TIN TỨC

Giữ lòng từ ái với đời

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-04-15 06:23:43
mail facebook google pos stwis
1706 lượt xem

BÙI PHAN THẢO
(Đọc tập thơ “Kiếm chữ trong thiền” của Lê Viết Hòa)

Nhà thơ Bùi Phan Thảo đọc bài viết tại buổi Ra mắt tập "Kiếm thơ trong thiền"
 

Nghe qua tựa đề tập thơ “Kiếm chữ trong thiền” là đã thấy rất gợi, khiến bạn đọc chú ý. Với chủ đề mang tính triết lý nhân sinh này, cũng có thể thấy, với người này là hấp dẫn nhưng với người khác là không dễ đọc.

Song Lê Viết Hòa biết đem đến cho người đọc sự dẫn dụ, bằng câu chữ nhẹ nhàng, một lối chuyện trò đặc trưng của người Huế và thể loại lục bát nhuyễn nhị. Từ khúc “Ru mình” bằng câu hỏi, hỏi em, hỏi đời, hỏi người:

Hỏi người đạo mấy con đường/ trong ngoài không có tứ phương vô chừng/ hỏi hồn cây cỏ rưng rưng/ đi là về lại chưa ngưng luân hồi”

Những cơn gió tụ tan, tình như trái cù xoay theo gió, em áo trắng thơ ngây, mưa đan sợi nhớ tóc cài hoàng hôn, để giữ yêu thương, tĩnh tâm chàng thi sĩ:

“An nhiên kiếm chữ trong thiền/ gởi vào đời nụ cười hiền trẻ thơ”

Lê Viết Hòa trình diện một chân dung thơ, đi qua sóng gió cuộc đời vẫn vững chân nhẹ bước, vẫn yêu thương nồng nàn “hồng hoa một đóa thay lời” và giữ lòng từ ái giữa cuộc ngày đa đoan:

Cù lao chín chữ nghĩa ân/ bão giông xin giữ lòng nhân với đời” (Sinh nhật).

Lê Viết Hòa những tìm tòi trong cấu tứ, những thủ pháp nghệ thuật. Bài “Dấu hỏi”, tôi đi nhặt nắng cuối trời; tôi đi gom nắng cuối đường; tôi đi thắp nắng biên thành; tôi tìm giọt nắng bâng quơ. Gom nhặt để nhóm, thắp; có rồi mất đó, lại đi tìm. Sắc sắc không không là vậy.

Tôi đi, đi để đi tìm/ khúc ru buốt lạnh vô ngần/ rớt thành dấu hỏi có cần niềm tin?”

Với bài “Chắt tinh túy”, Lê Viết Hòa chọn những cảm giác để dắt dưa câu thơ lục bát đi theo một cách trữ tình: Chống chếnh, thày lay, lần khần, long đong, bồi hồi, bần thần, ngả nghiêng; bóc tách lớp vỏ ngôn từ, hành vi, nâng tầm bình thế sự, tình đời.

Lê Viết Hòa thường dùng thi ảnh liên quan đến hoa sen, một biểu tượng của Phật giáo. Hoa sen hồng thay lời tựa, cánh sen trên tay ở trang bìa và những mật ngữ cũng như lời lẽ khiêm cung, lắm khi quá đỗi dịu dàng.

Nhập tâm vào thiền, nương vào thiền với hữu duyên sẽ thấy cái đặc biệt, ""cái nhìn sâu sắc vào bản chất thực sự của thực tại" và có được cái tâm tĩnh lặng. Nuôi dưỡng, lan tỏa những rung động yêu thương, mong những điều tốt đẹp đến với con người, mong con người sống trong an lạc và hạnh phúc.

Trong bóng người đi với kiếp nhân sinh, muốn xả muốn buông gánh nặng một mình đa mang, bất chợt nhận ra:

Thơm sen ngó vậy đã tàn/ còn thương mắt biếc mây ngàn tuổi xanh/ nắng mưa rớt xuống đầu gành/ sen hồng cuối bãi giăng mành khói sương/ đi qua mấy cuộc thăng trầm/ câu thơ trầy xước lặng thầm mà thương” (Lặng thầm mà thương)

Lắng hồn nghe lời kinh, tĩnh tâm những phút thiền định để lặng lẽ khơi dậy bản tâm lương thiện, dâng lên lòng vị tha trong mỗi con người.

Ân tình giữ lại nơi đây/ thương đêm trăn trở thương ngày trở trăn/ Bước đi trong cõi nhân gian/ Có không không có mang mang tội tình” (Nghe kinh cầu nguyện)

Trong nhắm mắt nhìn thấu cõi người, bước trên hành trình vô lượng, Lê Viết Hòa nhặt nắng, rồi nhặt chữ, kiếm chữ trong thiền.

“Rằng an nhiên cũng tự tâm/ đêm ba mươi nhớ trăng rằm soi đêm/ chắt chiu kiếm chữ trong thiền/ biết yêu thương thấy một miền thương yêu” (An nhiên)

Gạn được từ trong câu chữ đổi lấy tâm thế như nhiên, cũng tự tâm mà thành, dù đôi khi bất ngờ sự mất còn vô lượng, nhưng đóa sen hồng đã nở:

Mây mây mây trắng ngút ngàn/ từ em miên viễn tụ tan vô thường/ ta về lưu ký mùi hương/ tịnh tâm kiếm chữ dọc đường nhân sinh” (Sen hồng tịnh tâm)

Không gian thơ của Lê Viết Hòa đa số là thành Huế, dòng Hương, núi Ngự. Nhưng Huế hiện lên bảng lảng, có lúc mơ hồ, kể cả vườn hay phố đều nhuốm màu ảo ảnh:

Phố xưa sương khói miệt mài/ cuộn vào chiếc lá một mai hư gầy

Cả những ám thị từ tuổi thơ đeo đẳng đời người, mượn lời kẻ điên kể về những cột mốc trên hành trình văn chương, rồi tự mình đúc kết:

Biển đời có cũng là không/ chảy qua đời tôi một dòng sông thương/ từ bùn sen tỏa ngát hương/ lắng nghe hồn trải con đường thiền tâm” (Lời của kẻ điên)

               Trong tập thơ này, tác giả có những tìm tòi, câu thơ, ý thơ khá đắt:

“Ta đi gần cuối đoạn đời/ gọi hoàng hôn hắt tứ thời sau lưng”

“Nhón chút nắng thả môi em/ thấy khao khát một góc đêm vỡ òa”

“Đốt ngọn lửa gặp cơn mưa/ hanh hao buổi ấy có vừa trăm năm”

“Có con bướm hóa hồng sen/ giấc mơ vỗ cánh ngút ngàn trùng khơi”

Cũng cần nói thêm rằng, giá tác giả chịu khó chắt lọc hơn nữa, làm mới hơn nữa, tập thơ sẽ còn hay hơn. Nhưng đến giờ đã có thể nói chúc mừng anh đã hình thành thi phẩm, đưa những trang thơ bước ra đời, như một tâm nguyện đẹp.

“Cũng là một kiếp tằm tơ/ nhả cho đời những ước mơ chân tình”.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm