TIN TỨC

“Em không thể nói lời từ biệt”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-10-27 10:59:06
mail facebook google pos stwis
1595 lượt xem

VĂN CÔNG HÙNG

Sau khi rời Pleiku, cũng lâu lâu rồi, hễ có dịp là Đào Phong Lan lại tìm cách trở về. Tôi vài lần làm tài xế cho Đào Phong Lan lang thang Gia Lai, lên cả Kon Tum, vài lần làm hướng dẫn viên online khi chị muốn đưa bạn bè về Pleiku ngắm dã quỳ. Và mới đây, chị về lại Gia Lai trong tư cách thi sĩ khi trình làng tập thơ “Em không thể nói lời từ biệt” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn).

Thực ra, tên chị, thơ chị vẫn thường được mọi người nhắc đến, nhất là trong những cuộc vui, liên hoan tập thể, khi một ai đó cất lên tiếng hát “Đêm trong veo/nhà rông bập bùng ánh lửa/cô gái Jrai hát câu gì/mà trăng nhô lên”. Mọi người không ai bảo ai đều tay trong tay cùng hòa vào vòng xoang tập thể, có thể ở làng, có khi trên phố, giữa bãi cỏ rộng hay trong phòng nhỏ, có thể ở Gia Lai hoặc một tỉnh, thành nào đấy... Rồi thế nào cũng có người nhắc đến chị, bởi Đào Phong Lan chính là tác giả lời của bài hát “Đêm xoang Tây Nguyên” mà mọi người đang hát.

Tôi từng là người được theo dõi Đào Phong Lan từ những bước chập chững đầu tiên của nghiệp viết. Hồi ấy, chúng tôi thường tổ chức các chuyến đi thực tế, những trại mini cho thiếu nhi, Đào Phong Lan luôn là cái tên đứng thứ tự đầu tiên trong danh sách được mời.


Tập thơ mới của Đào Phong Lan sẽ được ra mắt vào lúc 9g sáng 01/11/2023 tại Hội quán Văn nghệ sĩ, 81 Trần Quốc Thảo, Quận 3, TPHCM.

Thuộc típ người hiện đại và cũng còn trẻ, nhưng thơ chị lại rất truyền thống. Sự dịu dàng, mịn màng, sự chuẩn mực câu chữ, sự tuân thủ luật lệ, sự sử dụng hình ảnh, liên tưởng đậm đặc chất Việt truyền thống, đặc biệt là chị viết rất nhiều lục bát và rất nhuyễn: “Bây giờ còn trẻ với ai/Xác xơ xơ xác những nhài cùng ngâu/Trăng tàn một nửa ngõ sau/Dâu non ở cuối vườn dâu đã già/... Ba chiều ngồi dõi trăng lên/Bốn bên thì cả bốn bên gió lùa”.

“Ly khúc Pleiku” là một bài được nhiều người thích ngay từ khi nó vừa được tác giả viết xong, năm 1995, chị cũng thể hiện bằng lục bát, một lục bát biến thể để nói được nhiều hơn, thể hiện tâm trạng rõ hơn: “Trăng ơi/Trăng hãy về đi!/Khuya rồi/Nấn ná làm gì nơi đây!/Đêm xa/ Mái phố vơi đầy/Ừ thì vẫn biết chia tay là buồn/Trăng xa/Sắc phố trầm hơn/Thác không ghềnh nữa/Sóng buồn không reo/Gió thổi hun hút lưng đèo/Ly cà phê uống cả chiều chưa vơi/Tạ từ nhau nhé/Trăng ơi!/Sông còn bên lở bên bồi phù sa/Nắng còn tím nhạt tím nhòa/Đêm còn chống chếnh nữa là cô đơn”...

Hôm nay, tôi đọc lại với một tâm thế khác, nhận ra rằng, bản thân Pleiku ở đây vừa là khách thể vừa là chủ thể, vừa trực tiếp vừa gián tiếp, tác giả giãi bày, tác giả xa xót, tác giả chia sẻ, day dứt để nói về một cuộc chia tay. Chia tay trong day dứt, trong tiếc nuối, trong cả hy vọng. Nó có thể là cuộc chia tay cá nhân và cũng có thể chia tay vùng đất. Đọc xong cứ khắc khoải như mình vừa mất cái gì!

Tập thơ được xuất bản khá công phu, từ cái cách chia 56 bài thơ thành 4 “khúc” cũng là 4 mùa: thu, đông, xuân, hạ, tới các tranh minh họa đen trắng rất ấn tượng. Và độc lạ nữa là, có QR Code để người đọc scan nghe chính tác giả đọc 15 bài thơ của mình. Sực nhớ, Đào Phong Lan là người tài hoa, có thể sáng tác nhạc, ôm đàn hát (chị đã tốt nghiệp Trung cấp Âm nhạc Trường Văn hóa Nghệ thuật Gia Lai), đọc thơ rất truyền cảm.

Đọc hết tập thơ, tôi nhận ra một Đào Phong Lan đa cảm và tinh tế. Thì tinh tế nên phát hiện ra trưng nó như thế này: “Anh bước đi không đành/Vấp vào tiếng đàn/Ngẩn ngơ đứng lại/Nắng óng vàng hoa dại/Cánh ong bỗng ngập ngừng”... Đa cảm nên: “Ta đi cuối đất cùng trời/Chỉ mong gặp gỡ được người tri âm/Lòng xanh biếc một giọt mầm/Tim rền như tiếng phím cầm chiều rung.../Trời chung chiêng/Đất chung chiêng/Ta đi trên đất đổ nghiêng mà về”. Tôi rất thích cái hình ảnh đi trên đất đổ nghiêng mà về ấy. Không nhiều người phát hiện ra điều ấy. Chữ “mà” rất đắt.

Thơ Đào Phong Lan nhiều vu vơ. Nhưng thì ra lại hoàn toàn không vu vơ, nhưng nó cứ nhẹ tênh như vu vơ, kiểu như “Chỉ còn là viên đất/Buồn tênh trên luống cày”. Đất thì có vẻ buồn tênh thế, nhưng người thì trĩu nặng. Nhân tình thế thái gói vào những câu nhẹ tênh “Định mua vé vào nỗi nhớ/Mà thu thì xa rồi”, “Hồn ta mềm như cỏ/chưa gió về đã lay”.

Đào Phong Lan, Nguyễn Thị Hường Lý và một vài bạn nữa là lứa hội viên đầu tiên của Hội Văn học Nghệ thuật Gia Lai-Kon Tum. Ngày ấy vẫn là thiếu niên, các bạn này đã được kết nạp vào hội, cũng đi họp, cũng phát biểu, cũng bỏ phiếu bình đẳng như... người lớn. Và ngày ấy, công tác phát hiện và bồi dưỡng các cây bút trẻ khá chỉn chu, bài bản. Mới đây, tôi ngồi cà phê với nhà thơ Hương Đình, anh nhắc việc tôi từng đặt anh viết bài về tập thơ “Một thời trăng” cho Tạp chí Văn nghệ và giờ anh vẫn còn khen tập ấy. Đó là tập thơ thiếu nhi đầu tiên, và cho tới giờ, hình như cũng là duy nhất của Gia Lai. Hồi ấy, những trại sáng tác văn học riêng cho thiếu nhi thường xuyên được tổ chức, tạo điều kiện cho các bạn trẻ làm quen với văn chương, thỏa mãn với văn chương.

Lứa đầu tiên ấy, giờ Đào Phong Lan và Nguyễn Thị Hường Lý vẫn tiếp tục với văn chương. Nguyễn Thị Hường Lý là biên tập viên phòng sách văn học Nhà xuất bản Kim Đồng, Đào Phong Lan là giám đốc doanh nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh. Và, lần ra sách này là cách Đào Phong Lan chứng minh, văn chương vẫn ám ảnh chị, vẫn khiến chị “không thể nói lời từ biệt”.

“Người xa lạ đi trên phố/Chớp ngang một ánh mắt nhàu/Ta cỏ hoang trên đám cỏ/Rối bời khi gió qua nhau”, tôi rất thích những câu thơ như thế của Đào Phong Lan, nó nhẹ tênh đấy, nhưng trĩu nặng, nhưng níu kéo, nhưng ám ảnh, nó khiến ta cũng phải “khác trước” cả cái nỗi buồn. Với Pleiku, chị ám ảnh thế này khi “Từ biệt”: “Chiều phố núi những hàng cây lặng lẽ/Gió ngừng bay mà mây cũng ngừng trôi”.

Lại nhớ câu thơ nổi tiếng của Chế Lan Viên: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Với Đào Phong Lan, “Em không thể nói lời từ biệt” như là lời nhắn cho một vùng đất, ở đó, chị đã có những ngày đắm say và chập chững và tất nhiên nữa, rất đẹp.

Nguồn: Gia Lai Online

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm