TIN TỨC

Đối diện với độc giả || Nguyễn Trường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-11-24 08:06:50
mail facebook google pos stwis
1506 lượt xem

NGUYỄN TRƯỜNG

(Đọc tập thơ “Đối diện chính mình” của Phạm Trung Tín)

Đối với mỗi người, đối diện với mình để vượt qua chính mình là con đường gian khó nhất. Vì ai cũng biết vượt qua giới hạn của mình phải có quyết tâm, nghị lực và khả năng phi thường. Phạm Trung Tín, với chuyện sáng tác thơ ca đã có được khả năng đó.

Đến nay Phạm Trung Tín đã xuất bản 5 tập thơ: “Dặm dài ký ức”- 2013; “Miền tâm tưởng”- 2014; “Lời của đá”- 2015; “Khoảng thức”- 2017; “Đường chân trời”- 2019. Những tập thơ đầu, Phạm Trung Tín còn làm thơ theo kiểu hồn nhiên, thiên về tả chân, thấy gì ghi nấy thông qua cảm xúc của mình. Nhưng càng làm thơ lâu năm, Phạm Trung Tín càng có nhiều kinh nghiệm qua tiếp xúc với thơ, với các nhà thơ, với kiến thức sách vở và tự chiêm nghiệm... thơ anh đã có bước tiến xa hơn so với chính mình. Nổi bật nhất là tập thơ “Đối diện chính mình”, anh đã vượt được thơ ở dạng tả chân để đến với tầng cao, nhiều tìm tòi, sâu sắc, hiện đại hơn.

Một bài thơ hay yêu cầu cần có ý tưởng sâu sắc, tứ thơ hay, cách diễn đạt độc đáo, mới lạ bằng cảm xúc với nhiều cung bậc...Đối với nhà thơ, tìm được tứ thơ hay coi như hy vọng có một bài thơ hay, chỉ còn người lao động thơ thể hiện nó bằng nghệ thuật nào. Nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết: “Lao động thơ, trước hết là kiếm tứ”. Nhà thơ Huy Cận luôn đi tìm tứ thơ, thậm chí tìm tứ ở bất cứ trường hợp nào: “Có tối vô hầm trốn máy bay/ Tứ thơ chợt đến viết lên tay”. Trong tập thơ này, Phạm Trung Tín cũng có một số bài có tứ hay như bài “ Đối diện chính mình”, qua tứ thơ này tác giả rộng đường suy tư về mình, về thế giới, về thế thái nhân tình:

Cánh buồm bạt gió trùng khơi/ Hư danh ảo ảnh, vời vời thế nhân”

Hay bài “ Cắt móng tay cho mẹ”,  nói về đời mẹ, về phận con hiếu thảo, về cuộc đời...

 “Mười ngón gầy guộc nhăn nheo/ Đồng sâu ruộng cạn, đói nghèo, trả vay.../ Trời thương con được cầm tay/ Để xoa dịu bớt đắng cay phận người”

 Tuy nhiên trong tập chưa có nhiều bài như thế.

 Phạm Trung Tín tốt nghiệp cử nhân kinh tế và cử nhân triết học. Bốn năm học triết học, cùng với việc đọc sách triết, giúp cho anh có cái nhìn và cái cảm của người triết học. “Triết học thường đưa ra các câu hỏi về bản thể, nhận thức, chân lý, đạo đức, thẩm mỹ...”  Nhà triết học thường suy tư về thế giới, thường hay đặt ra nhưng câu hỏi về cuộc đời. Ta là ai? Ta từ đâu đến?... Tuy nhiên triết học và triết trong thơ khác nhau. Thơ là hương thơm, của cây nhang triết học đã được đốt lên. Trịnh Công Sơn từng học triết học trường Tây ở Sài Gòn, có lẽ vì thế ca từ của nhạc sỹ cứ vọng lên những câu hỏi hỏi tưởng vu vơ sương khói mà nghẫm thật sâu sắc: “Đi giữ mọi người, lòng như thầm hỏi, tôi đang nhớ ai?”; “Làm  sao em biết bia đá không đau?”... Phạm Trung Tín cũng có nhiều câu hỏi “thơm hương” triết học trong thơ:

 “Mình là ai, bước phong trần trả vay?” (Đối diện với chính mình)

“Miền cực lạc có thảnh thơi?/ Người đau không? Nỗi đau đời buổi nay?” (Viếng mộ Nguyễn Bính thi nhân)

Thơ đòi hỏi phải có những ý tưởng, mà có lẽ người thưởng thức thơ, cái họ cần nhất là lĩnh hội được ở tác giả những ý tưởng sâu sắc. Truyện Kiều của Nguyễn Du được thế hệ này đến thế hệ khác say mê, trước hết ở giá trị tư tưởng. Không dưng mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đưa ra tư tưởng: “Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, đại thi hào đã đưa ra thuyết tài mệnh tương đố. Có khi “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Trong từng đoạn, từng chương đều có những khái quát sâu sắc mang tầm triết học.

Còn cử nhân triết học Phạm Trung Tín có những tư tưởng gì mới? Ngay tựa sách anh đã lấy bài thơ “ Đối diện chính mình” làm tên cho cả tập, người đọc đã mường tượng được nhà thơ sẽ giải bày những sâu thẳm trong tâm hồn mình, có khi chất vấn mình. Độc giả có thể phiêu lưu vào thế giới tâm hồn của chính tác giả:

Mình đối diện chính mình thôi/ Hẹp vòng quay, chậm gót rồi, hoàng hôn/ Cộng trừ chi nữa dại khôn/ Cõi nhân sinh- rối phách hồn lạc xiêu” (Đối diện chính mình)

 Phạm Trung Tín có quãng đời đầu buồn đau vì người vợ yêu sớm đi về cõi phật. Bởi vậy ta hay thấy anh suy tư về một kiếp người, về thế giới bên kia, chính sự chiêm nghiêm, sự suy tư ấy cho người đọc nhiều cảm xúc:

 “Hiền thê ơi, Ngọc Mỹ ơi/ Nơi miên viễn ấy mây trời có xanh?” (Hai mươi mùa nhớ)

 “Trần gian oan nghiệt cỗi cằn/ Trời cao quá để nhân văn rối bời”; “ Trời mây mờ ảo khói hương/ Giếng khơi lấp cạn, góc tường cỏ che/ Đường xưa mờ dấu ngựa xe/ Nhà xưa đổi chủ- tiếng ve rã rời”  (Hai mươi mùa nhớ).

 Nhà thơ hay viết về những người bạn, người thân đã giã từ cõi tạm, đến với cõi miên viễn:

“Vẳng nghe thi khúc cồn cào/ Tái tê di ảnh, nao nao cõi lòng” (Viếng mộ Nguyễn Bính thi nhân).

 Tác giã suy tư về người bạn thơ đã an nghĩ nơi vĩnh hằng:

 “Vẫn biết trần gian là cõi tạm/ Đời người bóng nắng hắt qua sông” (Tiễn thi sỹ Đông Nguyên nơi an nghỉ vĩnh hằng)

 Có lúc anh phiêu diêu trong cõi tâm linh khi đóng vai một người con đã hy sinh trong chiến trường năm xưa, nay mẹ quy tiên, hồn con đón mẹ về trời thật cảm động:

 “Hồn con rước mẹ về trời/ Chín mươi chín tuổi chạm nơi ảo mờ/ Mẹ ơi qua những bể dâu/ Trần gian bời rối sắc màu nghĩa nhân” (Thay lời một người con liệt sỹ rước linh hồn mẹ về cõi vĩnh hằng).

 Trong tập thơ có rất nhiều bài tiển người thân, người đồng đội... về cõi vĩnh hằng, người ở lại suy tư về thế giới này, cõi đời này, đó là những ý tưởng hay, bãng lãng sương khói tâm linh, triết học.

Nếu như tư tưởng vấn đề gần như là hồn cốt của thơ, thì nghệ thuật thể hiện nó có thể là da thịt của bài thơ chăng? Bài thơ hay cần có ít nhất vài ba câu thơ hay trở lên. Câu thơ hay như là công tắc, khi bật lên nó làm sáng bừng bài thơ. Truyện Kiều của Nguyễn Du hay còn bởi trùng điệp những câu thơ hay: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”. Nhà thơ Vương Trọng chọn ra 100 câu thơ hay nhất trong truyện Kiều của Nguyễn Du. Nếu chọn 1000 câu thơ hay cũng có. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo cũng có nhiều câu thơ hay trong “Tuyển tập thơ Trần Mạnh Hảo”. Hầu như bài nào cũng có ít nhất vài ba câu thơ hay. Bởi thế tuyển tập thơ này được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt. Ví dụ như bài thơ “Sông Lam” có thể lẫy ra những câu thơ hay: “ Khoai lang gàn luống dọc thích bò ngàng”...Kìa gió Lào thổi cong sông Lam” (Sông Lam)

Vậy câu thơ hay là gì? Câu thơ hay nằm ở hình tượng thơ độc đáo, hình ảnh được nhân cách hóa tài tình, có nhiều tầng nghĩa... Trong tập thơ của Phạm Trung Tín cũng có nhiều bài hay, nhiều câu thơ hay:

“Tình đời lạc cõi mông lung/ Tiếng trăng ngơ ngác đêm chùng hương bay” (Hồi tưởng);

 “Sóng đêm/ Biển dỗ khát mềm”(Đêm Bình Thuận);

 “Bám víu thang mây tìm ước vọng/ Tự mình huyền ảo giữa vô biên” (Tình phố núi);

 “Tỷ năm tương tác cơ hàn/ Lỡ đâu ta- quả đất tàn trước trăng” (Uống rượu cùng trăng);

 “Nắng cong bông lúa rưng rưng/ Mặn mòi gió biển nuôi rừng mãi xanh” (Ngọn nguồn hạnh phúc)...

Trong thơ còn có thi điệu. Truyện Kiều dù là thơ lục bát nhưng nhiều lúc Nguyễn Du cũng biến ảo tài tình về thi điệu, khi tả Kiều đánh đàn, nhịp thơ cũng hòa với tiếng đàn. Khi đi xe ngựa trên đường khấp khểnh ổ gà như lòng nàng Kiều ngổn ngang trăm mối thì: “Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh”. “Đùng đùng gió giật mây vần/ Một xe trong cõi hồng trần như bay”. Tâm trạng của Kim Trọng khi nghe Kiều đàn cũng bắt nhịp với cung đàn: “ Khi tựa gối, khi cúi đầu, khi vò chín khúc, khi chau đôi mày”. Trong thơ  có âm điệu, có nhịp điệu thơ. Phạm Trung Tín cũng đã có nhiều cố gắng tìm tòi cách thể hiện về thi điệu:

 “Ngỗn ngang cõi thợ, cõi thầy

 Cõi ma, cõi quỷ, vơi đầy, u mê” ( Nhịp 4,2/ 2,2,2,2) (Cõi mình);

 “Chén này: Kết nghĩa- chia phôi

 Chén này: Tạ lỗi mẹ hồi tử sinh

 Chén này: Tri kỷ tri âm

 Ba lần rót- gọi ba sinh...trùng phùng” (Rưới rượu mồ bạn).

Trong tập thơ chủ yếu là thơ lục bát, mà như ta thường nói thơ lục bát dễ làm, khó hay. Phạm Trung tín vẫn trung thành với thơ dân tộc, vậy thi pháp của Phạm Trung Tín là gì khi anh chọn cách thể hiện bằng lối thơ truyền thống? Muốn hay phải có những câu thơ “ sương khói”, hư ảo, nhiều tầng nghĩa... Có lẽ thơ lục bát của anh hay là nhờ cảm xúc bắc cầu qua những câu sang khổ rất thi điệu:

“Bồi hồi gió lạc rừng xa/ Cội thông triền dốc la đà lá ru/ Xuân Hương chiều lãng đãng mù/ Người xưa ơi- gió đồi Cù gợi trêu.

Dã quỳ xanh nụ phong rêu

Mưa giăng mắc lạnh cánh diều thảo nguyên...(Hồi tưởng)

Chúng ta để ý đến hai câu đầu của khổ thứ hai rất động, rất linh hoạt, như ngân nga một tiếng đàn. Trong các bài thơ lục bát của Phạm Trung Tín có rất nhiều câu sang khổ như thế:

... Xa xôi trăng cũng như cười

Cùng ta tròn- khuyết, chín- mười  tỉnh say

 

Mời trăng cạn nhé ly này

Men cay hóa giải đọa đày nhân gian...” (Uống rượu cùng trăng)

Đó là phong cách thơ lục bát của anh, bởi thế thơ anh có giọng điệu riêng, tiếng nói riêng làm nên “thương hiệu” thơ Phạm Trung Tín.  
 

N.T (Bài đăng báo Văn nghệ số 48, ngày 26/11/2022).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cẩm nang nhỏ có giá trị để đi vào thế giới của sách
Khác với phần lớn các sách trước đó về phương pháp đọc sách hiệu quả còn nặng về hàn lâm, cuốn “ Đọc sách, điểm sách” của Nguyễn Ngọc Sơn là đóng góp kịp thời cho dòng sách này, dẫn dắt độc giả với những bước đi đầu tiên, từ đơn giản đến phức tạp.
Xem thêm
Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa
Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.
Xem thêm
Đọc thơ của một luật sư
Tôi đã được đọc tập thơ đầu tay của Thái Hưng với cái tên rất thơ: ĐI QUA MÙA THU - Nxb Hội Nhà văn 2024; Rồi một số bài in chung trong tập: Bằng lăng tím lối Mễ Trì cùng với nhiều tác giả khác, lại đôi khi thấy thơ anh trên báo, chí, đậm nhất là tờ Thời báo Văn học nghệ thuật giới thiệu chân dung tác giả. Đọc qua, chợt có cảm nhận nhẹ nhàng, song ngẫm ngợi, thấy chất nhân tình thấm đẫm, cuốn hút. Chắc chắn phải là giọng của người đã từng đi qua nhiều mùa thu xao xác lá...
Xem thêm
Thơ là linh dược
Tôi nhận được tập thơ Cả những ngày đã quên của tác giả Trần thị Thuỳ Vy, sinh năm 1975, quê Duy Xuyên Quảng Nam. Tập thơ dày 115 trang, khổ 18x18, bìa cứng giấy đẹp, trình bày rất trang nhã, do Nhà XB Hội Nhà Văn ấn hành tháng 10 năm 2024. Cầm tập thơ lên tôi đọc đi đọc lại đôi lần, thấy hay hay, cái dễ nhận ra là tâm tư tình cảm của tác giả đã gởi trọn vào đây! Về quê hương về suy tư, về cuộc sống đã được tác giả biến hoá thành những con chữ có cánh bay xa, biết nói, biết giao tiếp với mọi người. Trong đó, sự cảm nhận rất mới với Thơ.
Xem thêm
Sắc thái Thời gian và cảm xúc Hoài niệm trong tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng
Tập thơ Khi tâm hồn đầy nắng của Biện Tiến Hùng không chỉ là một tuyển tập gồm 107 bài thơ, mà còn là một tấm gương phản chiếu sinh động thế giới nội tâm phong phú và sâu lắng của thi sĩ. Bằng một giọng điệu trữ tình, chân thành và đượm màu ký ức, Biện Tiến Hùng đã khéo léo kiến tạo một không gian nghệ thuật nơi thiên nhiên, thời gian và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc đa tầng, một dòng chảy liên hồi của cảm xúc. Sức hấp dẫn của tập thơ nằm ở cách tác giả nhân hóa thời gian và biến hoài niệm thành chất liệu thi ca, qua đó không chỉ tái hiện một khung cảnh đã qua mà còn khơi gợi những nỗi niềm chung của độc giả về sự phù du của đời sống của kiếp người trong cõi nhân sinh.
Xem thêm
Cái “ngông” của Nguyễn Công Trứ
Thượng Uy Viễn – Nguyễn Công Trứ là một hiện tượng đặc biệt trong thời kỳ trung đại. Đời ông đầy giai thoại, mà giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, trí tuệ, triết lý nhân văn sâu sắc nhưng cũng rất hóm hỉnh, bình dân…
Xem thêm
Hơi thở cuộc sống trong thơ Nguyễn Kim Thanh
Trong hành trình sáng tạo của mỗi nhà văn đến với văn chương thì “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” để làm nên tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ (trữ tình), truyện (tự sự) và kịch (kịch bản văn học) đều có sự giống và khác nhau. Cùng với sự đam mê, năng khiếu, và “thiên phú” (trời cho) thì mỗi tác giả có sự thành công ở những thể loại khác nhau. Có người sáng tác thơ hay nhưng viết truyện lại dở và ngược lại có người viết truyện hay nhưng thơ thì không ra gì. Lại có người thành công ở nhiều thể loại: thơ, truyện, kịch, ký, lý luận phê bình. Nhà văn Nguyễn Kim Thanh là cây bút chuyên viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, bút ký và đã xuất bản bốn tác phẩm văn xuôi. Nhưng nay chị lại “thử sức” sang thể loại thơ với tập thơ đầu tay “Giọt nước mắt thủy tinh” có 30 bài.
Xem thêm
Nỗi buồn chiến tranh - và cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường
Vừa qua, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là một trong 50 tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam 50 năm qua đã tạo nên nhiều tranh luận trái chiều. Nhiều ý kiến cũng đã đặt ra vấn đề là có nên đưa tác phẩm này vào sách giáo khoa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hay không. Là những người đã từng học văn qua nhiều lần thay sách và là những người đang dạy môn văn nhiều năm trong nhà trường phổ thông, chúng tôi có một số suy nghĩ trong cách nhìn về việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường về Nỗi buồn chiến tranh với tính chất là “những người trong cuộc”.
Xem thêm
Văn học đương đại Trung Quốc từ lăng kính các giải thưởng Hội Nhà văn (2015 - 2025)
Nhìn chung, hệ thống giải thưởng Hội Nhà văn Trung Quốc giai đoạn 2015 - 2025 đã làm nổi bật vai trò “điều hướng” và “chuẩn hóa” của mình trong việc thiết lập các tiêu chí thẩm mĩ, định hình phong cách sáng tác và thúc đẩy tương tác giữa văn học - học thuật - công chúng. Điều này cho thấy một mô hình văn học với định hướng chiến lược - kết hợp giữa nhu cầu nghệ thuật, định hướng chính sách và cơ chế truyền thông - đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa đương đại Trung Quốc.
Xem thêm
Chân dung tâm hồn của nhà thơ Nguyên Bình qua “Mật ngữ trắng đen”
“Mật ngữ trắng đen” (NXB Thuận Hóa, 2025) của nhà thơ Nguyên Bình, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, là một thế giới thi ca đầy suy tưởng, nơi ánh sáng và bóng tối, mộng mị và hiện thực, nỗi đau và niềm yêu thương luôn song hành, soi chiếu vào nhau. Tựa như cái tên Mật ngữ trắng đen, thơ Nguyên Bình gợi cảm giác về sự đối lập, nhưng không phải để phân định ranh giới thiện ác, buồn vui, mà để khai mở một cõi cảm xúc và nhận thức đa chiều về tình yêu, cuộc sống, con người. Ở mỗi bài thơ, tập thơ của anh đều ẩn chứa một lớp nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Xem thêm
Quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu đối với Phật giáo
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà Nho tuy đỗ đạt không cao nhưng cụ là một nhà Nho đức nghiệp, một con người trong ba tư cách: một nhà thơ, một thầy giáo và một thầy thuốc suốt đời vì dân vì nước.
Xem thêm
Thơ Nguyễn Bình Phương – Tiểu luận của Thiên Sơn
Việc làm thơ của Nguyễn Bình Phương như một sự bừng lóe của linh giác. Mỗi lần cầm bút viết là khám phá cái thế giới lạ lùng, huyền bí như thế giới của giấc mơ. Mà làm thơ, như anh, chính là đang theo đuổi những giấc mơ. Như bước vào một cảnh giới kỳ lạ, với cách nhìn, cảnh cảm và cách nghĩ khác, xa lạ với hầu hết mọi người.
Xem thêm
Văn học và dân tộc như một vấn đề học thuật
Kết nối ngôn ngữ, văn học với sự tồn tại một dân tộc đã là một thực hành phổ biến trong đời sống tri thức ở châu Âu từ nửa đầu thế kỉ XVIII. Một dân tộc là lí tưởng khi nó thống nhất tất cả những người nói cùng một ngôn ngữ trong một lãnh thổ chung, từ đó tạo thành một quốc gia - dân tộc. Văn học, với tư cách là hiện thân rõ ràng và lâu đời nhất của ngôn ngữ một dân tộc, có vai trò như là yếu tố ràng buộc và thống nhất. Nhà phê bình văn học Hoa Kì René Wellek viết: “Văn học vào thế kỉ XVIII bắt đầu được cảm thấy như là tài sản quốc gia, như là một sự thổ lộ tâm trí dân tộc, như là một phương tiện cho quá trình tự xác định của dân tộc”(1).
Xem thêm
Nhà văn Thomas Mann: Bậc thầy của mâu thuẫn
Xuất bản lần đầu vào năm 1924, Núi thần nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy và được cho là tiểu thuyết tiếng Đức có ảnh hưởng bậc nhất thế kỉ 20. Nhưng ít ai biết nó được viết ra trong sự gián đoạn của chiến tranh và thay đổi của thời đại.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” - Khúc sử thi đi qua căn bếp có mùi nhang
Bài đăng trên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 12/2025.
Xem thêm
Ngọn gió chiều thổi qua “Nắng dậy thì”
Dòng thời gian sáng, trưa, chiều, tối đã chảy vào văn thơ bao thời theo cách riêng và theo cái nhìn của mỗi người cầm bút. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thả cách nhìn về phía thời gian qua những sáng tác của ông. Thâm nhập vào không gian thơ trong Nắng dậy thì*, bạn đọc sẽ nhận thấy cảm thức thời gian của một thi sĩ ở tuổi đang chiều.
Xem thêm
Văn chương Nobel và thông điệp nhân văn
“Không chỉ ngày nay loài người mới khốn khổ? Chúng ta luôn luôn khốn khổ. Sự khốn khổ gần như đã trở thành bản chất của con người (Osho, Chính trực, Phi Mai dịch, Nxb Lao động, 2022, tr.14). Thế giới ngày càng bất an, con người ngày càng mỏng mảnh. Sức chống cự của con người giảm thiểu trước quá nhiều biến động: chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai; đứt gãy cộng đồng, sự đơn độc, cái chết. Vì con người, dòng văn học chấn thương ra đời. Cũng vì con người, xu hướng văn học chữa lành hình thành vào thế kỉ XXI.
Xem thêm
Những nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng
Trong hành trình trở về cội nguồn, Ma Văn Kháng đã dựng nên nhiều chân dung cao đẹp tiêu biểu cho truyền thống ân nghĩa thuỷ chung của dân tộc. Nhưng nổi bật giữa bản đồng ca trong trẻo ấy là nhân vật chị Hoài - một con người coi “cái tình, cái nghĩa” là quý nhất. Hình ảnh chị Hoài trở về thăm và ăn tết với gia đình chồng cũ vào chiều ba mươi tết đã gây xúc động lòng người, để lại nhiều tình cảm đẹp đẽ cho bao thế hệ độc giả.
Xem thêm
Đọc ‘Bão’ – Ánh sáng nhân tâm giữa cơn bão thời cuộc
Tiểu thuyết Bão của PGS.TS, nhà văn Nguyễn Đức Hạnh được nhà văn Phan Đình Minh tiếp cận trên cả ba phương diện: nội dung xã hội, nghệ thuật tự sự và chiều sâu nhân văn.
Xem thêm