TIN TỨC

Chữ tâm đọng lại

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-03-17 17:54:32
mail facebook google pos stwis
1729 lượt xem

BÙI PHAN THẢO
(Đọc tập thơ “Ấm lạnh pháp đình” của Nguyễn Minh Tâm, NXB Hội Nhà văn, 2023)

 

Xưa nay hễ nói tới pháp đình là người đời thường nghĩ tới sự uy nghi, nghiêm khắc; nơi những tranh tụng có thể đem lại cách tiếp cận khác về vụ án hay mỗi phán quyết của quan tòa đều gắn với những số phận con người. Ở đó, pháp luật thượng tôn, những chương điều luật hóa rạch ròi và án tại hồ sơ… Ở đó, còn là một góc khác của cuộc đời với rất nhiều câu chuyện về đạo lý, nghĩa nhân, sự hướng thiện và cả những nỗi niềm lắng sâu, nhất là người gần như dành trọn cuộc đời với ngành luật như luật sư – nhà thơ Nguyễn Minh Tâm.

Với “Ấm lạnh pháp đình”, nhà thơ chọn cách tiếp cận trực diện, chọn chính mình làm chủ thể. Từ góc nhìn của bản thân soi chiếu, làm sáng lên những ý nghĩ, tâm tư, chuyển tải nỗi người từ chính nơi pháp đình và quyện chặt trong những ưu tư về thế thái nhân tình, những trầm luân thế sự.

Là luật sư, tiếp cận hồ sơ vụ án, tham gia vào cả quá trình tố tụng, tác giả thấu hiểu những nỗi oan khuất trong nhiều trường hợp. Người đọc thấy bóng luật sư – nhà thơ trong phòng làm việc, đi đi lại lại, câu hỏi trong đầu như nỗi day dứt:

Oan lẫn với không oan/ cứ xoay trong mắt bão/…đành nuôi một nguyện ước/ chờ lịch sử phân minh/ sự thật sẽ nguyên hình/ không ai che được mãi” (Oan – không oan)

Những phút giây nghe trong lòng rỉ máu khi nỗi oan khuất theo suốt thân chủ 10 năm đằng đẵng, cứ ám ảnh dằng dai, tưởng đã lặng yên nay lại sủi tăm:

Ngồi lặng thương thân chủ/ lặng lẽ viết thành thơ/ nghe lòng mình rỉ máu/ suốt mười năm đến giờ” (Này nọ kia)

Nên không lạ khi nhiều bài trong tập thơ này có chữ “oan”.

Oan khiên còn xoáy giữa đời/ bao giờ công lý hát lời công tâm/ khát mong như mạch nước ngầm/ chảy trong lòng đất âm thầm cụ ơi” (Cụ Đa)

Lời ta rơi xuống đất dày/ mặn như nước mắt thấm đầy oan khiên” (Hỏi)

Nên oan trái như trò đuổi bắt/ cứ trớ trêu phơi trước nhỡn tiền” (Huỳnh Văn Nén)

Nhìn thân chủ được minh oan/ từ trong khóe mắt hai hàng lệ rơi/ mười năm kêu thấu đất trời/ ai hay oan khuất một thời đã xa” (Câu thơ viết giữa pháp đình)

Dùng lối thơ tự sự, chơi chữ khá tài tình (hành luật – luật bị hành), nhà thơ kêu gọi sự thức tỉnh của lương tri, vận câu giáo lý nhà Phật để răn chung bao người:

Hành luật mà bất luật/ thì luật sẽ bị hành/ vì đã biến luật thật/ thành luật của rừng xanh/ và những lúc như thế/ oan khuất sẽ xảy ra/…kẻ gây ra oan khuất/ bất kể động cơ gì/ nếu ngày xưa chắc chắn/ sẽ phạm tội tru di/ đạo lý đang thầm thì/ quay đầu là bờ đấy” (Đạo lý)

Tập thơ cũng đem đến cho người đọc thấu tỏ một góc khác của nghề nghiệp. Một thẩm phán, sợ mang tiếng nhận “chạy án” nên không dám xử án treo. Trước định kiến xã hội, vị thẩm phán trần tình:

Thương ông muốn xử treo đi/ ngại vì tiếng bấc tiếng chì chen nhau/ nào tôi có phải thế đâu/ lòng tôi vàng chứ chẳng thau đâu mà/…nhìn nhau chẳng dám thật tình/ biết đâu hậu quả rập rình sau lưng/ giam ông tôi cũng chẳng mừng/ thẳm sâu day dứt ngập ngừng tâm thân” (Tâm tư một thẩm phán)

Sau những khoảng lặng của pháp đình, ý tứ bật lên, câu thơ được khai sinh. “Ấm lạnh pháp đình” là những buồn vui chất chứa, những nỗi niềm được giãi bày. Bên ngoài trời chuyển mùa, se se lạnh, bên trong phiên tòa đang nóng bởi tranh luận của các bên. Lúc lắng lòng, luật sư – nhà thơ nhìn lại đời mình và tỏ bày nỗi mong:

Ngẫm mình nay đã ngả chiều/ sức này còn được bao nhiêu cho đời/… đường nghề gian khó không cùng/ gió mưa trộn với bão giông đầy trời/… mong ai nẩy mực cầm cân/ nhớ câu giữ lấy lòng nhân, hỡi người/ chỉ mong với tấm lòng vơi/ góp thêm chút nắng cho đời ấm lên/ đem về cho mẹ cho em/ lẽ công bằng của tổ tiên bao đời” (Mong)

Tập thơ này có thể nói là thuần túy viết về chốn pháp đình, viết về luật pháp nhưng không khô khan, không nặng nề, vì những dòng thơ đều mang tính tự sự về đời sống, thân phận con người. Bên cạnh những câu thơ trầm tích nỗi buồn, đầm đìa nước mắt là những câu thơ phóng thích niềm hân hoan, niềm tin công lý. Từ giọt nước mắt của bị cáo chồng xin nhận thêm hình phạt cho bị cáo vợ trong vụ án đồng phạm với giám đốc, nhà thơ cảm tác:

Lời không đủ, em nói bằng nước mắt/ giọt nước mắt của em làm rớt lệ bao người/ nước mắt chảy giữa pháp đình lặng ngắt/ có nước mắt nào chát hơn thế, em ơi” (Nước mắt)

Sau một phiên tòa, lời thơ nghe nhẹ như tiếng gió nhưng nặng kiếp trầm luân cõi người, dường như lại là tiếng thở dài:

Ừ xong, thì cũng đã xong/ bây giờ trầm lại cho lòng dịu đi/ bên tai gió khẽ thầm thì/ thế là xong, chẳng có gì nữa đâu” (Xong)

Nhà thơ tâm sự về nghề, dặn dò với đàn em, học trò mà cũng dặn lòng:

Con tim dễ bị say/ nên cái đầu cần tỉnh/ chỉ dựa vào lý tính/ mới phán đúng việc đời” (Nghề mình)

Nghề ta cần khuôn thước/ quy chuẩn của đạo người/… chỉ nói bằng tim óc/ mới mong tránh lỗi lầm/ trọn vẹn một chữ tâm/ mình ơi, mình nhớ nhé” (Tự răn mình)

Trước sau mỗi bản án đều là số phận con người:

Ngồi án tiểu hay đại/ ai cũng phải hết mình/… chỉ mong sao công lý/ đừng đội nón ra đi” (Đại, tiểu)

Với trái tim nhân hậu của một người làm thơ, luật sư đứng về những người yếu thế. Bài thơ ngắn, câu thơ gọn mà trĩu nặng tình:

Toàn những người lao động/ chỉ làm công ăn lương/ khóc trước vành móng ngựa/ nghe mà não lòng thương/ bao nhiêu là số phận/ hẩm hiu đến thế này/… phiên tòa buổi chiều nay/ nặng như là đeo đá” (Khóc)

Giữa những phiên tòa dài ngắn, có những khắc khoải đầy lên mãi, nhà thơ dặn dò phải vững tin, đó là ánh sáng quý giá, soi rọi lòng nhau, để vươn lên mà sống vì còn tin yêu. Niềm tin đó là vô giá khi oan khuất còn lảng vảng, làm hao mòn tâm trí bao người:

Thôi cứ chờ em ạ/ hướng đến mặt trời xanh/ dẫu hôm nay mưa đấy/ vẫn còn màu thiên thanh” (Cứ chờ em ạ)

Có thể xem “Ấm lạnh pháp đình” là một ký sự bằng thơ của một luật sư – nhà thơ – nhà báo (tác giả từng làm tổng biên tập tạp chí Luật sư Việt Nam) về chốn pháp đình và cả về đời sống với những lát cắt điển hình, những chân dung đặc tả, những sự kiện đáng chú ý cùng những đúc kết nội tâm sâu sắc của một luật sư nổi tiếng, một nhà thơ thâm trầm. Cũng có lúc ông viết với giọng pha chút diễu nhại nhưng người đọc phải thốt lên: hay quá, sâu sắc quá.

Tòa nhắc bị cáo Khói/ rằng phải trả lời ngay/ làm ba người chết ngạt/ cả chục người mắt cay/ bị cáo Khói lễ phép/ tại thằng Lửa, thưa tòa/…Tòa gọi đương sự Lửa/ cớ sao cháy như điên/ Lửa thanh minh lý sự/ tại cái Người bật diêm/ đến đây tòa bỗng bí/ vì thiếu đương sự Người/ vì tòa không triệu tập/ vì chỉ xử Khói thôi/ luật sư cãi hăng lắm/ đòi lôi Người ra tòa/… phiên tòa vẫn kết thúc/ hình phạt Khói: tối đa” (Xét xử)

Cái ấm lạnh chốn pháp đình cũng vào thơ Nguyễn Minh Tâm một cách nên thơ, đầy tính nhân văn:

Sân tòa bảng lảng hơi thu/ phủ lên mấy chiếc xe tù lặng thinh/ ngẩn ngơ mình tự hỏi mình/ hơi thu có thấm chút tình phạm nhân” (Hơi thu)

Bên ngoài sân là cảnh vật, bên trong là hai phiên xử. Hai hình ảnh đối lập, hai mệnh đề đặt ra:

Phiên này như thể lên đồng/ tiền – tình cứ thế mà tồng ngồng phơi/ phiên kia lặng tiếng im hơi/ một mình em phải tự bơi giữa dòng/ một phiên thẳng, một phiên cong/ bờ nào nhớ, bờ nào mong, bờ nào” (Hai phiên)

Chất thơ cứ bàng bạc, giữ người đọc ở lại đến trang cuối cùng của “Ấm lạnh pháp đình”. Thành công của tác giả là đem đến cho người đọc những khoảng lặng giữa ngôn từ, những khoảnh khắc làm xao lòng người. Trong một phiên tòa, người vợ xin được đoàn tụ khi người chồng vì tai nạn mà thành người tàn phế, sợ làm gánh nặng cho vợ con mà xin ly hôn:

Em xin anh hãy rút đơn/ nghĩa tình đừng tính thiệt hơn làm gì/ cho dù đất chuyển trời suy/ chân em đủ đỡ anh đi trọn đời/ vai em gánh đã quen rồi/ gánh thêm chút nữa lần hồi cũng qua/ con mình cần có mẹ cha/ để cùng ấm cửa êm nhà như xưa/ nhìn anh, chị khóc như mưa/ pháp đình lặng đến ngẩn ngơ cả chiều” (Em xin)

Tình người cũng lấp lánh từ sự chân thành, lấy lòng nhân đối đãi với nhau. Khi được luật sư vận động ra đầu thú, điều tra viên đã hỏi Đặng Văn Hiến, phạm nhân trong vụ án xảy ra tại Đắc Nông năm 2016 “Em khỏe không? Em có ăn uống đầy đủ không”.

Một câu hỏi như không phải của người điều tra tội phạm/ đã bật lên từ một tấm lòng/ điều tra viên ơi/ nếu không hiểu tận cùng cớ sự/ liệu anh có bao giờ hỏi thế này không/… cái nếu ấy đã bao nhiêu người biết/ sao những vụ án đau lòng vẫn cứ xảy ra” (Nếu)

Mượn thời khắc giao thoa ngày đêm, lúc chập choạng không rõ mặt người, nhà thơ nói đến chuyện đời, chuyện nghề:

Khắc này nguy hiểm lắm/ thật giả trộn vào nhau/ không ra tối ra sáng/ cứ dở dở dang dang/ thế là thành chập choạng/ khiến nỗi đời mang mang” (Chập choạng)

Biết quy luật cuộc sống là vậy nhưng luật sư – nhà thơ vẫn song hành nỗi đời mang mang. Dẫu không ít lúc buồn đau vì những nỗi hàm oan của người đời chưa được làm sáng tỏ, song vẫn vững tâm khi công lý khẽ mỉm cười chua chát “ai bảo trong tim ngươi máu cứ đỏ hồng”.

Và con tim ấy mãi hồng tươi. Và chữ tâm đã đọng lại bên đời, bên những trang thơ.

Nguồn: Văn nghệ số 11 (ngày 18/3/2023).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm