TIN TỨC

“Em không thể nói lời từ biệt”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-10-27 10:59:06
mail facebook google pos stwis
1904 lượt xem

VĂN CÔNG HÙNG

Sau khi rời Pleiku, cũng lâu lâu rồi, hễ có dịp là Đào Phong Lan lại tìm cách trở về. Tôi vài lần làm tài xế cho Đào Phong Lan lang thang Gia Lai, lên cả Kon Tum, vài lần làm hướng dẫn viên online khi chị muốn đưa bạn bè về Pleiku ngắm dã quỳ. Và mới đây, chị về lại Gia Lai trong tư cách thi sĩ khi trình làng tập thơ “Em không thể nói lời từ biệt” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn).

Thực ra, tên chị, thơ chị vẫn thường được mọi người nhắc đến, nhất là trong những cuộc vui, liên hoan tập thể, khi một ai đó cất lên tiếng hát “Đêm trong veo/nhà rông bập bùng ánh lửa/cô gái Jrai hát câu gì/mà trăng nhô lên”. Mọi người không ai bảo ai đều tay trong tay cùng hòa vào vòng xoang tập thể, có thể ở làng, có khi trên phố, giữa bãi cỏ rộng hay trong phòng nhỏ, có thể ở Gia Lai hoặc một tỉnh, thành nào đấy... Rồi thế nào cũng có người nhắc đến chị, bởi Đào Phong Lan chính là tác giả lời của bài hát “Đêm xoang Tây Nguyên” mà mọi người đang hát.

Tôi từng là người được theo dõi Đào Phong Lan từ những bước chập chững đầu tiên của nghiệp viết. Hồi ấy, chúng tôi thường tổ chức các chuyến đi thực tế, những trại mini cho thiếu nhi, Đào Phong Lan luôn là cái tên đứng thứ tự đầu tiên trong danh sách được mời.


Tập thơ mới của Đào Phong Lan sẽ được ra mắt vào lúc 9g sáng 01/11/2023 tại Hội quán Văn nghệ sĩ, 81 Trần Quốc Thảo, Quận 3, TPHCM.

Thuộc típ người hiện đại và cũng còn trẻ, nhưng thơ chị lại rất truyền thống. Sự dịu dàng, mịn màng, sự chuẩn mực câu chữ, sự tuân thủ luật lệ, sự sử dụng hình ảnh, liên tưởng đậm đặc chất Việt truyền thống, đặc biệt là chị viết rất nhiều lục bát và rất nhuyễn: “Bây giờ còn trẻ với ai/Xác xơ xơ xác những nhài cùng ngâu/Trăng tàn một nửa ngõ sau/Dâu non ở cuối vườn dâu đã già/... Ba chiều ngồi dõi trăng lên/Bốn bên thì cả bốn bên gió lùa”.

“Ly khúc Pleiku” là một bài được nhiều người thích ngay từ khi nó vừa được tác giả viết xong, năm 1995, chị cũng thể hiện bằng lục bát, một lục bát biến thể để nói được nhiều hơn, thể hiện tâm trạng rõ hơn: “Trăng ơi/Trăng hãy về đi!/Khuya rồi/Nấn ná làm gì nơi đây!/Đêm xa/ Mái phố vơi đầy/Ừ thì vẫn biết chia tay là buồn/Trăng xa/Sắc phố trầm hơn/Thác không ghềnh nữa/Sóng buồn không reo/Gió thổi hun hút lưng đèo/Ly cà phê uống cả chiều chưa vơi/Tạ từ nhau nhé/Trăng ơi!/Sông còn bên lở bên bồi phù sa/Nắng còn tím nhạt tím nhòa/Đêm còn chống chếnh nữa là cô đơn”...

Hôm nay, tôi đọc lại với một tâm thế khác, nhận ra rằng, bản thân Pleiku ở đây vừa là khách thể vừa là chủ thể, vừa trực tiếp vừa gián tiếp, tác giả giãi bày, tác giả xa xót, tác giả chia sẻ, day dứt để nói về một cuộc chia tay. Chia tay trong day dứt, trong tiếc nuối, trong cả hy vọng. Nó có thể là cuộc chia tay cá nhân và cũng có thể chia tay vùng đất. Đọc xong cứ khắc khoải như mình vừa mất cái gì!

Tập thơ được xuất bản khá công phu, từ cái cách chia 56 bài thơ thành 4 “khúc” cũng là 4 mùa: thu, đông, xuân, hạ, tới các tranh minh họa đen trắng rất ấn tượng. Và độc lạ nữa là, có QR Code để người đọc scan nghe chính tác giả đọc 15 bài thơ của mình. Sực nhớ, Đào Phong Lan là người tài hoa, có thể sáng tác nhạc, ôm đàn hát (chị đã tốt nghiệp Trung cấp Âm nhạc Trường Văn hóa Nghệ thuật Gia Lai), đọc thơ rất truyền cảm.

Đọc hết tập thơ, tôi nhận ra một Đào Phong Lan đa cảm và tinh tế. Thì tinh tế nên phát hiện ra trưng nó như thế này: “Anh bước đi không đành/Vấp vào tiếng đàn/Ngẩn ngơ đứng lại/Nắng óng vàng hoa dại/Cánh ong bỗng ngập ngừng”... Đa cảm nên: “Ta đi cuối đất cùng trời/Chỉ mong gặp gỡ được người tri âm/Lòng xanh biếc một giọt mầm/Tim rền như tiếng phím cầm chiều rung.../Trời chung chiêng/Đất chung chiêng/Ta đi trên đất đổ nghiêng mà về”. Tôi rất thích cái hình ảnh đi trên đất đổ nghiêng mà về ấy. Không nhiều người phát hiện ra điều ấy. Chữ “mà” rất đắt.

Thơ Đào Phong Lan nhiều vu vơ. Nhưng thì ra lại hoàn toàn không vu vơ, nhưng nó cứ nhẹ tênh như vu vơ, kiểu như “Chỉ còn là viên đất/Buồn tênh trên luống cày”. Đất thì có vẻ buồn tênh thế, nhưng người thì trĩu nặng. Nhân tình thế thái gói vào những câu nhẹ tênh “Định mua vé vào nỗi nhớ/Mà thu thì xa rồi”, “Hồn ta mềm như cỏ/chưa gió về đã lay”.

Đào Phong Lan, Nguyễn Thị Hường Lý và một vài bạn nữa là lứa hội viên đầu tiên của Hội Văn học Nghệ thuật Gia Lai-Kon Tum. Ngày ấy vẫn là thiếu niên, các bạn này đã được kết nạp vào hội, cũng đi họp, cũng phát biểu, cũng bỏ phiếu bình đẳng như... người lớn. Và ngày ấy, công tác phát hiện và bồi dưỡng các cây bút trẻ khá chỉn chu, bài bản. Mới đây, tôi ngồi cà phê với nhà thơ Hương Đình, anh nhắc việc tôi từng đặt anh viết bài về tập thơ “Một thời trăng” cho Tạp chí Văn nghệ và giờ anh vẫn còn khen tập ấy. Đó là tập thơ thiếu nhi đầu tiên, và cho tới giờ, hình như cũng là duy nhất của Gia Lai. Hồi ấy, những trại sáng tác văn học riêng cho thiếu nhi thường xuyên được tổ chức, tạo điều kiện cho các bạn trẻ làm quen với văn chương, thỏa mãn với văn chương.

Lứa đầu tiên ấy, giờ Đào Phong Lan và Nguyễn Thị Hường Lý vẫn tiếp tục với văn chương. Nguyễn Thị Hường Lý là biên tập viên phòng sách văn học Nhà xuất bản Kim Đồng, Đào Phong Lan là giám đốc doanh nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh. Và, lần ra sách này là cách Đào Phong Lan chứng minh, văn chương vẫn ám ảnh chị, vẫn khiến chị “không thể nói lời từ biệt”.

“Người xa lạ đi trên phố/Chớp ngang một ánh mắt nhàu/Ta cỏ hoang trên đám cỏ/Rối bời khi gió qua nhau”, tôi rất thích những câu thơ như thế của Đào Phong Lan, nó nhẹ tênh đấy, nhưng trĩu nặng, nhưng níu kéo, nhưng ám ảnh, nó khiến ta cũng phải “khác trước” cả cái nỗi buồn. Với Pleiku, chị ám ảnh thế này khi “Từ biệt”: “Chiều phố núi những hàng cây lặng lẽ/Gió ngừng bay mà mây cũng ngừng trôi”.

Lại nhớ câu thơ nổi tiếng của Chế Lan Viên: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Với Đào Phong Lan, “Em không thể nói lời từ biệt” như là lời nhắn cho một vùng đất, ở đó, chị đã có những ngày đắm say và chập chững và tất nhiên nữa, rất đẹp.

Nguồn: Gia Lai Online

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Trần Hạ Vi và hành trình nỗi nhớ
Phiến hạ là tập thơ thứ 3 của Trần Hạ Vi. Là người quan tâm đến đời sống văn học, tác giả và tác phẩm, nên trong những người Việt sống và viết ở hải ngoại, tôi khá quan tâm đến các tác giả như Trương Anh Tú (Đức), Võ Thị Như Mai (Úc) và Trần Hạ Vi (Canada). Vì thế, tôi tìm đọc Phiến hạ.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm