truyện Đêm biên giới chỉ có một cuộc gặp gỡ đón tiếp của trưởng đồn biên phòng với đoàn văn nghệ sĩ đi viết về đề tài người chiến sĩ. Sau bữa ăn, họ ngồi uống trà, xem ti vi. Phần còn lại của truyện là tâm trạng của trưởng đoàn Đại tá-nhà văn Trần Huy. Ông trăn trở, không ngủ. Ông đi đến các phòng, ở đó đèn vẫn sáng. Kết truyện là cuộc gọi của người vợ báo tin con trai ông sáng mai sẽ theo đoàn nhà báo ra chỗ Trung Quốc đang đặt giàn khoan.

Với một cốt truyện đơn giản như thế, yếu tố nào làm nên sự hấp dẫn của trang văn Bích Ngân?

Bích Ngân dẫn người đọc đi đến nhiều vùng đất nước, ở đó cảnh sắc, con người quê hương có sức hấp dẫn. Từ đồn biên giới phía bắc mà cửa sổ các phòng của chiến sĩ không bao giờ đóng, nhà văn dẫn người đọc đi tàu lênh đênh trên biển đến đảo chìm Trường Sa. Ở đây một chiến sĩ trẻ măng có miếng băng tang đen trên ngực kết chiếc đèn bằng vỏ ốc trắng ngà, hình một đóa sen đang nở để tặng mẹ, nhưng mẹ mới mất, anh tặng lại du khách. Từ một chung cư mà mỗi con người trong đó như tù nhân của bọn cho vay nợ, vòi bạch tuộc của nó chẳng khác gì bọn Mafia, đến “chuồng cọp” Côn Đảo với những hình nhân người tù bị xiềng xích đầy ám ảnh. Từ trên lan can tầng 15 của một chung cư “Trăng sáng trên đầu, biển rì rầm, gió lồng lộng, hương hoa lài thoang thoảng bạn bè cùng ngắm trăng” đến dưới một gốc cây âm u trong rừng, nơi những khát khao kiếm tìm gấp gáp trong hơi thở của hai con người đang quấn lấy nhau. Từ nơi bàn nhậu của các quý tử với chai rượu 200 triệu đến nghĩa trang cất giữ xương cốt những người một đời hy sinh. Từ nơi Yên ngồi uống cà phê, xác một con ve rơi xuống cạnh ly cà phê. Đàn kiến đến khiêng nó đi. Cô nghĩ đến hình ảnh Aureliano, đứa trẻ duy nhất được sinh ra bởi tình yêu trong suốt trăm năm của dòng họ Buendia, bị bỏ quên và bị kiến cắn cho đến chết, đến đài tưởng niệm hình cánh buồm, ghi nhớ công ơn các chiến sĩ của con tàu không số. Nơi ấy có người thương binh âm thầm trồng hoa chăm sóc hàng ngày…Những cảnh sắc tương phản ấy đứng cạnh nhau gây được ấn tượng sâu đậm nơi người đọc.

Sự hấp dẫn của trang văn Bích Ngân còn là sự lấp lánh sắc màu trong việc phối hợp nhiều thủ pháp kiến tạo tác phẩm. Bích Ngân dựng truyện như cách viết tiểu thuyết, khác với lối “thuật truyện” của nhiều tác giả viết truyện ngắn.  Nhiều nhân vật có đường nét góc cạnh. Cách nói năng của ông Út trong truyện Rượu 40 năm khiến bà Út có cảm giác như “bị chồng tạt trà nóng vào mặt” (tr.46). Cách nói chuyện của ông Tơ với vợ trong truyện Bên dòng sông Ray khiến người đọc cũng muốn can ngăn ông nên từ tốn với bà. Ngôn ngữ đối thoại của Bích và chồng trong Đường đến Cây cô đơn cũng là kiểu nói năng rất lạ: “Hỏi nhát gừng, trả lời nhát gừng, không đại từ, thiếu chủ ngữ, vắng cung bậc cảm xúc”. Bích Ngân có cảm quan đặc biệt về mùi hương trong những dòng miêu tả ít người ngờ tới. “Khi cửa xe mở ra, luồng gió mang chướng khí núi rừng của dãy Tà lơn nổi tiếng huyền thuật như xộc thẳng vào giác quan Thùy. Mùi ẩm mốc của cây lá, mùi rêu phong của đất đá, mùi phế tích của đền đài, mùi vôi vữa từ những công trình đang xây, mùi hăng hăng của hoa dại, mùi thơm thoang thoảng từ những khóm hoa được trồng dài theo lối đi dẫn vào khách sạn. Hoàng hôn Pokor khoác trên mình chiếc áo sắc màu ma mị cùng mùi hương của một cao nguyên đang thức giấc sau một giấc ngủ dài” (Kẹt trong sương mù, tr.76), và cả “mùi của ánh trăng” (tr.117).

Đôi khi, một vài chi tiết rất tình cờ, được dùng có nghệ thuật lại có sức chuyển tải một thông điệp ẩn mật mà người đọc phải giải mã cả câu truyện mới ngộ ra được. Mở đầu truyện Cánh rừng vĩnh cửu, Chị bỏ vào vali chai thuốc muỗi và cái đèn pin để theo tour đi thuyền khám phá hồ về đêm. Chị đã không đi tour ấy mà theo người đàn ông lạ mặc đồ lính vào rừng. Kết truyện, sau khi nghe điện thoại của chồng (anh đang ở quán nhậu, giọng lè nhè), “Rồi không rõ vì sao, Chị lại nghĩ đến chiếc đèn pin và chai thuốc chống muỗi hiệu Soffell mà mình đã vứt vào vali như những vật dụng vô dụng dẫu chưa một lần sử dụng”(tr. 213). Tại sao chị lại nhớ đến hai vật dụng này sau khi nghe phone của chồng, và tác giả kết truyện với hai chi tiết này là có dụng ý gì? Những câu hỏi thú vị.

Điều thú vị khác là nhiều câu văn của Bích Ngân có thể đứng một mình, chuyển tải những thông điệp hàm nghĩa triết lý. Những câu văn sâu sắc như vậy không nhiều ở những cây bút nữ. Kết truyện Đường đến cây cô đơn, nhân vật Tứ nói: “Cây nào đứng thẳng cũng đều là Cây cô đơn”. Một nhắc nhở khác: “…thói quen luôn là một kẻ điêu ngoa, giỏi dẫn dắt và thừa ma lực chế ngự”(tr.8). Một nhận định: “Hành tinh mà con người đang sống, có lẽ cũng không quá bí ẩn và dường như cũng không rộng lớn đến vô cùng”(tr.155). Một trải nghiệm: “Khi cùng một điểm đến và chung một nỗi lo, dường như ai cũng biết thu mình hẹp lại và nhích sát vào nhau” (tr.171). Và một cảnh giác: “…Không một loài hoa nào thoát khỏi lũ bướm háu sắc, lũ ong khát mật” (tr184)…

 VÀ… DƯ ÂM

Gấp tập truyện lại, tôi thấy dáng dấp lịch lãm, đằm thắm và sâu sắc của nhà văn trong bóng dáng các nhân vật, trong những chuyến đi, trong những ngẫm suy về những vấn đề “nóng” của cuộc sống hôm nay; và hơn thế, tôi thấy một cốt cách truyện ngắn Bích Ngân với những sắc màu và dư vị rất riêng, dịu dàng nhưng mãnh liệt, rất đời thực nhưng cũng rất lãng mạn. Cốt cách ấy ấp ủ một hồn cốt dân tộc đầy bản lĩnh.

                                                                                                                           Tháng 10. 2019

                                                                                                                          B.C.T 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm
Những câu thơ biết thức
Anh bạn cùng học ngành luật hẹn gặp, vui vẻ khoe vừa mới nghỉ hưu và đưa tôi tập thơ anh cũng kịp cho xuất bản. Nhìn qua đã thấy đẹp và trang nhã như cái tít của nó: Thái Hưng - ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024. Tôi có cảm giác nhẹ nhàng, đây là tập thơ tình chăng?
Xem thêm
Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình
Bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín về tiểu thuyết Đường sáng
Xem thêm
Văn học mùa Giáng sinh
Khi Charles Dickens bắt đầu viết cuốn sách khiến tên tuổi của ông trở nên bất tử là lúc ông đang rơi vào khoảnh khắc bất hạnh và khó khăn nhất của cuộc đời mình. Ông mệt mỏi, lo lắng. Ông phải nuôi sống một gia đình lớn mà nợ nần ngày càng tăng và nỗi sợ về việc không thể tái tạo những thành công trong quá khứ. Những tiểu thuyết cuối cùng của ông đã không bán chạy như ông hy vọng. Độc giả dường như đang rời đi, bỏ rơi ông. Mà thời gian còn lại không nhiều.
Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm